Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN HÓA - XÃ HỘI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN HÓA - XÃ HỘI. Hiển thị tất cả bài đăng

26 tháng 4, 2016

CHA, CON VÀ CUỘC KÉO CO VỚI SỐ PHẬN

(Trần Triều, Báo PNTP) - “Con gái tôi sẽ rạng ngời xinh tươi, khả ái múa ballet trên sân khấu. Tôi sẽ rất tự hào với mọi người về con gái của mình”- Nghĩ như vậy nên anh Trần Khương (quê Quảng Ngãi, ngụ phường An Phú Đông, quận 12, TP.HCM) đặt tên cho con cô con gái đầu lòng là Trần Lê Khả Ái. Cô con gái chào đời với nét mặt thanh tú, người cha đầy mơ mộng ấy càng ngập tràn hy vọng về những dự định đẹp đẽ mình dành cho con.
Con gái được 29 tháng tuổi, anh thấy phản xạ âm thanh của con có gì đó không ổn, đưa đến Bệnh viện Nhi Đồng II để khám. Bế con về, mọi thứ như sụp đổ, những vòng xe đạp loạng choạng trên con đường dài dưới nắng trưa. Đời anh chưa bao giờ đạp xe chở vợ con khó nhọc đến vậy. Bác sĩ vừa kết luận thiên thần của anh bị câm điếc bẩm sinh.

Vỡ òa với “tiếng người” đầu tiên

Vợ chồng anh Khương mưu sinh bằng nghề may gia công tại nhà. Tuy không được học cao nhưng anh yêu thích thơ văn, thường viết những câu văn vẻ và có cuộc sống đầy mơ mộng. Nhìn nét mặt trắng trẻo, xinh xắn của con, nghĩ về những ước mơ đã gửi hết vào con, anh không cam lòng. “Dù đã rất cố gắng, tôi vẫn không tài nào làm quen được với ý nghĩ con mình sẽ là một đứa bé không thể nghe, không biết nói và trải qua một cuộc sống tật nguyền”- Gương mặt đen sạm của người đàn ông nghèo co lại, đôi mắt rưng rưng khi anh nhắc lại chuyện cũ.

Tình cờ, anh biết có một đoàn từ thiện người nước ngoài đến Sài Gòn giới thiệu máy trợ thính cho người câm điếc bẩm sinh, nó có giá đến 5 cây vàng- tương đương một chiếc xe Dream Thái của nhà giàu cách đây 17 năm. Nhưng người cha nhà nghèo như anh Khương vẫn vét hết tài sản, vay nợ thêm để mua máy cho bằng được..

Gắn máy trợ thính lên tai cho con, vợ chồng anh Khương bước vào hành trình như một “chiến binh” để cùng con tìm lại “tiếng của loài người”. Với máy trợ thính, bé chỉ nghe được khoảng 30% so với người bình thường. Bé cần được nói chậm, nói to kết hợp với khẩu hình, ngôn ngữ cơ thể để làm quen với ngôn ngữ. Mỗi tuần hai lần, người cha gầy gò ấy lại đạp xe chở vợ con từ quận 12 lên tận Trung tâm Khuyết tận TP.HCM ở quận 3 (gần 20 km) để học các kĩ năng rèn luyện nghe- nói. Tiếng là đưa con đi học, nhưng chủ yếu là cha mẹ tiếp thu. Với những bài học ấy, khi về nhà, anh sẽ truyền lại cho ông bà nội ngoại. Cả nhà đều phải nắm kĩ năng cơ bản để thay nhau tiếp cận bé. Suốt ba năm như thế, nỗ lực miệt mài của anh Khương và những người thân như đi vào tuyệt vọng bởi bé chỉ phát ra tiếng ú ớ. Việc tác động để một người câm điếc bẩm sinh có tiến triển tốt chỉ có kết quả sau thời gian tính bằng năm. Nhưng bao nhiêu năm?

Khi những thành viên khác đã dần bỏ cuộc, anh Khương vẫn kiên cường. Anh văn vẻ: “Hai cha con đang chơi một trò kéo co với số phận với sợi chỉ mỏng manh, có thể đứt hết hy vọng bất kì lúc nào”. Dù nói gì con cũng ú ớ, nhưng anh tin con đang từng ngày có sự tiến triển nào đó mà anh chưa nhận ra. Suốt 5 năm ròng rã, anh vẫn không bỏ cuộc, vẫn chuyện trò, hỏi han, đùa giỡn với con dù người ngoài nhìn vào chẳng khác gì anh đang chơi với một pho tượng. Rồi trong tiếng ú ớ như vô thức của con gái, anh thấy con dần chuyển qua được âm “a”. Linh cảm của một người cha tin rằng con gái đang gọi “ba” nhưng chưa tròn vành.

Thường thì mỗi buổi chiều, anh thường bế con ra ngắm máy bay, mỗi lần có một chiếc bay ngang, anh đều chỉ cho con và hét to lên là “máy bay”. Tất nhiên, con anh vẫn câm lặng.

Rồi một ngày, bế con ra xem máy bay, ba chưa kịp lên tiếng thì con đã bảo “bay”, “bay”, “bay”. Anh vỡ òa, rụng rời, suýt đánh rơi con.

Lần đầu nghe con gái nói được “tiếng người”, người cha bật khóc vì sung sướng.

“Đừng sợ, có ba đây”

“Tiếng người” đầu tiên như chìa khóa, mở ra những chữ tiếp theo mà Ái có thể phát âm. Tuy nhiên, do sức nghe quá kém, Ái nói rất khó khăn.

Thông thường, một đứa trẻ câm điếc bẩm sinh như Ái được đưa vào học trường chuyên biệt nhưng cha em không muốn vậy. Anh “tha” con đến trường mầm non công lập để xin học cho con, dĩ nhiên là bị từ chối và các trường chưa có tiền lệ nhận trẻ câm điếc. Anh không bỏ cuộc, kì công lục lại các quy định, nghị định của nhà nước về việc khuyến khích trẻ khuyết tật được hòa nhập trong học tập. Trường chưa dám nhận, anh lên quận để trình bày, rồi xin gặp hiệu trưởng ngày này qua ngày khác để giải thích, bày tỏ nguyện vọng. Cuối cùng, Trường mầm non Bông Hồng (phường An Phú Đông, quận 12) cũng đồng ý nhận.

Cũng với hành trình gian nan ấy, anh xin được cho con vào Trường tiểu học Phạm Văn Chiêu. Anh thừa biết hai cha con phải đối diện một núi khó khăn, bởi lời cô giáo giảng, bé chỉ nghe loáng thoáng, làm sao để học? Vậy là, anh quyết định “đi học cùng con”. Con vào lớp, cha cũng xin phép nhà trường để đứng lấp ló ngoài cửa. Con nghe chưa kịp lời cô thì cha chép lại. Buổi tối, hai cha con lại ngồi với nhau, cha nhẫn nại giảng lại những lời cô giảng ở lớp đến hàng chục lần con mới “nghe lọt”.
Trong những tiếng nói tròn vành hiếm hoi xen lẫn với ú ớ của con hằng đêmbên bàn học ấy, người cha cảm thấy hạnh phúc vô ngần khi con mình rồi cũng biết đọc chữ, làm toán. Lên lớp Hai, sợ con bỏ cuộc vì nản, cha đã phải bày ra đủ thứ trò chơi để “dụ” con. Những lúc buồn bực, con rút phăng máy trợ thính ra vứt, cha vui vẻ dỗ dành. Khi thấy con không theo kịp bạn bè, cha đã đặt ra bậc thang thấp cho con đi: “Nếu con không học được như các bạn, cha con mình có thể cùng nhau học hai hoặc ba năm mới lớp cũng tốt, miễn là không bỏ học”.

Những tháng ngày thập thò ngoài cửa sổ để học cùng con của người cha nghèo rồi cũng được đền đáp. Ái lên lớp đều đặn, khi thi chuyển cấp vào lớp 6, Ái đạt 9 điểm Toán và 5 điểm Văn, đủ điểm để vào Trường TCS An Phú Đông. Lên cấp 2, Ái đối diện với khó khăn mới: 13 môn học có 13 giáo viên khác nhau, mỗi cô có giọng địa phương riêng khiến khả năng nghe của Ái còn kém hơn trước. Cứ đi học về là một trận khóc như mưa diễn ra vì “con không biết cô dạy gì cả”. Đỉnh điểm là giờ học nhạc, cô giáo mời Ái đứng lên hát một bài. Tiếng ú ớ của Ái khiến cả lớp cười ồ, Ái bật khóc và nhất quyết không đi học nữa. “Đừng sợ, có ba đây” tự bao giờ đã trở thành câu cửa miệng của anh Khương. Ái vẫn tiếp tục đến trường nhưng anh phải tính cách khác bởi không thể đi học cùng con như thời con học cấp 1 nữa. Anh đóng bảng đen tại nhà, mời cô giáo dạy Văn (môn Ái đang yếu nhất) về nhà dạy kèm. Thu nhập từ việc may gia công không đủ trả cho cô, anh đi khắp xóm vận động những học sinh học lớp 6 như con mình đến học thêm cùng để chia gánh nặng. Cô giáo dạy Văn thương Ái, giới thiệu thêm thầy dạy Toán. Cứ như vậy, cô học trò có dáng mảnh khảnh này lên được cấp 3, có năm còn đạt danh hiệu học sinh tiên tiến.

Anh Khương khoe: “Tôi đề nghị các thầy cô không nâng đỡ Ái bằng điểm số, có sao chấm vậy để con tôi biết mình ở đâu mà phấn đấu. Suốt cấp 2, Ái chỉ được 1,5 điểm trở xuống đối với môn Văn. Nhưng khi thi chuyển cấp vào lớp 10, Ái đạt đến 3,5 điểm. Với bao người, 3,5 là số điểm quá tệ nhưng với cha con chúng tôi, đó là một kì tích!”. Đồng thời, Ái đạt 5,5 điểm Toán và 4,5 điểm Anh văn. Thiếu 1 điểm để vào trường công, có người gợi ý làm đơn xin chế độ đặc biệt cho người khuyết tật để vào trường công nhưng anh Khương lắc đầu: “Trung thực với bản thân đã làm cho cha con mạnh mẽ được như vậy đến ngày hôm nay, tôi không muốn làm khác”.

Ái may mắn được Trường THPT dân lập Lý Thái Tổ nhận vào và giảm 50% học phí- trường hợp chưa có tiền lệ ở trường. Khó kể hết được khó khăn và nỗi vất vả của các thầy cô, bạn bè ở đây khi cưu mang Ái. Cô Trần Thị Nhung (chủ nhiệm lớp 10 của Ái) không kiềm được xúc động: “Tôi và các thầy cô khác khổ sở với Ái lắm, em ấy hầu như không nghe cô giảng gì, còn phát âm thì chữ được chữ mất mà chậm đến sốt ruột. Nhưng em ấy thật tuyệt vời, tôi chưa phải khẳng định như vậy. Em ấy đã nỗ lực quá sức tưởng tượng của tôi. Câm điếc bẩm sinh mà theo được chương trình như học sinh bình thường là quá tài”. Ái đạt học sinh khá qua các năm, giờ đang theo học lớp 12 và luôn là trung tâm của câu chuyện họp hội đồng sư phạm bởi mọi người phải xúm vào giúp mới giữ được con đường học chông gai đó của em. Hiện trường phải cử một học sinh khác ngồi bên cạnh Ái để ghi lại những điều cô giảng mà Ái không nghe thấy để tối về học lại.

Nhìn lại quãng đường hai cha con đã trải qua, người lạc quan nhất cũng không nghĩ được cô bé câm điếc ngày nào bây giờ đang đường hoàng là học sinh lớp 12 và hào hứng với ước mơ vào đại học, sẽ thi ngành mĩ thuật!

Rời ngôi nhà đơn sơ, tôi bị ám ảnh bởi chuyện anh Khương kể: “Tội lắm. Giờ thì Ái rất ham học , đang ôn thi tốt nghiệp và đại học nên học càng nhiều hơn trước. Mỗi đêm, vì sợ không nghe được chuông báo thức để dậy học bài, Ái nắm chặt điện thoại trong tay để ngủ. Khi điện thoại rung trên tay là bật dậy”.

Ái nắm chặt điện thoại báo thức như nắm chặt ước mơ của mình, số phận chắc khó giật mất ước mơ của Ái thêm một lần nữa, như lúc em vừa chào đời.

TRẦN TRIỀU

4 tháng 4, 2016

TÀU HẢI QUÂN CẤP NƯỚC NGỌT CHO ĐBSCL

Bé trai chăm chú theo dõi các thao tác cập cảng của bộ đội Hải quân trên tàu
Thanh Niên - Lần đầu tiên, Quân chủng Hải quân điều các tàu chuyên dụng tiếp tế nước ngọt cho Trường Sa - nhà giàn DK1, làm nhiệm vụ cứu hạn mặn cho người dân ĐBSCL.

Liên tục trong những ngày cuối tuần qua, các đơn vị thuộc Quân chủng Hải quân đã triệt để chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, khẩn trương điều các loại phương tiện - lực lượng làm nhiệm vụ cứu trợ, giúp đỡ đồng bào khu vực vùng bị hạn hán, nhiễm mặn ở các tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bình Thuận, các tỉnh khu vực Tây Nguyên...

Đặc biệt, ngay khi nhận mệnh lệnh, Sở Chỉ huy Lữ đoàn 125, thuộc Bộ tư lệnh Vùng 2 Hải quân đã điều tàu 935 đang trực chiến tại TP.Vũng Tàu, nhận 200 m3 nước ngọt, hành quân xuống khu vực ven biển tỉnh Bến Tre. Sau 1 ngày hành trình, vượt qua gần 70 hải lý đường biển, tàu 935 đã cập cảng cá Bình Đại (Bến Tre) cấp nước cho các hộ dân trông chờ nước ngọt trong huyện Bình Đại.

Chỉ 20 phút sau khi cập cảng, cán bộ chiến sĩ tàu 935 cùng Đoàn công tác của Lữ đoàn 125 hành quân theo đường bộ đã triển khai việc cấp nước cho các ghe xuồng, xe bồn của người dân 2 xã Bình Thắng, Hòa Đại Lộc.
Xe tải chở nước của Lữ đoàn 125 cơ động chuyển nước đến nhà người dân

Bên cạnh đó, thượng tá Hoàng Minh Dũng, Phó Chính ủy Lữ đoàn 125 cũng dẫn đầu xe tải chở nước của Lữ đoàn đến từng hộ dân có hoàn cảnh khó khăn trong xã để cấp nước và tặng vật dụng chứa nước như thùng nhựa, can đựng nước, bình nước uống...

Số vật dụng này được mua sắm từ số tiền hơn 40 triệu đồng, do cán bộ chiến sĩ trong Lữ đoàn quyên góp, gửi tặng đồng bào vùng hạn hán, ngập mặn khu vực ĐBSCL.

*****
Tàu chuyên dụng chở nước mang số hiệu 935 thuộc Hải đội 812, Lữ đoàn 125, Bộ tư lệnh Vùng 2 Hải quân tiến vào cảng cá Bình Đại (Bến Tre) trong sự ngạc nhiên của các ngư dân

Đây là tàu chuyên làm nhiệm vụ chở nước tiếp tế cho các đảo Trường Sa, nhà giàn DK1 và các tàu trực chiến bảo vệ Biển Đông của Quân chủng Hải quân

Người dân huyện Bình Đại (Bến Tre) đổ xô ra cầu cảng chờ đón tàu Hải quân lần đầu tiên cập cảng


Vừa cập cảng, bộ đội tàu đã mở boong chứa nước ngọt sẵn sàng

Cắm vòi bơm để cấp nước

Nước ngọt bơm xuống lòng ghe chứa nước của người dân

Việc cấp nước có sự phối hợp của Ban chỉ huy quân sự huyện Bình Đại và dân quân các xã

Các ghe dân túc trực chờ được bơm 

Niềm vui của người dân khi nhận nước ngọt miễn phí từ tàu Hải quân

3 vòi bơm phát huy hết công suất

Trên cầu cảng, việc bơm nước cho các xe bồn của dân cũng rất khẩn trương

Ngoài phương tiện tàu biển, Lữ đoàn 125 còn đưa xuống xe tải và bồn nước để chở đến tận nhà những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, neo đơn

Bơm nước vào can cho các hộ dân đã tập trung đợi sẵn

Thượng tá Hoàng Minh Dũng, Phó Chính ủy Lữ đoàn 125 tặng nước ngọt cho mẹ Võ Thị Liệt, 77 tuổi ở ấp Bình Huề 1, xã Đại Hòa Lộc, Bình Đại, Bến Tre

Các hộ dân háo hức chở thùng đựng nước do bộ đội Hải quân tặng về nhà

Hoạt động cấp nước diễn ra liên tục từ ngày 2-4.4.2016 và trong tuần này, các tàu chở nước của Hải quân sẽ tiếp tục chuyên chở, cấp nước ngọt cho vùng hạn mặn ĐBSCL

SÀI GÒN, NHỮNG NĂM 1989 - 1990

Reds - Trên trang Facebook của mình, nhiếp ảnh gia Nhật Bản Doi Kuro đã đăng tải một loạt ảnh đặc sắc do ông thực hiện ở Sài Gòn những năm 1989 - 1990.

Trong các năm 1989 - 1990, Doi Kuro đã di dọc mảnh đất Việt Nam và chụp hàng trăm bức ảnh đời thường rất sinh động bằng máy ảnh phim. Ông cũng đã trở lại Việt Nam nhiều lần trong các năm 1996 - 1999 và thực hiện một số bộ ảnh khác vào giai đoạn này.

Dưới đây là gần 100 bức ảnh về Sài Gòn qua ống kính của Doi Kuro.
*****
























(Nguồnhttp://www.reds.vn/index.php/khoanh-khac-lich-su/10520-sai-gon-nhung-nam-1989-1990-doi-kuro)

11 tháng 12, 2013

CẢ ĐẤT NƯỚC Ê CHỀ VÌ MỘT ĐÁM ĐÔNG HÔI CỦA

Đào Tuấn - Khi không soi gương, làm sao biết được trên mặt mình có nhọ.

“Là dân Biên Hòa, là người Việt Nam, tôi thấy xấu hổ thay cho những ai đã “cướp vài lon bia” ở đây trưa ngày 4.12”.

Không cần phải giới thiệu bạn đọc cũng biết đây là tấm băng rôn nói về điều gì.

Vâng, nói xấu hổ cũng đúng, sự nhục nhã cũng không sai, mà bảo đó là câu chuyện nhân cách cũng phải.

Trong những câu chuyện thiền kinh điển, có ghi lại cuộc đối thoại giữa thiền sư Sozan và học trò:
“Cái gì qu‎í giá nhất trên thế giới?”- người học trò hỏi.
Thiền sư trả lời: “Đầu của con mèo chết.”
“Tại sao đầu của con mèo chết là cái quí giá nhất?”
“Bởi vì chẳng ai có thể định giá nó được”
Đầu mèo thì nào có giá trị gì. Người ta ăn đủ loại đầu: Đầu heo, đầu bò, đầu cá, đầu gà…ngoại trừ đầu mèo.

Nhưng bài học của câu chuyện thiền không phải là việc định giá thứ quý giá nhất, mà là xác định thứ rẻ nhất có thể định giá.

Câu chuyện Biên Hòa của ngày hôm nay đang cho thấy một thực tế hiển nhiên rằng nhân cách của không ít người có giá chỉ “vài lon bia”.

Hôm qua, nỗi xấu hổ của cô sinh viên trường FPT, trước nhân cách của một đám đông đồng bào, đã trở thành nỗi xấu hổ chung của cả dân tộc khi một đài truyền hình nước ngoài và trước đó là youtube đã loan tin khắp thế giới về vụ hôi bia mà có lẽ khi nhìn lại những hình ảnh cướp cạn đó, bất cứ ai là người Việt Nam cũng cảm thấy muốn tìm một cái lỗ nẻ.

Người ta sẽ nhìn thấy ở đó điều gì khác ngoài sự man dợ, vô minh?!

Cả đất nước ê chề chỉ vì một đám đông hôi của.

Và xin đừng bao giờ đổ lỗi cho cái nghèo. Hoặc nếu nghèo, thì đó chỉ là sự nghèo nàn về nhân cách, về văn hóa. Nghèo nàn cả sự tự trọng và nỗi xấu hổ nữa.

Nhưng sau khi tấm băng rôn về sự tự trọng và nỗi xấu hổ kia được giăng lên, chính quyền địa phương đã cho dỡ bỏ với lý do “Ảnh hưởng tới mỹ quan đô thị”.

Thật là buồn cười. Làm sao việc dỡ bỏ một chiếc băng rôn có thể xóa nhòa trong tâm trí người dân cả nước hình ảnh đám đông nhâu nhâu bầy đàn xông vào tranh cướp. Nhưng làm gì có mỹ quan mà bảo phải gìn giữ.

Dẫu sao, trong đám đông loạn lạc về lòng tự trọng, vẫn còn đó lương tri: Một cô sinh viên treo những tấm băng rôn về hai chữ xấu hổ. Một người mẹ nói về sự nhục nhã.

Nhục nhã vì điều khủng khiếp nhất là hình ảnh người mẹ xông vào cướp bia ngay trước mắt đứa con gái nhỏ.

Nhục nhã, vì đứa bé hỏi một câu mà người lớn không thể trả lời “Mẹ lấy bia làm gì?”.

Báo chí ngày hôm qua đã đồng loạt dẫn nguồn Công an Đồng Nai cho biết đang điều tra và nếu có thể sẽ khởi tố vụ án công nhiên chiếm đoạt tài sản. Nhưng có lẽ, một tấm băng rôn tự trọng nói về hai chữ xấu hổ cần thiết hơn nhiều. Một chiếc băng rôn một tấm gương để hàng ngày người ta phải đối diện với sự nhục nhã.
Một tấm băng rôn như thứ bia miệng khắc ghi trong đó một cái giá rẻ mạt về nhân cách.

Khi không soi gương, làm sao biết được trên mặt mình có nhọ.