4 tháng 4, 2016

PV THANH NIÊN NHẬN BẰNG KHEN CỦA TỔNG CỤC CHÍNH TRỊ QĐNDVN

Thanh Niên - Sáng 19.2.2016, tại Hà Nội, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân VN (TCCT) đã tổ chức cuộc gặp mặt các cơ quan báo chí nhân dịp đầu xuân Bính Thân.

Tại cuộc gặp mặt, trung tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó chủ nhiệm TCCT, cho biết trong năm 2015, cơ quan quản lý báo chí trong quân đội đã chủ động phối hợp cung cấp thông tin, tạo điều kiện giới thiệu cho hơn 1.000 lượt phóng viên báo chí trong nước, quốc tế đến các đơn vị quân đội thu thập thông tin, tuyên truyền có hiệu quả về các hoạt động quân sự, quốc phòng, đối ngoại quốc phòng...

Tham dự sự kiện, Thứ trưởng Bộ TT-TT Trương Minh Tuấn đánh giá cao những hoạt động tích cực của báo chí trong năm 2015 về tuyên truyền quốc phòng.

Nhân dịp này, TCCT đã tặng bằng khen cho 25 phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí T.Ư và các bộ, ngành, địa phương, trong đó có phóng viên Mai Thanh Hải của Báo Thanh Niên đã có thành tích xuất sắc trong tuyên truyền về hoạt động quân sự, quốc phòng và đối ngoại quốc phòng năm 2015.

Trường Sơn

(Nguồn:http://thanhnien.vn/thoi-su/phong-vien-bao-thanh-nien-nhan-bang-khen-ve-thanh-tich-tuyen-truyen-hoat-dong-quoc-phong-669163.html )

CUỘC HỘI NGỘ SAU 37 NĂM

Cô bé ngày nào giờ đã 40 tuổi, ôm choàng người phụ nữ 58 tuổi nằm trên giường, nức nở: “Mẹ ơi!”. Cô bộ đội 21 tuổi của 37 năm về trước cũng giàn giụa nước mắt: “Bé ơi! Con lớn thế này rồi ư?”, khiến những người dân xóm Núi Chùa (xã Hanh Cù, Thanh Ba, Phú Thọ) cùng bật khóc theo.

Mong ước tưởng chừng vô vọng.

Đầu tháng 2.1979, ông Trần Mạnh Thường (nay đã 80 tuổi) là cán bộ của Phòng Nhiếp ảnh, Nhà xuất bản Văn hóa được cử lên công tác Cao Bằng. Rạng sáng 17.2.1979, khi đang ở Tà Lùng, lính Trung Quốc ào ạt tấn công, ông Thường phải rút về tuyến sau.

Ròng rã chạy giặc, sáng 24.2.1979 đến cầu Tài Hồ Sìn (Hòa An, Cao Bằng), ông Thường gặp một tốp bộ đội đang cứu chữa một người phụ nữ máu me đầy người, bất tỉnh như đã chết và một cô bộ đội khoác súng AK đang ôm một bé gái. Vội vã hỏi thăm mới biết hai mẹ con bị lính Trung Quốc bắn, được bộ đội cứu và cõng ra đây suốt 1 ngày đêm. Cô bộ đội đã bế em bé từ rừng và đang chờ đưa hai mẹ con lên xe vận tải…

“Tôi chỉ kịp chụp tấm hình cô bộ đội bế đứa bé, không kịp hỏi tên”, ông Thường nhớ lại và kể tiếp: Cứ tưởng bà mẹ đã chết, nên tôi gửi tấm hình cho Báo Quân đội Nhân dân đăng cuối tháng 2.1979, với chú thích: “Mẹ của em bé? Không phải. Mẹ của em bị quân Trung Quốc xâm lược giết hại tại ngã ba Khâu Đồn ngày 24.2.1979 và đây là cô bộ đội đã cứu em!”…

Mẩu báo đăng hình cô bộ đội bế em bé, được bà Hoàng Thị Minh (ở Hòa An, Cao Bằng) lưu giữ trong túi xách giấy tờ gia đình với tâm nguyện: “Sẽ tìm cho được cô bộ đội đã cứu cháu mình” và anh Bùi Quốc Tuấn (ở Đồng Xuân, Thanh Ba, Phú Thọ) dán lên cột nhà với niềm tự hào: “Chị gái mình kiên cường chiến đấu đánh giặc, cứu dân!”.

Từ câu chuyện của ông Trần Mạnh Thường, cuối tháng 1.2014, nhóm PV Báo Thanh Niên lên Cao Bằng dò tìm 2 nhân vật. Gần 1 tuần, chúng tôi mới có thông tin về em bé trong ảnh.

Vừa thấy tấm hình, chị Hoàng Thị Thu Hiền (40 tuổi, cán bộ UBND xã Hoàng Tung, Hòa An, Cao Bằng) giật mình đưa ra mẩu báo in hình cô bộ đội bế em bé, nghẹn ngào: “Tôi đấy! Lúc đó mới gần 3 tuổi và gia đình cất giữ mẩu báo, mong gặp lại cô bộ đội!”, chị Hiền nói vậy và đau đáu: “Gia đình đã tìm được 2 trong số những người lính đã cứu mẹ con tôi. Đó là chú Thành (quê Đoan Hùng, Phú Thọ là trung đội trưởng trinh sát) và chú Lê Văn Thích (quê Chiêm Hóa, Tuyên Quang, y tá), nhưng cô bộ đội thì chịu”.

“Gia đình có hỏi 2 anh về cô bộ đội, nhưng không có thông tin, bởi vì đi cùng nhau nhưng không được nói chuyện do sợ lính Trung Quốc phát hiện. Về đến trạm phẫu, cô ấy trao bé cho y tá rồi quay trở lại tuyến trên ngay”, bà Hoàng Thị Minh, cô ruột của Hoàng Thị Thu Hiền, nói vậy và chặn nước mắt: “Nếu không có cô ấy, chắc gì con Hiền sống đến hôm nay”.

Làm mẹ một ngày đêm

Sau gần 3 năm tìm kiếm, mãi đến cuối tháng 2.2016, chúng tôi mới có thông tin về cô bộ đội và về xã Hanh Cù (Thanh Ba, Phú Thọ) tìm gặp. Vừa nhìn khuôn mặt người đàn bà nhỏ thó, nằm liệt trên giường, cả nhóm đã giật mình bởi khuôn mặt giống y tạc cô bộ đội 37 năm trước. Nhìn bức hình, người đàn bà cũng ngỡ ngàng: “Sao các anh biết?” và ứa nước mắt: “Tôi luôn nhớ đến em bé ấy. Nó rất ngoan và rất hiền”.

Gần 25 triệu đồng giúp đỡ “cô bộ đội”
Trong buổi gặp gỡ lịch sử sáng qua, đại diện Báo Thanh Niên đã trao số tiền 24,5 triệu đồng góp nhanh hỗ trợ bà Bùi Thị Mùi. Trong đó, gia đình ông Võ Hồng Nam và Mạc Thị Thu Hường (con trai và con dâu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp) ủng hộ 5 triệu đồng, gia đình bà Trịnh Kim Oanh (Q.Thủ Đức, TP.HCM) 5 triệu đồng; đặc biệt, khi biết hoàn cảnh của cựu chiến binh Bùi Thị Mùi đang gặp khó khăn, đại úy Nguyễn Xuân Thắng, thuyền trưởng tàu Trường Sa 22 (Hải đội 411, Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân), đang làm nhiệm vụ ngoài Trường Sa cũng gửi tặng 1 triệu đồng; số còn lại là của Báo Thanh Niên, bạn đọc và PV các báo, đài.

Tháng 11.1976, Bùi Thị Mùi tình nguyện nhập ngũ khi vừa tròn 18 tuổi và tháng 2.1979, cô về nhận nhiệm vụ tại đại đội 3, Tiểu đoàn 19 vận tải, trực thuộc Sư đoàn 346, Quân khu 1.

“Sáng 17.2.1979, lính Trung Quốc tấn công vào sư đoàn bộ đang đóng quân tại Nam Tuấn (Hòa An, Cao Bằng), chúng tôi bám từng mỏm đá, góc rừng đánh trả chúng. Khi bị bao vây và tổn thất nặng, cấp trên ra lệnh cho các đơn vị tự rút lui”, bà Mùi nhớ lại và ứa nước mắt: “Tiểu đội nữ vận tải chôn vội mấy đồng chí hy sinh và chia nhau những viên đạn cuối cùng, cắt đường rừng tìm về phía không có tiếng súng. Đến sáng, chị em lạc nhau và tôi ôm khẩu AK đi cùng bảo vệ người dân sơ tán”.

Bà Mùi kể, sáng 23.2.1979, khi đến đường mòn gần Bản Tấn, bà được gọi lại, giao bảo vệ một bé gái đi cùng tốp trinh sát đưa bà mẹ bị thương về phía sau. Cả tốp 6 người luồn rừng qua xã Bình Dương (Hòa An).

“Mấy ngày không có gì vào bụng, ai cũng kiệt sức, nhưng cứ bấm lưng nhau động viên cố gắng cứu 2 mẹ con. Tôi bế em bé, nó hình như cũng biết nguy hiểm nên không dám khóc. Mỗi khi bé cựa quậy, tôi lại phải ủ vào ngực”, bà Mùi nhớ lại.

Sáng ngày 24.2.1979, cả tốp chiến sĩ đưa mẹ con đến cầu Tài Hồ Sìn (Hòa An, Cao Bằng) và đưa lên xe tải chuyển thương binh về bệnh xá tiền phương cách đó khoảng 30 km. “Khoảng 4 giờ chiều tới trạm phẫu. Tôi nhảy xuống xe, trao em bé cho y tá để quay lại biên giới. Đứa bé rời khỏi tay tôi cứ khóc thét và vươn cả 2 tay đòi theo. Tôi cũng muốn ở lại với bé một đêm, nhưng tôi là bộ đội và vẫn đang khoác súng, phải quay lại chiến đấu”, bà bật khóc.

Tháng 12.1979, bà Mùi xuất ngũ về địa phương và năm 1981 nên vợ chồng với ông Nguyễn Thanh Long. Hiện hai vợ chồng vẫn không có con. Tháng 3.2015 vừa qua, trong lúc vào rừng lấy củi, bà Mùi bị cây đổ đè qua người gây đa chấn thương, phải xuống Việt Trì (Phú Thọ) và Bệnh viện Việt - Đức (Hà Nội) chữa trị, mới thoát chết. Hiện bà nằm liệt ở nhà, mọi sinh hoạt cá nhân, đều do ông Long lo toan.

Mẹ đã có con!

5 giờ ngày 28.2.2016, chúng tôi cùng chị Hoàng Thị Thu Hiền lên đường về Phú Thọ. “Không biết cô có nhận ra em không? Gần 40 năm rồi”, chị Hiền run run. Bước qua khung cửa hẹp của căn nhà cấp 4 nằm dưới tán cây mít, chị sững người nhìn bà Mùi đang nằm nhỏ thó trên giường và rồi tiếng khóc vỡ òa...

“Mẹ ơi!”, chị nức nở úp mặt vào ngực bà Mùi. “Bé ơi! Con lớn thế này rồi à?”, nước mắt chảy tràn trên khuôn mặt nhăn nheo của bà Mùi. Những người dân xóm Núi Chùa đứng đợi ở ngõ từ sáng đến giờ, dồn vào chật kín các khung cửa, cùng im lặng khóc, để nhường cho những câu hỏi - đáp dồn dập trong tiếng nấc: “Mẹ bé đâu rồi?”, “Mẹ con mất cách đây 4 năm rồi”, “Những vết muỗi đốt ngày trước có làm bé sốt rét không?”, “Con không bị sao, con khỏe mà”…

Gần 1 ngày ở nhà bà Mùi, chị Hiền cứ ngồi lỳ bên mép giường nói chuyện, bóp tay cho bà và rủ rỉ: “Hôm nào mẹ khỏe, con đưa mẹ lên nhà con chơi nhé”, khiến đôi mắt bà Mùi sáng rực, hào hứng nhắc lại những địa danh Cao Bằng mà bà đã từng đi qua 37 năm trước...

Năm 1979, ông Hoàng Quang Thái và bà Hoàng Thị Phiến công tác ở mỏ thiếc Tĩnh Túc, gửi 2 con gái cho ông bà nội ở thôn Ngọc Quyến (nay là xóm 3, Ngọc Quyến, Hưng Đạo, TP.Cao Bằng) trông nom. Giữa tháng 2.1979, bà Phiến nghỉ phép về thăm 2 con gái và ngày 16.2.1979, bà đạp xe chở bé Hiền về thăm ngoại ở xã Đức Long (Hòa An, Cao Bằng). Sáng 17.2, lính Trung Quốc ào ạt tấn công Cao Bằng, bà Phiến vội vàng chở Hiền về lại nhà ông bà nội đón con gái lớn để đi sơ tán. Đến Cầu Khanh (xã Bế Triều, H.Hòa An), nghe tin xe tăng đã vào đến thị trấn Nước Hai (Hòa An), bà Phiến bế con chạy vào xóm Nà Sa (Bế Triều, Hòa An) lánh nạn và hôm sau cùng một số hộ dân Nà Sa luồn rừng chạy xuống Cao Bình (xã Hưng Đạo, TX.Cao Bằng).
Tối 21.2.1979, mẹ con bà Phiến di chuyển qua Hoàng Tung ra ngã ba Bản Tấn, hướng sang xã Bình Dương, dự định đi tắt qua rừng để về khu vực Tài Hồ Sìn. Trên đường đi, đoàn sơ tán bị lính Trung Quốc xả súng bắn và bà bị thương ở đùi, 2 mẹ con ngã xuống rãnh nước ven đường mòn trong rừng, gần Bản Tấn. Suốt đêm đó, bà Phiến bất tỉnh và cô bé Hiền gào khóc bên mẹ. Rạng sáng 22.2.1979, tình cờ 1 tổ trinh sát của bộ đội ta đi làm nhiệm vụ ngang qua phát hiện và đưa 2 mẹ con về vị trí trú quân...

Mai Thanh Hải - Độc Lập

(Nguồn: http://thanhnien.vn/thoi-su/cuoc-hoi-ngo-sau-37-nam-672254.html)

CỔ TÍCH 37 NĂM

Từ tấm hình cô bộ đội bế một bé gái vào tháng 2.1979, Báo Thanh Niên đã tìm gặp 2 nhân vật trên để khắc họa lại câu chuyện cổ tích thời chiến tranh. Ngày mai (28.2.2016), cả hai người sẽ gặp mặt nhau sau 37 năm.

Tấm hình chụp vội

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Mạnh Thường (80 tuổi, hiện đang nghỉ hưu ở quận Thanh Xuân, TP. Hà Nội) nhớ lại: đầu tháng 2.1979 ông là cán bộ của Phòng Nhiếp ảnh, Nhà Xuất bản Văn hóa thuộc Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) được cử đi tăng cường cho biên giới Cao Bằng làm nhiệm vụ chụp hình tư liệu.

Rạng sáng 17.2.1979, bộ binh và xe tăng Trung Quốc ào ạt tấn công vào cửa khẩu Tà Lùng (Phục Hòa, Cao Bằng) đúng lúc ông Thường đang công tác tại đó và đến buổi trưa 17.2.1979, ông phải rút về tuyến sau cùng 2 chiến sĩ công an.
 
Sáng 24.2.1979, khi đang cùng những người dân tản cư chạy về phía sau, đến bên kia cầu Tài Hồ Sìn, ông Thường thấy 2 chiếc xe Gat69 đỗ bên đường, cạnh đó là tốp khoảng 3-4 anh bộ đội đang xúm quanh 1 người phụ nữ máu me bê bết đầy người, nằm bất tỉnh như đã chết và 1 cô bộ đội khoác súng AK đang ôm nựng em bé gái chừng 2-3 tuổi, khóc khản đặc.

Do đang chạy giặc, nên ông Thường chỉ có vài phút hỏi thông tin: 2 mẹ con bị đạn Trung Quốc bắn, được đơn vị trinh sát của bộ đội ta gặp trong rừng và đưa ra cầu Tài Hồ Sìn trong suốt 1 ngày đêm để chuyển về tuyến sau. Cô bộ đội là người đã bế em bé từ chỗ bị nạn ra và đang chờ đưa 2 mẹ con lên xe vận tải.

“Tôi chỉ kịp chụp tấm hình cô bộ đội bế đứa bé và nhanh chóng rời khỏi khu vực, không để thám báo Trung Quốc gọi pháo bắn tiêu diệt!” – Ông Trần Mạnh Thường nhớ lại vậy.

Tấm hình cô bộ đội bế đứa bé của tác giả Trần Mạnh Thường, ngay sau đó đã được đăng trên Báo Quân Đội Nhân Dân, thời điểm cuối tháng 2.1979, với lời chú thích ngắn gọn: “Mẹ của em bé? Không phải. Mẹ của em bị quân Trung Quốc xâm lược giết hại tại ngã ba Khâu Đồn ngày 24.2.1979 và đây là cô bộ đội đã cứu em!”…

Ký ức cô bé Cao Bằng
 
Tháng 2.2014, chúng tôi lên Cao Bằng tìm tung tích của cô bộ đội, em bé theo những ký ức lờ mờ của nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Mạnh Thường và thông tin thời gian, địa điểm về các đơn vị có nữ quân nhân tham gia chiến đấu của các cựu binh biên giới.

Gần 1 tuần, chúng tôi có được thông tin về em bé năm xưa và tìm đến gia đình. Vừa nhìn thấy tấm hình, người phụ nữ đã giật mình: “Đó là tôi ngày xưa!” và mở tủ lật tìm mẩu báo cũ ố vàng, cũng in hình cô bộ đội bế em bé, đưa ra so với tấm hình chúng tôi lấy từ ông Thường.

“Hồi ấy tôi mới gần 3 tuổi, nghe bố mẹ kể lại là được cô bộ đội cứu và mẩu báo này, được gia đình cất giữ bao nhiêu năm qua, hòng mong gặp lại cô bộ đội!” – Cô bé năm xưa tên Hoàng Thị Thu Hiền, 40 tuổi, hiện đang là cán bộ của UBND xã Hoàng Tung, huyện Hòa An, Cao Bằng nghẹn ngào vậy.

Từ chị Hiền, chúng tôi tìm lại ký ức của 37 năm trước: năm 1979, bố mẹ chị là ông Hoàng Quang Thái và bà Hoàng Thị Phiến cùng công tác ở mỏ thiếc Tĩnh Túc (huyện Nguyên Bình, Cao Bằng), nên gửi 2 chị em Hiền cho ông bà nội ở thôn Ngọc Quyến (nay là xóm 3, Ngọc Quyến, Hưng Đạo, TP.Cao Bằng) trông nom.

Giữa tháng 2.1979, bà Phiến nghỉ phép về thăm 2 con gái và ngày 16.2.1979, bà đạp xe chở Hiền về thăm quê ngoại ở xã Đức Long (Hòa An, Cao Bằng).

Sáng ngày 17.2, khi ông ngoại của Hiền đi mua thực phẩm thì pháo từ phía Trung Quốc ào ạt nã sang Cao Bằng, mở đường cho xe tăng và bộ binh tràn sang đánh chiếm, đốt phá, giết chóc người dân các bản làng dọc biên giới.

Không kịp ăn sáng, bà Phiến chở con gái hòa vào dòng người chạy giặc, dự định về nhà ông bà nội đón con gái lớn và đi sơ tán cùng gia đình bên nội. Chạy đến khu vực Cầu Khanh (xã Bế Triều, huyện Hòa An), thì nghe tin xe tăng Trung Quốc đã vào đến thị trấn Nước Hai (Hòa An), bà bế con chạy vào xóm Nà Sa (Bế Triều, Hòa An) lánh nạn.

Trước sự tấn công ào ạt của lính Trung Quốc, ngày hôm sau, mẹ con bà Phiến lại luồn rừng cùng một số hộ dân Nà Sa chạy xuống Cao Bình (xã Hưng Đạo, thị xã Cao Bằng).

Tối ngày 21.2.1979, mẹ con bà Phiến cùng người dân Cao Bình di chuyển qua Hoàng Tung, hướng ra ngã ba Bản Tấn, hướng sang xã Bình Dương, dự định đi tắt qua rừng, tránh các điểm đã bị Trung Quốc chiếm đóng để về khu vực Tài Hồ Sìn, thoát về phía sau. Tuy nhiên, trên đường đi, đoàn sơ tán của bà bị lính Trung Quốc phát hiện xả súng bắn và bà bị thương vào đùi, 2 mẹ con ngã xuống rãnh nước ven đường mòn trong rừng, gần ngã ba Bản Tấn.

Suốt đêm đó, bà Phiến bất tỉnh và cô bé Hiền gào khóc bên mẹ đến khản đặc. Rạng sáng 22.2.1979, tình cờ 1 tổ trinh sát của bộ đội ta đi làm nhiệm vụ ngang qua, nghe thấy tiếng trẻ con khóc nên chia nhau kiếm tìm và phát hiện thấy. Trung đội trưởng trinh sát tên là Thành (quê Đoan Hùng, Phú Thọ) trực tiếp cõng bà Phiến về vị trí trú quân và Y tá Lê Văn Thích (quê Chiêm Hóa, Tuyên Quang) là người sơ cứu vết thương cho bà Phiến, tạm thời chăm sóc cho em bé Hiền.

Sau 1 ngày chờ đợi không thấy tăng viện, Trung đội trưởng Thành đành huy động 1 số chiến sĩ (của các đơn vị chiến đấu tuyến trên, phải rút về phía sau) đưa 2 mẹ con bà Phiến về tuyến sau và cô bộ đội cũng được giao bế em bé, ngay khi vừa đặt chân đến khu vực Bản Tấn.

Cô bộ đội và 1 ngày đêm làm mẹ
 
Cô bộ đội trong ảnh tên Bùi Thị Mùi (58 tuổi, quê ở xã Đồng Xuân, huyện Thanh Ba, Phú Thọ), nhập ngũ tháng 11.1976, khi vừa tròn 18 tuổi. Tháng 2.1979, cô Mùi là chiến sĩ thuộc đại đội 3, tiểu đoàn 19 vận tải, trực thuộc sư đoàn 346, Quân khu 1.

Rạng sáng 17.2.1979, lính Trung Quốc ào ạt tấn công sang Cao Bằng và chỉ trong vài ngày đã tấn công vào sư đoàn bộ đang đóng quân tại Nam Tuấn (Hòa An, Cao Bằng), khiến các cán bộ chiến sĩ, từ nuôi quân cho đến quân y, hậu cần đều phải cầm chừng chiến đấu với quân Trung Quốc xâm lược.
“Cuộc chiến đấu khốc liệt, dai dẳng và cả sư đoàn bộ bị bao vây nên sư đoàn trưởng lúc ấy là Hoàng Biền Sơn phải ra lệnh cho các đơn vị tùy nghi rút lui để bảo toàn lực lượng!” – bà Mùi kể vậy và lắc đầu: “Đơn vị hy sinh từ Tiểu đoàn phó, quân nhu, y tá, lái xe nên nghe lệnh vậy, mọi người chỉ kịp mang theo súng đạn, cắt đường rừng về phía sau không có tiếng súng. Tôi ném hết lựu đạn, ôm khẩu AK còn băng đạn cuối cùng rút cùng trung đội, nhưng đến rạng sáng thì lạc nhau hết. Lúc ấy cả dân và bộ đội cùng rút, nên hỗn loạn và nguy hiểm vô cùng!”…

Sáng 23.2.1979, khi đến đường mòn khu vực Bản Tấn, bà Mùi gặp một tốp 5 chiến sĩ đang loay hoay bên 2 mẹ con người dân bị thương rất nặng, máu đầm đìa khắp người. Thấy bà tới, người chỉ huy đưa ngay cô bé chừng 2-3 tuổi đang ngất lịm và yêu cầu bế đứa bé, đi cùng cả tốp đưa 2 mẹ con về trạm phẫu phía sau cầu Tài Hồ Sìn.

“6 anh em chúng tôi luồn rừng qua xã Bình Dương (Hòa An), theo đội hình chiến đấu, mỗi người cách nhau 5 mét và không được ho hắng, nói to bởi phải luồn qua các điểm chốt giữ của lính Trung Quốc!” – Bà Mùi trầm giọng, rồi rơm rớm nước mắt: “Các anh ấy thay nhau người cõng bà mẹ, người chong súng bảo vệ, còn tôi thì bế đứa bé. Bé ngoan lắm, hình như cũng biết đang ở nơi nguy hiểm nên không dám khóc. Mỗi khi bé cựa quậy, tôi lại phải ủ vào ngực để bé nín. Lúc ấy chạy giặc nên chẳng có gì ăn, dọc đường cả tốp nhặt được mấy phong lương khô của bọn Trung Quốc đánh rơi, tôi đói lắm nhưng không dám ăn, cứ bóp mềm trong tay và đút cho bé, cùng với nước dưới suối để nó đỡ đói!”…

Sáng ngày 24.2.1979, cả tốp chiến sĩ đưa mẹ con đến cầu Tài Hồ Sìn (Hòa An, Cao Bằng), đúng lúc có 2 chiếc xe Gat69 đang chờ nhận thương binh chuyển về bệnh xá tiền phương cách đó khoảng 30km. Ngay lập tức, bà Phiến được đưa lên chiếc Gat có mui chở thương binh nặng, cô Mùi bế bé Hiền ngồi lên xe chở thương binh nhẹ về tuyến sau.

“Khoảng 4 giờ chiều tới trạm phẫu. Tôi nhảy xuống xe, trao em bé cho các y tá đang chờ sẵn để quay lên biên giới tìm về đơn vị. Đứa bé rời khỏi tay tôi, tự dung khóc thét và cứ vươn cả 2 tay đòi theo. Tôi cũng muốn ở lại với bé một đêm lắm, nhưng tôi là bộ đội và vẫn đang khoác súng, phải quay lại để chiến đấu!” – bà Mùi bật khóc và lẩn mẩn: “Ngồi trên xe, gió lạnh quá tôi lấy mũ mềm đội cho bé nhưng bay mất. Khi trao đứa bé, tôi lấy mảnh vải dù quấn cổ nó cho đỡ bị lạnh. Chẳng biết giờ nó còn giữ không?”…

Tháng 12.1979 bà Mùi xuất ngũ về địa phương làm công tác kế toán tại UBND xã Đồng Xuân (Thanh Ba, Phú Thọ) và năm 1981 cưới ông Nguyễn Thanh Long (sinh năm 1954). Tròn 35 năm là vợ chồng nhưng ông bà vẫn không có con.

Tháng 3.2015 vừa qua, trong lúc vào rừng lấy củi, bà Mùi bị cây đổ đè qua người gây đa chấn thương, phải xuống Việt Trì (Phú Thọ) và Bệnh viện Việt – Đức (Hà Nội) chữa trị, mới qua khỏi. Hiện bà phải nằm liệt ở nhà và mọi việ sinh hoạt cá nhân, đều 1 tay ông Long lo toan.

“Tôi năm nay 58 tuổi, không có con. Nhưng ít nhất tôi cũng được làm mẹ suốt 1 ngày đêm, trong những ngày lửa đạn tháng 2.1979. Không biết đứa con tôi nuôi 1 ngày đêm hồi ấy, giờ khôn lớn thế nào!” – bà Mùi ứa nước mắt, trong chiều trung du, cuối tháng 2.2016…

Mong ước gặp nhau của cô bộ đội Bùi Thị Mùi và em bé Hoàng Thị Thu Hiền trong tấm hình của nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Mạnh Thường cách đây 37 năm, sẽ được Báo Thanh Niên tổ chức tại nơi bà Mùi đang sống ở huyện Thanh Ba (Phú Thọ).
Dự kiến sáng mai (28.2.2016), chị Hiền sẽ có mặt tại Hà Nội và được Báo Thanh Niên đưa về gia đình bà Mùi gặp gỡ - thăm hỏi. Cũng dịp này, bạn đọc Báo Thanh Niên đã ủng hộ, giúp đỡ bà Mùi một số tiền để giúp chữa trị bệnh tật. Thông tin về cuộc gặp gỡ sau 37 năm, sẽ được đăng tải trên số báo ngày thứ hai (29.2.2016).

Mai Thanh Hải
Nguồn: http://thanhnien.vn/thoi-su/co-bo-doi-va-be-gai-duoc-cuu-nong-long-gap-nhau-sau-37-nam-671836.html

11 tháng 2, 2014

TÌM CÔ BỘ ĐỘI TRONG ẢNH, 35 NĂM TRƯỚC


Mai Thanh Hải - Giữa những ngày tháng 2/1979 mịt mù khói lửa, khoảng trong mấy ngày từ 21 đến 24/2/1979, tại khu vực huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng (ngã ba Bản Tấn/ Tuấn/ Tuẩn hoặc ngã ba Khâu Đồn), thấy 1 bé gái gào khóc bên người mẹ trúng đạn giặc toàn thân bê bết máu, nằm bất tỉnh ven đường, chị và các đồng đội đi trên xe tải ngang qua đã dừng lại, đưa cả 2 mẹ con lên xe, ra khỏi vùng chiến sự, cứu sống cháu bé.

Chính chị đã ôm ấp che chở và chăm sóc em bé suốt dọc đường.

Khoảnh khắc cứu dân của chị, đã được tình cờ ghi lại trong ống kính của một "nhà báo nghiệp dư" (năm nay đã 80 tuổi), cũng trên đường chạy giặc, ngang qua.

Chúng tôi: Từ tấm hình hiếm hoi 35 năm trước, đã tìm thấy đứa trẻ nay đã khôn lớn và đứa trẻ khao khát tìm lại ân nhân của mình, để nói lời cảm tạ.
Chúng tôi: Cùng với đứa trẻ hồi ấy cũng muốn tìm lại chị để nói lời tri ân với tấm lòng của những người lính và mong làm cầu nối cho 2 người gặp lại sau 35 năm.

Chị là ai trong những đoàn quân bảo vệ Cao Bằng ngày ấy (Sư đoàn 346, Quân khu 1; Trung đoàn 567, Tỉnh đội Cao Bằng; Kho T1, Cục Hậu cần; Trung đoàn 134, BTL Thông tin...), hay chỉ là 1 cô bộ đội về phép - đi công tác, tình cờ có trên xe và thực hiện nghĩa cử của của người lính Việt Nam?..
Chị trong đội hình 300 cô gái Hà Bắc nhập ngũ tháng 8/1978, hay thế hệ A trưởng nhập ngũ 1976, có mặt ở Tiểu đoàn Huấn luyện của Sư đoàn 346?.

Chị quê Bắc Ninh, Bắc Giang (Hà Bắc cũ) hay Thái Nguyên, Bắc Cạn (Bắc Thái cũ) hay Vĩnh Phúc, Phú Thọ (Vĩnh Phú cũ) hay ở miền quê nào đó?.

Chị vẫn còn sống trong Nam ngoài Bắc, trong và ngoài nước?. Hay chị đã ngã xuống?..

ĐÃ 10 NGÀY NAY, CHÚNG TÔI TÌM CHỊ, KHẮP CÁC VÙNG MIỀN
  
Xin chị liên hệ với tôi: Mai Thanh Hải.
SĐT: 0989066681;
Email: thanhhai2006@gmail.com.
Xin mọi người xem tấm hình này, nhận ra người thân quen, cũng liên hệ - cung cấp thông tin, giúp để chúng tôi tìm đến chị, kết nối 2 người yêu thương, sau 35 năm xa cách...

Nghìn lần đa tạ mọi sự giúp đỡ thông tin - kết nối...

4 tháng 2, 2014

VIẾT CHO CON TỪ BIÊN ĐẢO, NGÀY XUÂN!..

TNO - Con gái yêu của Ba!.

Ba đang ở đảo Cô Lin - nơi gọi là đảo chìm, nằm trên rặng san hô xa tít, thăm thẳm nơi biển tiếp giáp với mây trời. Những chú bộ đội đã nằm xuống, cũng chỉ vì cái dải san hô xanh thẳm trước mắt ba bây giờ.

Nhìn trên bản đồ trong google và dù có phóng to đến cỡ nào thì con cũng khó mường tượng ra cái khoảng biển xanh đó. Chắc con sẽ hỏi: “Chỗ đó là gì? Sao chứa chan sự hy sinh?”.

"Chỗ đó" là biển đảo của Tổ quốc mình, con ạ!

Mọi người trong phòng ở của ba trên tàu HQ nói: Sẽ thả xuống lòng biển, đúng chỗ những người lính năm xưa ngã xuống, đủ hết những gì đã dắt trong túi cóc ba lô cõng ra từ trong bờ (điếu thuốc lá, trái ớt xanh, quả chanh thơm, nhành hoa thắm, phong kẹo cao su, lọ thuốc đánh răng…), như thể sẻ chia bao năm tình đồng đội và cũng vì “trần sao, âm vậy”.

Giống như mọi người, Ba sẽ chia đôi những gì gọi là “đồ từ đất liền” mà mọi người đã chuẩn bị riêng cho hải trình dằng dặc, với những đồng đội mình dưới xanh nước và Ba cũng muốn ký thác cả tâm tình, tấm lòng của ba mẹ, của con và em, của ông bà, cùng bao nhiêu người khác nữa ở đất liền, để những người trai trẻ đã nằm xuống đấy không uổng phí, không chạnh lòng.

Có thể, tuổi con chưa hiểu hết được như thế nào là thiêng liêng Tổ quốc!.

Ở khoảnh khác tàn năm cũ, lấp ló bóng xuân mới này, Ba chợt nhận ra mình đã cứ cắm đầu vào nỗi lo cơm áo gạo tiền, nỗi lo làm tròn trách nhiệm, trả nợ trần gian đắm đuối từng bát gạo đồng tiền.

Nhiều lúc, công việc viết lách cuốn hút trong một guồng máy, bao góc cạnh của của sống hiển hiện, ngồn ngộn suốt ngày dài, đêm thâu.

Đến hôm nay, khi đã lênh đênh cả tuần trên biển, quay sang tứ phía đều thấy biển; chợt đêm tỉnh giấc tưởng có con chòi đạp, ba vẫn thấy dáng biển nghiêng nghiêng, như thể con mặc áo xanh, chập chững hòa với trong vắt mây trời, mặn mòi mùi gió, thì thầm vòng tay ôm như biển ôm khít thân tàu HQ.

Và ba càng thấm thía thế nào là Tổ quốc…

Tổ quốc đơn giản là rặng đất liền xanh xanh mà chiến sĩ đảo gọi thân thương là “nhà”; là bình minh đỏ rực trên đảo Song Tử, nơi có cây đèn biển nhẫn nại cả đêm soi con tàu tỏ đường thông lối.

Tổ quốc là màu xanh biển cả, nơi có những con cá chuồn thấy động dưới mạn tàu, bay vút lên đầu ngọn sóng như thể mơ ước bay cao, bay xa cùng cánh hải âu bàng bạc.

Tổ quốc là lá cờ đỏ sao vàng treo trên cột cao tít nóc buồng lái con tàu, khi mới rời cảng còn đỏ bừng tươi mới, dẫu nhiều ngày giằng giữ cùng gió biển, vẫn kiêu hãnh, trung trinh.

Tổ quốc là những hòn đảo nhỏ, nơi có màu xanh cây phong ba, cây bàng vuông, cây tra biển trổ hoa trắng tinh, tỏa màu hương ngan ngát giữa vùng biển xa ràn rạt nắng, ập ào gió cũng phải dịu lại, nhẹ nhàng cùng.

Riêng hơn nữa, Tổ quốc hiện hữu nơi góc phố Hà Nội, nơi Ba thường ngồi đánh vật với câu chữ đến đêm khuya, nơi có hai mặt trời nhỏ là con và em Khoai say nồng trong giấc ngủ...

Tổ quốc gần gũi và thân thương, như thể những người gần nhất, cạnh bên nhất và bình dị nhất và không thể thiếu được, ở ngay chính bên mình, trong chính ngôi nhà mình con ạ!..

Và hơn cả bao giờ, ngay lúc đứng giữa Trường Sa lộng gió, hô lời thề của những người lính giữ biển dưới phần phật tung bay cờ đỏ sao vàng, Ba càng khao khát, khao khát hơn bao giờ hết: các con sẽ học tốt hơn, rèn luyện giỏi giang hơn để ba mẹ không tủi hổ, để những người trẻ đất Việt không chỉ tự hào về truyền thống cha ông mình mà còn do những điều mình làm được cho đất nước này; cho Tổ quốc này và cho vùng biển đảo thân thương nơi xa tít này.

Con gái yêu của Ba nhé!..

 Mai Thanh Hải.
(Gửi về từ Quần đảo Trường Sa)

17 tháng 1, 2014

CỜ TỔ QUỐC TRÊN BIỂN ĐÔNG

TNO - Trước khi nhổ neo làm nhiệm vụ ngoài biển, các tàu Hải quân VN đều nhận thêm cơ số cờ Tổ quốc để đảm bảo màu đỏ sao vàng liên tục hiện diện trên nóc đài chỉ huy, khẳng định chủ quyền lãnh thổ.

Vào mùa biển động cuối năm, cơ số cờ cấp phát cho các tàu làm nhiệm vụ tăng lên gấp đôi, bởi sóng to gió lớn thường làm rách, hư hỏng cờ Tổ quốc và nhiệm vụ thay cờ cũng thường xuyên hơn.

Ý chí giữa biển trời

Vài tiếng trước khi tàu xuất phát, cả ba tàu (HQ-571, HQ-936, HQ-996) của Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân tại Quân cảng Cam Ranh đều đồng loạt thay mới cờ Tổ quốc. Tất cả được buộc chắc chắn bằng 2 đầu dây thép nhỏ, kẹp trên đầu dây treo cờ.

Thượng úy Nguyễn Ngọc Viễn, Phó thuyền trưởng Quân sự tàu HQ-571 (Hải đội 411, Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân), nói với tôi: “Chuyến thay thu quân và chuyển hàng Tết rất dài ngày nên phải chuẩn bị hàng chục lá cờ, rách là phải thay ngay!”.

Cứ nghĩ: “Phòng xa thế thôi, chứ đâu đến nỗi thay cờ như… thay áo?”, nhưng quả thực ngay khi tàu ra khỏi vịnh Cam Ranh, sóng gió biển Đông cấp 4 nâng dần đến cấp 5, rồi cấp 7, cấp 8 khiến cả con tàu phải ngụp lặn giữa những cơn sóng dài, cao cả chục mét.

Ngồi trên buồng chỉ huy cao ngất, thấy rõ độ nghiêng đảo liên tục phải trái của con tàu, có khi đến 30 độ trước sóng. Sóng đi kèm với gió, gió biển nâng cấp, rít ù ù qua khe cửa, làm hệ thống dây thừng nilon to bằng chân cái treo cờ tín hiệu cũng lồng lộn uốn cong. Ngồi đấy và vẫn nghe phần phật tiếng cờ bay trên nóc đài chỉ huy.

Bốn ngày lăn lóc giữa sóng cồn gió cả, tiếng phần phật của cờ đã không còn đanh gọn.

Thuyền phó Nguyễn Ngọc Viễn lo lắng: “Cờ trên nóc đã rách, nhưng gió cấp 9 thế này, không thể trèo nổi lên cột thay cờ, rất nguy hiểm!” và chắc chắn: “Ngày mai vào đến lòng hồ đảo chìm Đá Tây tránh sóng gió nâng cấp, phải khẩn trương thay cờ ngay. Không được để cờ rách trên vùng biển Trường Sa!”.

Lá cờ đã tướp táp, đường may phía ngoài bị bung, xước từng xơ vải và ngôi
sao vàng 5 cánh, tuy bị dứt ra khỏi nền đỏ cờ, nhưng vẫn trung trinh bám đầu cánh…
 
Tôi, cũng đứng nghiêm cùng Thiện nhìn lên lá cờ bay phần phật mùi vải mới, kiêu hùng nở bung trên nền trời ban trưa, tự dưng nắng bừng xanh thẳm.
Nhìn bên cạnh, những người lính đủ tuổi trẻ già của Lữ đoàn 146 làm nhiệm vụ phục vụ Hậu cần cho Đoàn Công tác, dù quần cộc -  áo ba lỗ đang dọn dẹp, cũng dừng tay, đứng nghiêm trang, dưới cái bóng đổ dài của người lính trẻ chưa đủ tuổi 20 lần đầu đi biển.
Tôi gượng níu lan can, dò từng bước giữa nghiêng ngả gió, như muốn giằng tay ném xuống biển, đi về phía sau tàu nhìn lên nóc đài chỉ huy: Lá cờ đã tướp táp, đường may phía ngoài bị bung, xước từng xơ vải và ngôi sao vàng 5 cánh, tuy bị dứt ra khỏi nền đỏ cờ, nhưng vẫn trung trinh bám đầu cánh…

Tự dưng tôi thấy nghẹn nơi ngực: Nơi địa đầu sóng gió, dù tướp táp gian nan, nhưng lá cờ vẫn bền gan chống chọi và kiên trung bay phần phật, như ý chí của dân tộc, của những người lính biển giữ Trường Sa…

Treo cờ Tổ quốc ở Trường Sa

Ngô Minh Thiện (19 tuổi, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, TP.HCM), là chiến sĩ Thông tin-Tín hiệu trên tàu HQ-571.

Tháng 2.1013, đang là sinh viên khoa Sư phạm Anh, Trường ĐH Kỹ thuật TP.HCM, Thiện xin nghỉ học, xung phong thực hiện nghĩa vụ quân sự tại địa phương và được điều về huấn luyện tân binh tại Trung tâm Huấn luyện 456, Vùng 4 Hải quân, chuyên ngành Thông tin-Tín hiệu.

Đến ngày 20.11.2013, Thiện được điều về tàu HQ-571.

Một tuần trước khi thực hiện đợt công tác thay thu quân - chuyển hàng Tết ngoài Trường Sa, mẹ Thiện là chị Võ Thị Út (41 tuổi, đang làm tạp vụ ở Thủ Đức), lật đật đi xe đò, lỉnh kỉnh mang đồ ăn thức uống, ra tận Cam Ranh thăm cậu con trai bởi lo lần đầu đi biển, con không quen sẽ mệt. Ở với con 1 ngày đêm, chị lại tất tưởi ra xe đò về lại nơi làm việc, còm cõi từng đồng lương tạp vụ nuôi cậu con trai thứ hai đang học lớp 8.

Tàu nhổ neo rời bến, ra khỏi vịnh Cam Ranh là chống chọi với các cấp sóng gió tăng dần khiến không chỉ các chiến sĩ mới nhập ngũ lần đầu tiên ra làm nhiệm vụ tại Trường Sa, mà ngay sĩ quan - quân nhân chuyên nghiệp đã có “thâm niên” cả chục năm đi đảo - ở đảo cũng nằm bẹp, suốt 3 - 4 ngày liền. Nhà bếp nấu cháo đưa tận phòng, nhưng rồi cũng lại… mang về, hoặc người ăn nhưng… cá biển hưởng.

Thiện cũng vậy! Vật vã vì say sóng, nằm bẹp ra sàn tàu, nôn mật xanh mật vàng và trong tâm thức cậu con trai mới rời ghế nhà trường lần đầu tiên đi xa, vẫn chỉ có mẹ. Thế nên, khi say quá, cậu còn nấc gọi “Mẹ ơi!”, khiến cán bộ chiến sĩ trên tàu thay nhau cắt cử chăm sóc, động viên suốt 3 - 4 ngày liền.
 
Ấy thế nhưng, khi tàu vào neo tại vùng hồ đảo chìm Đá Tây tránh trú sóng gió, bớt chao đảo - dập dềnh - sang lắc là Thiện gượng dậy, lần vách ngăn xuống bếp giúp Tổ phục vụ, rồi làm các công việc khác. Nghe đồng đội có kinh nghiệm động viên “Đi lại nhiều cho quen, dần sẽ dạn dày”, Thiện càng ham làm và tất tưởi hết tầng dưới lên tầng trên đôn đốc, dọn dẹp vệ sinh hoặc đơn giản là giúp các anh chia việc.

Nghe Thuyền phó Nguyễn Ngọc Viễn nhắc việc thay cờ Tổ quốc, ngay khi dừng lại Đá Tây, Thiện thoăn thoắt thay quân phục, lên buồng chỉ huy nhận cờ, một mực: “Việc của ngành Thông tin, xin để dành cho em!” và đề đạt: “Đời con người, có phải ai cũng được treo cờ Tổ quốc ở Trường Sa?”.

Thiện đút lá cờ mới vào ngực áo yếm Hải quân, lần lan can trèo lên nóc đài chỉ huy và đứng nghiêm dưới chân cột, giơ tay ngang vành mũ chào lá cờ bạc màu, tướp táp trên đỉnh, xong mới gỡ dây kéo xuống.

Nhưng lấn bấn mãi không xong, bởi ròng rọc bên trong kẹt cứng do nước biển, cờ lại quấn mấy vòng vào dây cờ số 2 bên cạnh. Bặm môi vài giây, cậu bỏ mũ dải buộc vào lan can, chui vào ống lồng trèo lên tận đỉnh cột, vươn tay gỡ từng vòng cờ quấn vào dây do gió bão, xong mới vội vã leo xuống, gỡ cờ.

Giữa lồng lộng gió, phải khó khăn lắm và mất gần nửa tiếng đồng hồ, việc gỡ cờ cũ, lồng cờ mới vào dây thừng, buộc chặt 2 đầu bằng dây thép nhỏ mới hoàn thành.

Và... Thiện đứng thẳng người, mắt nhìn cờ, nghiêm trang kéo chầm chậm lá cờ Tổ quốc đỏ thắm vàng tươi sao 5 cánh, lên đỉnh cột cờ thiêng.

Khi đã buộc dây cờ chắc chắn, Thiện lại đứng nghiêm chào cờ, xong mới gượng nhẹ làm động tác gấp cờ.

Tôi - cũng đứng nghiêm cùng Thiện nhìn lên lá cờ bay phần phật mùi vải mới, kiêu hùng nở bung trên nền trời ban trưa, tự dưng nắng bừng xanh thẳm.

Nhìn bên cạnh, những người lính đủ tuổi trẻ già của Lữ đoàn 146 làm nhiệm vụ phục vụ Hậu cần cho Đoàn Công tác, dù quần cộc - áo ba lỗ đang dọn dẹp, cũng dừng tay, đứng nghiêm trang, dưới cái bóng đổ dài của người lính trẻ chưa đủ tuổi 20 lần đầu đi biển.

Với tôi, sự gần gũi ở Thiện đã trở thành kính trọng, khi chứng kiến em nghiêm cẩn thay cờ. Sự kính trọng không phải dành cho người lớn tuổi, mà là con đường em đã chọn, dù vất vả gian nan, nhưng thực sự “được làm người có ích” - như em từng tâm sự.

Và tôi tin điều ấy là sự thật, giống như tin vào màu cờ thắm sáng bừng trong mắt em long lanh, buổi trưa trên biển Trường Sa.

Tổ quốc - mùa Xuân trường tồn ở những người trẻ như thế, ngay địa đầu biên đảo Trường Sa.

Mai Thanh Hải (Gửi từ đảo chìm Đá Tây, trong hành trình công tác của tàu HQ-571, tháng 12/2013-01/2014)

16 tháng 1, 2014

TỪ TRƯỜNG SA, ĐỌC CHUYỆN ĐẤT LIỀN...

TNO - Bức ảnh bị cáo nằm ngửa giữa phiên tòa "kỳ án trộm dê" tại tòa án huyện Bắc Bình (Bình Thuận) sáng 14.1.2014 chắc chắn sẽ là một trong những tấm ảnh đi vào lịch sử ngành tố tụng Việt Nam.
  
Dư luận ngỡ ngàng vì không thể tin chính những người đại diện cho pháp luật lại thực hiện một hành vi lăng mạ pháp luật đến như thế.

Cách đây gần 15 năm, lúc những đòi hỏi cải cách tư pháp đang manh nha, một tờ báo chuyên về pháp luật liên tiếp đưa ra những diễn đàn về những quy định được coi là hình thức trong tố tụng.

Tôi nhớ lúc ấy thường các phòng xử của Tòa án TP.HCM vẫn còn giữ bộ bàn ghế từ trước 1975, kê liền trên một bục cao hình chữ U.

Chính giữa là chỗ ngồi của Hội đồng xét xử (HĐXX), bên trái nhìn từ khán phòng là chỗ ngồi của công tố viên.

Phía dưới, gần vành móng ngựa và chỗ ngồi bị can, bị cáo, tòa kê một chiếc bàn khác cho luật sư.

Phía dưới là hai hàng ghế dành cho người dự khán. Khoảng 3 hàng ghế đầu có bàn, các hàng sau không có.

Trong những phiên tòa có nhiều luật sư, chiếc bàn dành riêng không đủ chỗ ngồi, tòa dùng luôn các bộ bàn đầu của người dự khán.

Trong cả hai trường hợp, bàn của vị công tố đều riêng biệt và cao hẳn lên so với bàn luật sư.

Vị trí chênh lệch này đã gây ra những tranh luận sóng gió, thỉnh thoảng bùng phát trở lại trên các diễn đàn nghiệp vụ tố tụng.

Tuy nhiên, theo ông Đinh Văn Quế, cựu thẩm phán, chánh tòa Hình sự Tòa án nhân dân tối cao, đã 50 năm qua, vị trí này không thay đổi, do các nguyên nhân về lịch sử và pháp luật của nó.

Việc vị kiểm sát viên có cần đứng lên chào cùng với mọi người trong phòng xét xử khi HĐXX bước vào hay không, lúc ấy cũng dấy lên một cuộc tranh cãi bất phân thắng bại.

Bất phân thắng bại là vì bên cho rằng công tố là người buộc tội, ngược với luật sư là người gỡ tội, nên phải ngồi ngang hàng. Bên kia dẫn luật nói kiểm sát viên không chỉ buộc tội mà còn kiểm sát chung các hoạt động xét xử tại tòa, trong đó có hoạt động của chính HĐXX, nôm na là "oách" hơn cả HĐXX, nên họ có quyền ngồi khi HĐXX bước vào. Tuy nhiên, ngày càng nhiều ý kiến bảo vệ việc chỗ ngồi của luật sư phải ngang hàng với công tố: để đảm bảo sự công bằng cho người bị xét xử, bên gỡ tội phải ngang hàng với bên buộc tội.

Một thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khác là ông Ngô Cường dẫn ra mô hình chỗ ngồi tại tòa án các nước trên thế giới. Tất cả đều dành vị trí trung tâm cho bị can, bị cáo.

Những quy tắc này, theo ông Ngô Cường, từ lâu đã giới thiệu trong tập san chuyên môn của ngành, như một cách "chuẩn hóa".

Nó thể hiện rằng người quan trọng nhất, phải được đối xử thận trọng nhất, phải được nhận nhiều sự trợ giúp công tâm nhất từ mọi phía trong phiên tòa, phải được xét đoán công minh nhất từ rất nhiều người được giao trách nhiệm... chính là người đang đứng trước vành móng ngựa. Không phải ông chủ tọa, hay bất kỳ ai khác.

Những quy định kể trên là hình thức bắt buộc của một phiên tòa.

Nó thể hiện mục đích tối thượng của pháp luật là bảo vệ con người, xác lập sự công bằng trong xã hội.

Đó là nền pháp luật lấy con người làm trung tâm, bảo đảm sự tự do, an toàn và hạnh phúc của mỗi người dân.

Không phải pháp luật của kẻ mạnh, án bỏ túi, xử cho vui, xử cho chết, xử kiểu "tao biết mày phải nhưng nó phải bằng hai mày", như những câu chuyện giễu cợt.

Do vậy, việc các quan tòa TAND huyện Bắc Bình cho lệnh xốc nách lôi đi một phụ nữ đã kiệt lực và đang rối loạn trí não vào tòa, rồi "cẩn thận" lấy chiếc giường xếp cho người phụ nữ ấy nằm ngửa ra giữa chốn pháp đình và thản nhiên xét xử cho bằng được, không chỉ là "nhẫn tâm", "vô nhân đạo" như những bàng hoàng trong dư luận.

Đó không chỉ là sự dốt nát của cái đầu và lạnh ngắt của trái tim. Đó là cách hành xử man rợ, đi ngược lại những nỗ lực cải cách tư pháp, kéo lùi văn hóa xét xử.

Hoàng Xuân

(*) Bài viết thể hiện văn phong và góc nhìn của tác giả, một nhà báo đang sống và làm việc tại TP.HCM
------------------
Nhan đề bài viết do MTH đặt lại

30 tháng 12, 2013

NƠI ẤY LÀ TRƯỜNG SA

TNO - Bao năm rồi, cứ dịp gần Noel, Tết Dương lịch, trong khi mọi người náo nức rộn ràng chờ đón những ngày nghỉ lễ, đoàn tụ hạnh phúc bên nhau thì những người lính đảo lại vượt hàng trăm hải lý bập bùng sóng gió ra với biên đảo xa xôi, thay quân, chuyển hàng Tết.

Khó có thể tả nổi những tâm trạng, cung bậc tình cảm của những người bỏ lại phía sau mọi đầy đủ, sung sướng, hạnh phúc để ra nơi tuyến đầu làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền Tổ quốc, giữ gìn bình yên cho hậu phương.

Có một điều mà ai ra tiễn lính đảo cũng thấy, đó là lẽ sống cao cả, vì người thân - đồng bào và vì cả cái nơi biển xanh thăm thẳm nằm chót vót ngoài khơi xa kia nữa. Nơi đó được gọi là Trường Sa.

1. Đại úy Nguyễn Văn Quang, quê Tiên Lãng (TP Hải Phòng), năm nay ra nhận công tác tại đảo Sinh Tồn Đông, dịp trước Tết nguyên đán. Vợ Quang tên Nga cũng người Hải Phòng, hiện đang là phóng viên tại Ban Dân tộc, Đài Tiếng nói Việt Nam.

Tiếng là vợ chồng cùng quê, nhưng cả năm mới gặp nhau được 1-2 lần. Hôm trước khi tôi đi công tác Trường Sa, Nga đưa con gái tên Bống chưa tròn 20 tháng, chạy xe máy từ Long Biên sang, giữa chiều rét miền Bắc tím lịm, cắt da cắt thịt, để nhờ gửi cho chồng đang huấn luyện trong Đoàn Trường Sa, trước ngày ra đảo một gói quà nhỏ, bọc rất kỹ.

Ngồi nói chuyện với nhau, Nga kể: “Em đang thuê nhà trên này. Thường thì sáng đi làm, đưa con tới lớp, chiều hết giờ đón về. Khi nào đi công tác, lại phải xin cơ quan nghỉ một ngày đưa con về quê gửi ông bà, bởi trên này không có họ hàng, người nhà để gửi cháu!” và nghèn nghẹn: “Chồng dưới biển, vợ trên rừng, con ở với ông bà là chính!”, rồi tất tưởi xin phép đưa con về, hình như để giấu giọt nước mắt chực rơi.

Buổi chiều trước giờ 3 chuyến tàu Hải quân HQ-571; HQ-996; HQ-936 rời khỏi Quân cảng Cam Ranh, khi bộ đội tập trung hết trên cảng, chờ lên tàu, Quang hối hả gọi điện cho tôi: “Anh ơi! Anh ở đâu đấy, giờ em mới có thời gian nhận quà của vợ con gửi!”.

Nhận gói quà của vợ, Quang ôm chặt vào trong ngực, ngay giữa biển tên - phù hiệu lính Hải quân, dưới gọn gàng cấp hàm Đại úy mới cứng, thành thật: “Vợ em gửi mấy cân thuốc lào quê hương, làm quà cho anh em đón Xuân ngoài đảo!” và chầm chậm từng âm tiết: “Quan trọng hơn là cái áo của con gái, ôm cho đỡ nhớ bởi mấy năm nữa, mới về được đất liền gặp con!”.

Tôi vội vàng in tấm hình chụp vợ con Quang hôm gửi quà, tặng người lính Hải quân, Quang hôn ngay giấy ảnh còn ấm mùi mực in và ấp vào ngực trái, chào tôi như những người lính, tất tưởi chạy lên cầu tàu HQ-936 đang loảng xoảng tiếng xích rút cầu. Thoắt cái, đã thấy Quang ở bên mạn trái, đứng giữa đồng đội ra đảo, một tay bíu chặt lan can, tay kia vẫn áp tấm ảnh vợ con trên ngực, thiêng liêng.

2. Trung úy Mai Văn An (quê Thanh Hóa, nhưng đã đưa vợ con vào sống tại Mỹ Ca, Khánh Hòa, phía ngoài căn cứ Cam Ranh). An hiện đang công tác tại tàu HQ-571 (Hải đội 411, Vùng 4 - Hải quân), nhưng đã rất nhiều năm công tác tại nhiều tàu chiến đấu, tàu vận tải bảo đảm và ra với Trường Sa, không biết bao nhiêu lần.

Trước hôm tàu rời Quân cảng, không chỉ An mà tất cả cán bộ - thuyền viên trên tàu HQ-571 túi bụi các công việc chuẩn bị cho chuyến đi biển dài ngày, nhận xếp hàng Tết, đón bộ đội…

Gần nhà đấy, nhưng mãi tối 20.12 An mới được tranh thủ về nhà mấy tiếng đồng hồ trước khi đi biển, tạm biệt vợ con.

Hôm sau, gặp An dưới tàu, thấy mặt mũi hốc hác, mình hỏi mới biết: Đêm qua con gái sốt, An bế con chăm sóc cả đêm và buổi sáng, vợ bắt buộc phải đi làm nên An thay vợ bế con ra Bệnh viện khám cấp cứu.

Mà lạ nỗi, khu vực Mỹ Ca là “Trung tâm hậu phương Hải quân”, việc bộ đội đi Trường Sa là bình thường, nên nhân viên chỗ cấp cứu cũng tưng tửng đòi “đúng quy trình, thủ tục”, khiến An lại phải hùng hục bế con ra chỗ khác khám, cho yên tâm, mới trao lại con cho vợ, phóng xe vào căn cứ, kịp giờ tập trung chuẩn bị ra đảo.

An trầm giọng: “Con ốm vợ trẻ, đi như này cũng thấy mình không tròn nghĩa vụ với vợ con - gia đình, nhưng nếu xin ở lại, cả tập thể tàu lại phải làm phần việc của mình, trong khi anh em đều vất vả lo bao công việc, những gần một tháng, trong điều kiện thời tiết mưa to gió lớn!”.

Hình như, An cũng tự động viên cả bản thân lẫn tôi là người nghe, về những năm làm nhiệm vụ trên các tàu trực bảo vệ Trường Sa đến vài tháng, với những câu chuyện mà chỉ những người lính tàu mới phải trải qua. Nào là: loanh quanh trên diện tích tàu chật hẹp liên tục mấy tháng, trời nắng cả con tàu như nằm trong lò nung, trời mưa gió - giông bão, con tàu trở thành đồ chơi cho sóng biển, chơi trò tung hứng, dìm xuống đẩy lên bằng những con sóng dài, cao cả chục mét; những ngày thiếu nước, mỗi người chỉ được phát một xô nước dùng trong mấy ngày…

Nghe chuyện của An và nhìn vào mắt An, tự dưng cảm giác bất an khi ra khơi mùa biển động, sóng cấp 7-8 tự dưng tan biến, bởi tính mạng được đặt vào tay những người dày dặn giữ Trường Sa.

3. Thiếu tá Nguyễn Quang Hiếu, Trợ lý Cơ yếu Lữ đoàn 146 (Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân), đang đóng quân ở Cam Ranh, nhưng vợ con vẫn ở Nghĩa Trung, Nghĩa Hưng, Nam Định.

Nhắc đến Hiếu, mọi cán bộ chiến sĩ trong Lữ đoàn đều biết bởi hoàn cảnh gia đình của Hiếu quá vất vả: con gái đầu Nguyễn Thị Minh Châu, sinh năm 2008 bị bệnh hiểm nghèo về tim (Trung tâm Tim mạch Bệnh viện E chẩn đoán “sau mổ Glenn/TBS phức tạp” và dự kiến phương pháp điều trị “xét phẫu thuật Fantan); con gái sau cũng mới sinh được vài tháng; vợ nghỉ không lương ở nhà trông hai con và nuôi bố mẹ Hiếu 83 tuổi già yếu…

Vất vả như vậy, nhưng Hiếu là một trong những người thường xuyên phải thực hiện các chuyến công tác ngoài đảo, mỗi năm 3-5 lần để làm nhiệm vụ chuyên ngành. Các chuyến đưa các Đoàn Dân - Chính - Đảng thì bình thường, nhưng những chuyến đặc biệt như dịp cuối năm này, Hiếu xin thủ trưởng đơn vị cho tranh thủ nghỉ vài ngày, đi xe khách về thăm vợ con, để yên tâm ra đảo cả tháng trời.

Gặp nhau trên Quân cảng trước lúc chia tay, Hiếu nắm chặt tay tôi rắn rỏi: “Vẫn còn nhiều anh em có trường hợp khó khăn như mình, thậm chí hơn mình nhưng vẫn cố gắng, làm tốt nhiệm vụ ngoài đảo. Mình chỉ làm nhiệm vụ đảm bảo, mỗi năm đi vài lần, tại sao không vượt lên tất cả, cùng đồng đội?”…
***
Có rất nhiều bài hát về Trường Sa, nhưng lính đảo thường nhẩm câu hát: “Phía xa xa chân trời nghìn trùng sóng gió. Có những con người thay chúng ta đang vượt qua ngọn sóng vươn tới chân trời, giữ lấy nơi biên cương chưa bình yên của mọi người…”.

Trên chuyến tàu HQ-571 chở cán bộ chiến sĩ thay quân các đảo và chuyển hàng Tết lần này, lời hát “Nơi ấy là Trường Sa” của tác giả Xuân Nghĩa cũng liên tục vang lên trên hệ thống loa phóng thanh, như thể nắm tay cổ vũ - động viên cho con tàu giương cao mũi, ngụp qua sóng cấp 7 - cấp 8, vượt dặm dài hải trình đi biển.

Và cùng với những vòng lăn sóng thân tàu, những người lính biển - lính tàu cũng thì thầm từ chính trái tim mình lời thề - lời hứa giữ trọn địa đầu, bởi: NƠI ẤY LÀ TRƯỜNG SA!..

LÁT ĐÁ GIỮA BIỂN TRỜI

TNO - Ngoi lên ngụp xuống suốt 2 ngày đêm vượt sóng gió cấp 7 - cấp 8, cuối cùng trước mũi tàu HQ-571 cũng hiện ra bãi san hô ngờm ngợp sóng trắng. Thiếu tá, thuyền trưởng Phạm Xuân Hải bảo:  “Đảo chìm Đá Lát - điểm đầu chúng ta đến!”...

Đảo Đá Lát cách đảo Trường Sa (Trường Sa Lớn) 14 hải lý về phía tây và cách Cam Ranh 248 hải lý. Nhìn trên bản đồ, đây là đảo gần đất liền nhất trong toàn quần đảo Trường Sa.

Đảo Đá Lát là bãi san hô khép kín, phía trong có một hồ. Khi nước thủy triều lên, bãi Đá Lát nằm chìm trong nước biển, nhưng khi thủy triều xuống, những bãi nhỏ - đá mồ côi nhô lên khỏi mặt nước rất nguy hiểm và chỉ có những tay lái xuồng CQ thiện nghệ của đảo, xuồng chuyển tải của tàu mới dám đi lại.

Đặc biệt, đảo Đá Lát là nơi có nhiều xác tàu đắm nằm trên các bãi cát, nên từ xa bằng mắt thường và ra đa, rất dễ dàng nhận ra đảo, bởi các chấm đen buồng lái - tháp tàu lô nhô xung quanh.

Tết đến từ vị lá dong

Vào với Đá Lát, dịp các đoàn Dân chính đảng nườm nượp ra thăm trong mùa “tháng ba bà già đi biển”, khách khứa ngồi trên xuồng chuyển tải, lạch tạch chạy từ ngoài biển vào đảo, hết thảy đều ồ à reo mừng thích thú khi nhìn đáy nước thấy lửng lơ rong biển, tinh khôi cát trắng và san hô rực rỡ các màu.

Nhưng mùa biển động gần tết này, vào được với Đá Lát là chuyện không hề đơn giản. Loay hoay, thận trọng cả tiếng đồng hồ, tàu HQ-571 mới tìm được vị trí neo thích hợp.

Mãi đến 14 giờ, một số cán bộ Quân chủng, Vùng 4 Hải quân, Lữ đoàn 146 và 6 phóng viên báo chí có kinh nghiệm đi biển, được lựa chọn kỹ càng mới được lên xuồng vào Đá Lát, đồng thời với hoạt động thay - đổi quân, vận chuyển hàng tết, lương thực - thực phẩm cho đảo.

Sóng cao đến 2 m lừng lững theo nhau ập vào mũi xuồng, khiến xuồng tung ngược lên chừng 15 - 20 độ, ai nấy mặt cắt không còn hạt máu nhưng vẫn ngồi im phăng phắc, theo khẩu lệnh của người lái: “Động đậy là chết hết!”. Chỉ khi đi qua mép xanh vào bãi san hô, xuồng chạy cân bằng trong vùng sóng nhỏ, tiếng thở phào mới nhất loạt òa ra từ những gương mặt ướt lướt thướt, chân tay tím ngắt vì ngâm lạnh và vì níu chặt vào chân ghế - thành xuồng.

Cập đảo, nhất loạt bộ đội lội xuống nước, răng đánh cầm cập, môi tím ngắt giữ xuồng.

Ở cái đảo chìm bé tí như mắt muỗi giữa bung biêng trời nước này, phải kể đến 3 đặc trưng: diện tích nhỏ nhất, sách vở nhiều nhất và bãi san hô nhiều “cá mú, nghêu sò ốc hến” nhất.

Lạ! Chả ở điểm đảo chìm nào sách vở nhiều như ở Đá Lát: Tủ sách đóng bằng gỗ thùng đạn ngoài hiên, sát cầu thang hẹp lên xuống; sách xếp đầy tràn phòng, che hết cả những khung tròn - bầu dục - vuông in logo la liệt, biểu tượng của các thể loại quà tặng từ tỉnh thành - bộ ngành mang ra tặng đảo, cứ như thể cái điểm đảo bằng mắt muỗi này là bảo tàng, nơi trưng bày hiện vật; sách xếp tầng trong phòng ngủ, dưới chân giường cá nhân chả đủ một người nằm nghiêng...

Thượng úy Vũ Đức Quỳnh, Chỉ huy trưởng của đảo năm nay phải ở lại trực tết, đôn đáo tiếp đoàn, bàn giao, tiễn người cũ, đón người mới nhưng vẫn không quên dẫn mình ra thăm mấy vườn rau bịt bùng kín mít bằng cả vải ni lông lẫn vỏ thùng đựng thịt hộp, hoa quả hộp và chỉ: “Tết năm nay, chắc không có rau xanh rồi, anh ạ!”. Nhìn vườn rau trơ khấc thùng đất, có chăng còn lại cũng chỉ lưa thưa mấy cọng già, mới thấm thía nỗi sung sướng của anh em, khi tàu chuyển vào cả xuồng, đầy những rau củ quả tươi, vác lá dong và nhất là chú lợn chừng 50 kg, để anh em đảo và hải đăng có một cái tết đầy đủ.

Cậu chiến sĩ tên Nam Hải, đợt này được thay quân về tết, tuy bị í ới gọi ra tàu, vẫn cố nán vác bó lá dong vào bếp cất kỹ, cười rất tươi: “Đây mới thực là tết chú à!” và hấp tấp kể: “Lá dong luộc lên, buộc quanh cột tre, đến ngày gói bánh chưng vẫn giữ được màu xanh và mùi thơm như thường, thích lắm!”.

Nghêu sò ốc hến

Ở Đá Lát, gì thì gì cũng phải nhắc đến chuyện “cá mú, nghêu sò ốc hến”.

Cũng bởi xa xôi, tách biệt lại nằm trên bãi san hô rộng ngút ngát, mỗi khi thủy triều xuống, cả bãi san hô và đá san hô lộ ra, nhô hết lên mặt nước nên các thể loại tôm cá, ốc sò ngu ngơ líu ríu không theo kịp con nước ra biển, cứ tênh hênh nằm ngửa nằm nghiêng nhìn giời và chờ... bộ đội rảnh rỗi, ra bắt cải thiện.

Đừng nghĩ là bộ đội thèm ăn hải sản.

Sống ở biển, giữa bãi san hộ được ví như “vựa hải sản tươi sống”, nhìn hải sản là chán (nhưng vẫn phải cắn răng mà nuốt, bởi nếu không lấy gì mà... ăn), việc đi nhặt ốc chủ yếu để phục vụ khách ra... xin vỏ.

Với Đá Lát, chuyện bị xin là thường, nên cứ ai cất tiếng xin, là lộn ngược ba lô gói cẩn thận tặng khách từng vỏ ốc biển to nhỏ.

Cho hết rồi, lại áy náy sợ đoàn khác đến, xin mà không có để kỷ niệm, nên cứ cuối ngày, giờ được nghỉ đấy nhưng vẫn quần đùi - giày vải, lội xuống biển, chịu san hô cứa vào người sắc như dao cạo, bắt nhặt từng con ốc, mẩu san hô mang về nâng niu đánh rửa, ngâm treo chờ khách ra để biếu tặng - ngẩn ngơ.

Mặn từng lát đá

Ở Đá Lát, đảo nhỏ hơn cả các đảo chìm khác (do xây từ nhà xưa, dạng Nhà lâu bền thế hệ cũ), nên căn bếp bên cửa trái cũng bé tí, cửa hỏng chốt nép sau ụ súng 12 li 7.

Khom người chui vào bếp, một nồi quân dụng vẫn đang lâm râm sôi trên bếp dầu nhỏ lửa khẽ khàng.

Mở vung, khoai tây hầm với bì heo đang lục sục sôi. Cậu chiến sĩ trẻ măng quệt mồ hôi: “Biết tàu ra, chúng cháu nấu nốt mấy củ khoai và ít bì - thịt heo, ăn dè từ tháng trước. Vừa nãy, các anh trên tàu có gửi mấy bao rau củ, thỏa sức... uống nước luộc rau trưa nay!”.

Mân mê túi hạt giống rau trên tay, chiến sĩ ra đa tên Hùng bảo: “Lẽ ra là phải trồng rau khay rồi đấy. Nhưng dịp này, phải huấn luyện căng thẳng, lại tập trung củng cố đảo trước mùa mưa bão, nên không có thời gian!” và nhấp nhổm: “Yên tâm, mấy hôm nữa anh em sẽ tập trung trồng rau và chăm rau. Đừng lo ngoài này bộ đội thiếu rau tươi, ít nhất thì cũng quen với măng hộp - giá đỗ rồi!”...

Nghe anh em nói an ủi thế thôi, chứ mình đã tìm hiểu và biết:

Mùa này biển bắt đầu động, khay rau mầm kê cẩn thận trên giàn giáo mép đảo, để sẵn con dao “thu hoạch”, tận dụng đến từng sợi rễ và khía đều đặn trên mép khay, chia bữa - chia ngày.

Trong vườn rau, những khay xếp thành vườn, để khách đất liền ra ngắm yên tâm, chứ có khi khách chưa ra tới tàu, bộ đội đã lụi hụi bê vào nhà cất che cẩn thận và rau tươi chỉ được chi dùng khi ai đó ốm đau...

Nhiều khách đất liền ra Đá Lát, sau khi đã hỏi han đủ chuyện dưới biển trên trời thường quay sang vặn vẹo: “Sao lại gọi là Đá Lát”.

Bộ đội vốn thật thà, không biết đành cười: “Cháu không biết!” khiến khách quay ra đoán già đoán non: “Chắc đá ở đây có đá, có lát như thể vân gỗ, làm sập gụ - tủ chè?”...

Ít ai biết: Ở điểm đảo chìm nhỏ nhoi nhất quần đảo, từ con ốc kỷ niệm, ngụm nước khát lòng, rễ rau giòn dịu, thành lô cốt dày vững chãi cho đến vụn san hô sắc như dao cạo... hết thảy đều đẫm mồ hôi và có khi là máu của những người lính phòng thủ đảo, những thế hệ công binh cần mẫn đêm ngày.

Mồ hôi đổ xuống từng viên đá, vụn san hô và bạc trắng, mặn chát từng lát đá ở đảo, nên đảo mới được gọi là Đá Lát yêu thương...

Mai Thanh Hải
(Gửi về từ khu vực đảo Đá Lát - Trường Sa, trong hành trình của tàu công tác HQ-571)

15 tháng 12, 2013

NẰNG NẶNG, TRƯỜNG SA!..

Mai Thanh Hải - Nga là Phóng viên Ban Dân tộc, Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV)

Chồng Nga là Quang, đợt này cũng ra đảo thay quân, đóng ở Sinh Tồn Đông.

Chiều nay trời lạnh, lại mưa buốt giá. Nga và con trai gần 2 tuổi, lụp xụp áo mưa từ bên Long Biên sang nhà mình (qua Sông Hồng và đi về khoảng gần 40km), chỉ để nhờ gửi cho chồng túi quà, mong chồng mạnh khỏe - bình yên ngoài đảo.

Nga bảo: "Mỗi lần em đi công tác, lại phải mang con về gửi ông bà dưới Hải Phòng, do đang ở nhà thuê, không họ hàng thân thuộc trên HN!" và cười, mắt ngân ngấn nước: "Chồng ngoài biển, vợ trên rừng, con về ông bà!"...

Ngồi chưa nóng chỗ, Nga tất tưởi về bởi trời lạnh - đường xa và hình như cũng không dám nói chuyện nhiều về đảo, về chồng, về hoàn cảnh mình, sợ khóc...

Cứ nói những sự hy sinh - chịu đựng ở đâu đâu, tít hồi nào như cổ tích mà không biết rằng, những lặng thầm vất vả ấy, ở ngay bên cạnh mình, rất thật.

Thật như câu chuyện của vợ con - chị em những người lính đảo, mấy ngày hôm nay tất tưởi gặp mình, gửi quà Tết ra đảo xa xôi.

Mãi mãi - không thể nào khác: Đất nước này, ơn em nhiều lắm! Nga ơi!..