Ngày 19 tháng 5 năm 2013

MẶN TỪNG LÁT ĐÁ


Mai Thanh Hải - Đá Lát là điểm ghé thăm và làm việc giữa hải trình Trường Sa.

Buổi sáng, tàu cập cảng Trường Sa Lớn để phần lớn Đoàn Công tác lên đảo làm việc.

Nhóm còn lại chừng 30 người, ở lại tàu, tiếp tục lênh đênh Hơn 2 tiếng đồng hồ từ Trường Sa Lớn, sang Đá Lát và lại lạch tạch ngồi xuồng ca nô kéo của tàu, gượng nhẹ qua bãi san hô rộng mênh mông, vào thăm điểm đảo chìm, bé tý như mắt muỗi đang dần nhô lên ở phía bung biêng trời nước.

Đảo Đá Lát nằm ở 8038’30” vĩ độ bắc, 1110 40’30” kinh độ Đông, cách đảo Trường Sa 14 hải lý về phía tây, cách Cam Ranh 248 hải lý.

Đây là đảo gần đất liền nhất trong Quần đảo Trường Sa.

Đảo Đá Lát là bãi san hô khép kín, phía trong có 1 hồ. Khi nước thuỷ triều lên, bãi Đá Lát nằm chìm trong nước biển, khi thủy triều xuống, những bãi nhỏ và đá mồ côi nhô lên khỏi mặt nước.

Đảo Đá Lát có nhiều xác tàu đắm đều nằm trên các bãi cát, nên từ xa mắt thường và Ra đa dễ dàng nhận ra đảo.

Chấp hành Chỉ thị của Bộ Tư lệnh Hải quân về thực hiện nhiệm vụ CQ88, Đảng uỷ, chỉ huy Lữ đoàn 146 đã khẩn trương tập trung, triển khai hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị bạn vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Đúng 9 giờ 30’ ngày 05/02/1988 dưới sự chỉ huy của đồng chí Đại tá Phạm Công Phán, Lữ đoàn trưởng chỉ huy, tàu HQ-611và HQ-712 đã đến Đá Lát triển khai công binh làm nhà cao chân.

Trong quá trình làm nhà ta đã triển khai 3 tổ chiến đấu trên các tàu bị cạn.

Với tinh thần khẩn trương, ngày 20/02/1988 anh em đã xây dựng xong nhà cao chân trên bãi Đá Lát và bàn giao cho cán bộ, chiến sỹ bảo vệ đảo.

Năm 1991, Công ty Bảo đảm Hàng hải Việt Nam đã xây dựng trên đảo ngọn Hải đăng.

Từ đó hình ảnh người chiến sỹ Hải quân và ngọn Hải đăng Đá Lát hoà quyện vào nhau bảo vệ sự bình yên của các con tàu Việt Nam và bạn bè thế giới, bảo vệ sự bình yên của biển trời Tổ quốc Việt Nam.

Hiện nay, đảo Đá Lát đã được xây dựng nhà ở kiên cố, có hệ thống năng lượng gió, năng lượng mặt trời góp phần nâng cao đời sống, đưa cán bộ, chiến sỹ trên đảo về gần đất liền thân yêu hơn nữa.

Đời sống vật chất tinh thần của cán bộ, chiến sỹ đảo Đá Lát từng bước được cải thiện. Đảo được trang bị máy thu hình, hệ thống Karaoke kỹ thuật số hiện đại. Trạm thu phát tín hiệu vệ tinh của Đài Truyền hình Việt Nam đã giúp cho cán bộ, chiến sỹ trên đảo cập nhật kịp thời những thông tin trong nước và thế giới.

Nói đến Đá Lát, phải kể đến 3 đặc trưng: Diện tích nhỏ nhất, sách vở nhiều nhất và bãi san hô nhiều "nghêu sò ốc hến" nhất.

Lạ! Chả ở điểm đảo chìm nào, sách vở nhiều như ở Đá Lát: Tủ sách đóng bằng gỗ thùng đạn ngoài hiện, sát cầu thang hẹp lên xuống; sách xếp đầy tràn phòng Hồ Chí Minh bé tin hin, che hết cả những khung tròn - bầu dục - vuông in logo la liệt, biểu tượng của các thể loại quà tặng của tỉnh thành - Bộ ngành mang ra tặng đảo, cứ như thể cái điểm đảo bằng mắt muỗi này là Bảo tàng, nơi trưng bày hiện vật; sách xếp tầng trong phòng ngủ, dưới chân giường cá nhân chả đủ 1 người nằm nghiêng...

Tò mò hỏi Đại úy Phượng, Chỉ huy trưởng: "Sao nhiều sách thế?".

Phượng cười, mặt hơi ửng đỏ dưới màu đen da mặt khô không khốc: "Thì Đoàn nào ra cũng tặng đến mấy thùng sách, anh em khênh è cổ. Sách để đấy, riết rồi cũng quen đọc. Đọc xong thì lại xếp, cũng là cách để bộ đội có... việc làm!" khiến mình lạ lùng:

Thời buổi Công nghệ Thông tin, đảo có sóng Viettel, a lô phát, vào mạng phát là cả đống sự kiện ngồn ngộn, thế mà vẫn có khối người vẫn nghĩ bộ đội "ăn lông ở lỗ", hì hục khuân ra từ sách báo cũ cho đến... rách nát, làm bộ phận hàng quà trong bờ, đến lính tàu rồi lính đảo, tướt bơ phân loại, bốc vác. Mấy thứ này, chuyển thành rau củ quả tươi hoặc card Viettel cho bộ đội gọi điện về thăm nhà, thích gấp tỷ lần...

Ở Đá Lát, gì thì gì cũng phải nhắc đến chuyện "nghêu sò ốc hến".

Cũng bởi xa xôi, tách biệt lại nằm trên bãi san hô rộng ngút ngát, mỗi khi thủy triều xuống, cả bãi san hô và đá san hộ lộ ra, nhô hết lên mặt nước nên các thể loại tôm cá, ốc sò ngu ngơ líu ríu không theo con nước ra biển, cứ tênh hênh nằm ngửa nằm nghiêng nhìn giời và chờ... bộ đội rảnh rỗi, giết thời gian chạy ra bắt cải thiện.

Đừng nghĩ là bộ đội thèm ăn hải sản.

Sống ở biển, giữa bãi san hộ được ví như "vựa hải sản tươi sống", có khi nhìn hải sản là buồn nôn (nhưng vẫn phải cắn răng mà nuốt, bởi nếu không lấy gì mà... ăn), việc đi nhặt ốc chủ yếu để phục vụ "tiếp khách".

Thật: Mấy năm nay, cứ mỗi mùa thăm nom (tháng 3-5), liên tục các Đoàn đủ các thành phần, bộ ngành, tỉnh thành, lớn bé già trẻ lốc nhốc ngồi tàu Hải quân, được bộ đội trần lưng phục vụ từ răng tới rốn, ra thăm đảo.

Chả hiểu sau chuyến đi cả chục ngày trời, mấy chục phần trăm phát huy tác dụng "tuyên truyền biển đảo", nhưng điều thấy chắc là đến điểm đóng quân nào, người ta cũng lùng tìm "đặc sản" hòng mang về đất liền, chắc để biết tặng - cười khoe.

Lên đảo nổi thì nhăm nhăm vặt quả bàng vuông, dù quả mới nhú, xanh run rẩy.

Trèo nhà giàn thì dáo dác xin... cá khô, cá tươi.

Vào đảo chìm, hoặc là liều mạng phi xuống mép bê tông tìm san hô - vỏ ốc, hoặc là năn nỉ bộ đội xin những thứ đó, anh em đã dành dụm mang về đất liền cho người thân...

Với Đá Lát, chuyện bị xin chẳng bao giờ tránh khỏi và bộ đội mình thì lại hiền lành, chả để ai trách móc - buồn phiền điều gì, nên cứ ai cất tiếng xin, là lộn ngược ba lô - dọn sạch gầm giường, gói cẩn thận tặng khách.

Cho hết rồi, lại áy náy sợ Đoàn khác đến, xin mà không có để kỷ niệm, nên cứ cuối ngày, giờ được nghỉ đấy nhưng bộ đội vẫn quần đùi - giầy vải, lội xuống biển, chịu san hô cứa vào người sắc như dao cạo, bắt nhặt từng con ốc, mẩu san hô mang về nâng niu đánh rửa, ngâm treo chờ khách ra để biếu tặng - ngẩn ngơ.

Sức lính để giữ đảo, trông biển, canh trời và cả những hoạt động ngoài "chế độ" là thế đấy, nhưng lên đảo, mấy ai thực tìm hiểu xem bộ đội ăn gì, sống như thế nào, ngoài những điều viết trong báo cáo và trò chuyện khơi khơi?..

Ở Đá Lát, đảo nhỏ hơn cả các đảo chìm khác (do xây từ nhà xưa, dạng Nhà lâu bền thế hệ cũ), nên căn bếp bên cửa trái cũng bé tý, cửa ton hỏng chốt nép sau ụ súng 12ly7.

Khom người chui vào bếp, 1 nồi quân dụng vẫn đang lâm râm sôi trên bếp dầu nhỏ lửa khẽ khàng.

Mở vung, khoai tây hầm với bì heo đang lục xục sôi. Cậu chiến sĩ tên Hiển quệt mồ hôi: "Biết tàu ra, chúng cháu nấu nốt mấy củ khoai và ít bì - thịt heo, ăn dè từ tháng trước. Vừa nãy, các anh trên tàu có gửi mấy bao rau củ, thỏa sức... uống nước luộc rau trưa nay!".

Mâm mê túi hạt giống rau trên tay, Hiển bảo: "Lẽ ra là phải trồng rau khay rồi đấy. Nhưng dịp này, phải huấn luyện căng thẳng, lại tập trung củng cố đảo trước mùa mưa bão từ tháng 6 đến cuối năm, nên không có thời gian!" và nhấp nhổm: "Chú yên tâm, mấy hôm nữa chúng cháu sẽ tập trung trồng rau và chăm rau. Đừng lo tụi cháu thiếu rau tươi, ít nhất thì cũng quen với măng hộp - giá đỗ rồi!"...

Hiển nói an ủi thế thôi, chứ mình đã tìm và biết:

Mùa này biển bắt đầu động, khay rau mầm kê cẩn thận trên giàn dáo mép đảo, để sẵn con dao "thu hoạch", tận dụng đến từng sợi rễ và khía đều đặn trên mép khay, chia bữa - chia ngày.

Trong "Vườn rau Thanh niên", những khay mới xếp thành vườn, để khách đất liền ra ngắm yên tâm, chứ có khi khách chưa ra tới tàu, bộ đội đã lụi hụi bê vào nhà cất che cẩn thận và rau tươi chỉ được anh nuôi chi dùng khi ai đó ốm đau...

Nhiều khách đất liền ra Đá Lát, sau khi đã han hỏi đủ chuyện dưới biển trên trời thường quay sang vặn vẹo: "Sao lại gọi là Đá Lát".

Bộ đội vốn thật thà, không biết đành cười, nói: "Cháu không biết!" khiến khách quay ra đoán già đoán non: "Chắc đá ở đây có đá, có lát như thể vân gỗ, làm sập gụ - tủ chè?"...

Ít ai biết rằng: Ở điểm đảo chìm nhỏ nhoi nhất Quần đảo này, từ con ốc kỷ niệm, ngụm nước khát lòng, rễ rau giòn dịu, thành lô cốt dày vững chãi cho đến vụn san hô tuy vỡ rồi nhưng vẫn sắc như dao cạo... - Hết thảy đều đẫm mồ hôi và có khi là máu của những người lính phòng thủ đảo, những thế hệ Công binh cần mẫn đêm ngày.

Mồ hôi đổ xuống từng viên đá, vụn san hô và bạc trắng, mặn chát từng lát đá ở đảo, nên đảo mới được gọi là Đá Lát yêu thương...

Đảo Trường Sa Lớn (5/2013)
-------------------------------------------------------------------------------

Đọc tiếp...

XANH MỘT MÀU NAM YẾT


Mai Thanh Hải - Tàu đến Nam Yết lúc đầu chiều, nắng chang chang làm khô cong con tàu toàn những sắt là sắt và hừng hực dầu mỡ, súng ống.

Chỉ có dịu mắt, mềm lòng lại khi đứng trên boong nhìn vào đảo phía xa ngái biển bờ bởi màu xanh rời rợi của cây lá, lan ra tận mép sóng thẳm xanh.

Mình đến Nam Yết mấy lần trước, toàn tành tạch ca nô chuyển tải từ tàu vào đảo, bộ đội đứng chờ cả tiếng đồng hồ, mới được cầm tay người đất liền, bởi ca nô của tàu loay hoay lượn qua bãi san hô, vòng vèo qua những hàng cọc chống đổ bộ nhô lên nhọn hoắt, trải dài ra tận mép xanh.

Mấy năm nay, được cả nước quan tâm nên các đảo đều được tặng xuồng CQ chạy veo veo trên sóng nên mình chả phải chịu tạch tạch, cứ khoác áo phao nhảy xuống xuồng, chạy ào chục phút, đã đặt chân lên đảo, khi níu tay đồng đội Nam Yết thân thương.

Nói về Nam Yết, để mọi người hình dung được, thì thế này:

Đảo nằm ở 10011’ 06” vĩ độ Bắc, 114o 21’ 30” kinh độ Đông, có hình bầu dục, bề ngang nằm theo hướng đông tây và thay đổi hình dáng theo mùa do tác động của sóng gió.

Đây là đảo nổi có diện tích lớn thứ 2 trong quần đảo Trường Sa sau đảo Ba Bình, độ cao của đảo so với mực nước biển chừng 0,8m, chất đất trên đảo tương đối tốt, trải qua quá trình cải tạo nên đảo có nhiều cây cối tốt như mù u, phong ba, bàng vuông.

Qua thời gian và bàn tay cần mẫn, chăm chỉ lao động của cán bộ, chiến sỹ đã khoác cho đảo một màu xanh của cỏ cây bởi các loại như dừa, xoài, đu đủ… và một số giống cây thích nghi với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng nơi đây, trong đó có cây nhàu, một loại cây thuốc quý, được người lính ở đây đặt tên cho nó là cây cà phê dại.

Cách đây hơn 30 năm trong chiến dịch tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 lịch sử, sau chiến thắng vang dội của ta ở mặt trận Buôn Mê Thuột, Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa và một số tỉnh, thành khác.

Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Hải Quân, một bộ phận của Hải quân nhân dân Việt Nam đã tiến ra giải phóng quần đảo Trường Sa.

Lúc 10 giờ 30’ ngày 27-4-1975 ta hoàn toàn làm chủ Đảo Nam Yết.

Lá cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc tượng trưng cho ý chí quyết chiến, quyết thắng đã phần phật tung bay trên mốc chủ quyền trong nắng, gió Trường Sa.

Và từ đó đến nay lớp lớp cán bộ, chiến sỹ đảo Nam Yết luôn phát huy truyền thống của Lữ đoàn Trường Sa anh hùng, sát cánh bên nhau, đồng cam cộng khổ, đoàn kết một lòng, khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Hiện nay các công trình quốc phòng và dân sinh được xây dựng khá vững chắc, xung quanh đảo được bao bọc bởi hệ thống tường chắn sóng kiên cố, có bến cập xuồng, trên đảo đã có nhà 2 tầng và nhiều nhà kiên cố khác, bảo đảm nơi ăn, ở, làm việc cho cán bộ chiến sỹ, đảo có trạm thu phát tín hiệu truyền hình từ vệ tinh, hệ thống năng lượng gió và nhiều phương tiện phục vụ đời sống tinh thần cho bộ đội.

Tuy nguồn nước ngọt và thổ nhưỡng, khí hậu ở đây không thuận lợi như ở đảo Trường Sa và đảo Song Tử nhưng nhờ ý chí tự lực, tự cường, tinh thần đoàn kết khắc phục khó khăn Đảo Nam Yết đã tự túc được nhu cầu rau xanh và một phần thực phẩm...

Tài liệu thì nói về đảo "cứng cựa" như vậy, còn mình thì chỉ nói: Đảo rất nhiều cây nên rất xanh mát, còn hơn ối nơi Hà Nội - Sài Gòn và những vùng trong đất liền ấy chứ.

Cứ nhìn màu xanh và xem lướt qua qua theo kiểu "cưỡi ngựa xem hoa" của các Đoàn Công tác chợt đến chợt đi, loáng thoáng chừng 2-3 tiếng đồng hồ bao nhiêu mùa nay khiến bộ đội gặp mùa thăm, chỉ có ăn - đón đoàn - nhăn nhở cười - rặn ra chuyện để trả lời những người lần đầu ra tò mò háo hức... thì rút cục cây nào cũng bị "quy" là bàng vuông, phong ba, bão táp, muống biển.

Nhưng không phải cứ Trường Sa, cứ Nam Yết là chừng ấy cây vậy, mà còn rất nhiều màu xanh thân thuộc, như thể đất liền đầm ấm xanh tươi.

Đầu tiên là dừa. Loại cây này có từ hồi trước 1975, sau phát triển dần dưới tay mát của bộ đội, bây giờ đã có hơn 250 gốc, rải rác khắp đảo.

Mùa dừa ra hoa, chả kiếm đâu ra ong mật nên lũ muỗi - ruồi thi nhau phi lên cây thưởng thức, khiến bộ đội vừa lấp ló chui trong màn ngắm hoa dừa trắng, ngửi hương dừa thoảng vừa nhắm mắt nhắm mũi xua đuổi tụi côn trùng hóa ong thợ tham ăn.

Thích nhất là khi hái trái, mỗi phân đội gượng nhẹ bổ từng quá, hòa nước dừa với nước đun sôi để nguội, gọi là cho có mùi, rồi chia nhau ca nước to đùng, uống từng ngụm, người trước liếm mép, người sau quèn quẹt sau, thương thương là.

Sau dừa đến đu đủ.

May nỗi Nam Yết nhiều cây to, các loại cây nhỏ được thể sống nhờ, đan quyện với nhau như thể tấm lưới ngụy trang, che đủ tứ bề gió bão mùa mưa, nên những loại cây thân giòn như đu đủ, cũng được suất ăn theo, chả lo đổ cây gãy cành, giống bộ đội phải chui xuống hầm ngầm - công sự tránh trú bão như những đảo khác.

Có lẽ vì một phần được chở che, rèn luyện nên đu đủ có thân rất to, quả cũng rất lớn và ngọt thì thôi rồi. Buổi tối ở lại Nam Yết, đợi sáng mai tàu đón, mình ngồi bàn nước ngoài sân Sở Chỉ huy cùng anh Ngọc - Phó Tư lệnh Vùng 4, được BCH Đảo chiêu đãi 1 đĩa đu đủ thực to đùng, ăn vào ngọt lịm.

Cà rà hỏi chuyện, anh em nhấm nháy: "Một phần ngọt cũng là... chất bón tự nhiên!" khiến mình vỡ lẽ: Thảo nào cứ đi về phía đầu - cuối đảo, thấy mùi đặc trưng, hơn cả "nơi quê hương đang bước vào vụ mới", có bịt mũi gọi bộ đội Hóa học, cũng chỉ chụp mặt nạ phòng độc mà thôi.

Nói thế thôi, chứ ở đảo, từ bờ tường, gốc cây, lá rau đều thấm đẫm mồ hôi của Công binh từ bờ ra hay lính đảo 146 qua từng "tăng" đều đặn trát lên, thành sự xanh tươi và "đổi thay hoành tráng" như bây giờ.

Trung tá Hòa - Chính trị viên phó Đảo Nam Yết nhẩn nha kể: Nam Yết tuy điều kiện hơn các đảo chìm, nhưng rút cục đảo vẫn là đảo, rời tiếp tế vận tải ra, là mệt hết. Rau cỏ có thể trồng được, nhưng đất chật người đông, có tưới thuốc thần cũng chả lên kịp để cung cấp đủ 3 bữa/ngày.

Phương án truyền thống vẫn là tiết kiệm rau xanh, nước ngọt để... nhường chỗ cho rau củ quả hoặc là mang từ đất liền ra, bảo quản lâu dài hoặc là đồ rau củ hộp, ăn liên tục, người không quen xuống nằm Bệnh xá là cái chắc.

Cái sự nhường nhịn nhau từ cọng rau, giọt nước của lính đảo, nếu ai vô tâm sẽ chẳng bao giờ thấy.

Đêm ở lại đảo, anh em mang sẵn khăn tắm - xà phòng để cạnh, từ cán bộ đến chiến sĩ thi thoảng lại đảo qua nài nỉ: "Tắm miếng đi, nước dưới hầm mát lắm!", nhưng mình không đành lòng bởi chứng kiến cảnh mấy cậu chiến sĩ, 1 đứa gập hẳn người, chui lút đầu xuống bể nước, đứa khác túm chân sợ rơi, để múc lên từng gàu nước gượng nhẹ, miệng xô gõ vào thành bể khô không khốc.

Thịnh - Trưởng ban Tuyên huấn của Lữ đoàn 146 ghé tai: "Sáng mai anh em mình ra tàu tắm cũng được, ở đảo mấy tháng rồi chẳng có một hạt mưa!".

Đêm trên đảo, lâu lắm rồi mới có 1 đêm trọn vẹn ngồi dưới tán cây Phong ba ven đường từ cầu cảng vào cột mốc chủ quyền, nghe gió biển xào xạc đến chơi với lá, lặng tiếng sóng ì ầm níu kéo lân tinh sáng lấp lánh như mắt trẻ thơ tinh nghịch ùa vào nằm ườn trên cát, sao đêm nhấp nháy phía Tây trong mắt bạn tựa như nỗi nhỡ đất liền khát bỏng ngày đêm, dằng dặc năm này năm khác cùng nỗi niềm hành quân hết đảo này sang đảo khác...

Kể với nhau chuyện đất liền, gia đình và những kỷ niệm ngày xưa hết sức bình thường, nhưng có lẽ cả đời chẳng bao giờ quên nổi.

Xen giữa câu chuyện là những sự "a! ơ!" của bạn và mắt xoe tròn của cậu chiến sĩ trực canh khoác AK ngang qua.

Mà "a! ơ!" cũng đúng, bởi cả năm chôn chân ngoài đảo, mọi liên hệ đất liền qua điện thoại và tình hình cũng chỉ qua tivi - radio mở theo quy định. Gặp người đất liền, cũng chỉ vài Đoàn dịp "Vụ đi thăm" tháng 4-5, tất tưởi đón - tiễn trong chừng 2-3 tiếng với cái sự gần gũi để tìm hiểu, cũng chỉ hơn khách lạ gặp ngoài đường chút xíu, bởi chẳng ai quen ai và rời đảo rồi, mấy ai nhớ - ai quên?..

5 giờ sáng, hừng đông rực rỡ trên biển, kèn đồng lanh lảnh báo thức sớm, xuồng CQ sẵn sàng phóng ào ào đưa mình ra tàu, đang lừ lừ quay lại đón.

Bạn cẩn thận buộc túi bảo quản chống sóng nước, hơi mặn để không làm gãy cây hoa ốc mà bạn tỉ mẩn làm mỗi ngày, từ dịp Tết được bọc cả chục lớp giấy báo ở trong và thì thầm dặn: "Tôi không sơn xanh đỏ lên ốc đâu, mộc mạc vậy để mỗi ngày, nhìn thấy Nam Yết thật thà!".

Xuồng CQ hú còi gọi, bạn sửa lại quai mũ cứng, cài áo phao cho mình và nhét vào túi áo thủy quân mấy nhành rau gầy guộc, tím ngắt nhưng thơm dìu dịu mùi bạc hà thanh khiết.

Bạn bảo: "Tôi xa nhà quen rồi, bạn mang lên tàu cho đỡ nhớ đất liền, còn nửa tháng nữa mới về bờ cơ mà!" khiến mình gặp lại cảm giác nghèn nghẹn, khi buổi chiều hôm trước, thấy bạn vã mồ hôi, gượng nhẹ tưới cho cây rau thơm còi cọc trên bậu cửa sổ đầu giường bạn nằm, thay cây cảnh đầu giường mỗi người lính Trường Sa.
Rời đảo, bóng bạn bé nhỏ hòa lẫn màu xanh điệp trùng Nam Yết và cả những bóng chiến sĩ xanh màu áo dã ngoại, mũ sắt xanh màu biển, khoác AK gác hết ca cuối, trong bóng nắng lấp lóa ban mai.

Và hình như, từ đảo xanh một màu Nam Yết, tàu đi xa rồi, vẫn thấy lấp lóa những ánh mắt sáng, như thể ánh sao xanh canh giữ biển, nơi bất trắc nhưng không bao giờ để Tổ quốc bị bất ngờ, đẫm màu nhớ: Trường Sa...

Nam Yết - Trường Sa, tháng 5/2013.

Đọc tiếp...