Ngày 16 tháng 12 năm 2011

CƠM ÁO KHÔNG ĐÙA VỚI... NGHỆ SĨ ƯU TÚ

Mình từng ăn bánh trôi Tàu ở quán của Nghệ sĩ Ưu tú (NSƯT) Phạm Bằng, trên phố Hàng Giầy. Cũng lâu lắm rồi, cứ tưởng bận bịu với những Chương trình Hài, thành người công chúng, ông không còn thời gian để đứng bán từng bát, nhặt từng đồng. Nhưng thực ra, nếu không phải đi diễn, đêm đêm ông vẫn cặm cụi bán những món quen thuộc (Lục tàu xá, Chí mà phù, Bánh trôi tàu), trong quán nhỏ đầy ắp kỷ niệm gia đình, đã tồn tại hơn 30 năm nay.

NSƯT Phạm Bằng bảo: "Duy trì một phần vì mưu sinh, một phần vì để bớt đi quãng thời gian rảnh rỗi", bởi: "Ở cái tuổi gần 80, ngủ không phải bao giờ cũng ngon giấc. Thôi thì coi như đó là một cách giao lưu với khán giả, để không phải nghĩ ngợi, buồn phiền cho nước mắt lặn vào trong!".

Chắc nói để an ủi thế thôi, chứ có lẽ tâm can lại khác đấy!.. Mình nhìn ông ngồi cô độc trên vỉa hè, tẩn mẩn đếm từng đồng tiền lẻ, trước quán bánh trôi, thấy cứ rưng rưng, nghèn nghẹn.

Cũng có lẽ, vì anh em Ô Phở bên OF đặt tựa tấm hình là "Cơm áo không đùa với... Nghệ sĩ nhân dân" và xem tấm hình, mỗi người đều có tâm trạng khác, để tựu trung lại thành: Buồn!.. Mà không buồn sao được, khi thực tế "áo cơm" không chỉ đè lên mình ông?..

Lại nhớ đến lời tâm sự của ông: "Tôi mở quán là vì miếng cơm manh áo. Cách đây hơn 30 năm, lương NS không đủ sống, nên tôi cùng gia đình bán thêm đủ thứ. Từ bia đến nước giải khát, sau mới đến món này", cùng  chuyện kể: "Sáng dậy từ 5 - 6 giờ. Đi xay bột rồi về nặn bánh, nấu đậu, làm nhuyễn... Số lượng nhiều nên làm lâu lắm. Chỉ có một tiếng ăn cơm, nghỉ trưa, còn thì từ lúc dậy đến 3 giờ chiều mới tạm xong phần chế biến. Tôi chỉ đạo cho 6 người làm, trong đó có cả con gái. Thú thật, từ khi bà xã mất, tôi định đóng quán, chỉ đi diễn thôi!".

Lại nhớ đến một thời, những NS hài nổi tiếng bây giờ, khổ đến chả còn gì để nói (NS Minh Vượng ngày làm diễn viên, tối thành công nhân ép nhựa; NS Chí Trung trở thành “con buôn” săm xe, bán xe đạp, buôn xe máy cũ, mở cửa hàng buôn đồ điện, đồ cổ… Còn Phạm Bằng thành ông chủ quán bánh trôi Tàu). Tưởng như đến tận cùng cay đắng ở đâu, cứ dồn hết lên vai họ. Mà đến bây giờ, liệu những vất vả ấy đã hết được đâu?..

Ngẫm lại câu "cơm áo không đùa với khách Thơ", của các cụ, thấy đúng. Đến những người nổi tiếng, lên Truyền hình, phát thanh, sân khấu hàng ngày, hơn cả người của công chúng, được Nhà nước phong NSƯT, mà còn rụng tóc lo kiếm từng đồng lẻ như vậy, nữa là cái ngữ nhân dân bèo bọt như bao thằng tụi mình mình, chỉ biết bóp đầu nặn chữ lấy tiền, túi khi nào cũng lép kẹp, và tháng nào cũng ngóng đến ngày lương?..

NHẬT KÝ CỦA SẾP SÒNG...

Trần Lưu Văn - 7 giờ 30 sáng: Thức dậy. Nằm trên giường thêm 30 phút để cố nhớ lại những gì tối qua. Thường không nhớ ra. Khi suy nghĩ có ngáp và vươn vai, nhưng không thò chân ra ngoài chăn. Máy lạnh đương nhiên vẫn mở.

8 giờ: Vào toilet. Thực hiện những nhu cầu hồn nhiên. Vừa thực hiện vừa hát. Nhạc ngoại quốc, lời Việt là chủ đạo. Cạo râu và kiểm tra lông mũi theo tiêu chuẩn ISO-9002. Chỉ ngoáy tai khi có tắm.

8 giờ đến 8 giờ 30: Ăn sáng. Mắng con. Khiển trách người làm. Than thở với vợ. Uống thuốc hạ huyết áp. Uống hải cẩu hoàn. Nghe tin bóng đá. Thắt cà-vạt. Mặc comple.

8 giờ 30 đến 9 giờ: Ra xe. Vừa ra vừa xỉa răng. Vứt tăm qua cửa kính xe. Nhắn tin cho em. Xóa một số tin nhắn của em. Kiểm tra lại lớp keo trên tóc. Ngả lưng và nới khuy áo vest.

9 giờ đến 9 giờ 30: Vô Công ty. Bắt tay đủ 3 người. Đọc báo. Mở vi tính xem giá chứng khoán. Nhún vai. Uống trà. Treo áo vest lên lưng ghế. Ký một số công văn. Uống trà tiếp tục.

9 giờ 30 đến 11 giờ: Mời đối tác sang quán cà phê trước Công ty. Dặn Thư ký là đi họp. Quyết định với đối tác là còn phải gặp nhiều lần. Cười bí hiểm khi được hỏi về hoa hồng. Cố gắng khi nói chuyện có pha tiếng Anh và tiếng Pháp. Gật đầu với mấy bàn quen. Tỏ ra nghiêm nghị với những em mới vào.

11 giờ đến 1 giờ 30: Mời đối tác dùng cơm trưa. Chọn nhà hàng sang, nhưng có hóa đơn đỏ. Uống 3 ly, bắt đầu xưng "cậu – tớ" và vỗ vai nhau. Gọi một con cầy hương nhưng chả hiểu nhà hàng dọn con gì. Thề sẽ trung thực. Hứa ký hợp đồng. Nháy mắt khi bàn về phụ nữ. Dùng khăn lạnh lau cả cổ lẫn mặt. Nói to hơn lúc bình thường. Cầm cua rang muối bằng cả hai tay. Mở khuy áo trên. Khen cô Thư ký của đối tác đẹp. Nếu cao hứng có thể đọc bài thơ do mình sáng tác. Kể về những chuyến đi Bangkok. Tùy theo quan điểm và độ chân tình, sẽ quyết định kể từ đâu. Tranh nhau thanh toán. Ôm vai rồi siết chặt tay.

Từ 1 giờ 30 đến 3 giờ chiều: Ngủ trong salon phòng làm việc. Dặn Thư ký không để ai vào. Ngáy to hay nhỏ là tùy loại rượu vừa uống. Khi ngủ thỉnh thoảng có giật mình.

Từ 3 giờ đến 3 giờ 30: Thức dậy. Rửa qua mặt mũi. Xem lại giấy tờ ban sáng. Gọi Thư ký vô khiển trách, cố gắng tìm ra vài lý do. Thư ký nên già để tránh dị nghị.

Họp với tay Trợ lý thân tín. Dặn nó phone về nhà khi mình đi vắng, để nhờ nói lại với vợ một số thông tin đã chọn lọc. Trao đổi vài đĩa phim DVD. Nhờ tìm vài loại thuốc và vài thứ rượu ngâm. Khi Trợ lý ra khỏi phòng thì phone cho em, than: "Từ sáng tới giờ quá bận".

Từ 3 giờ 30 đến 4 giờ 30: Họp các Trưởng Phòng chủ chốt. Mắng 3 đứa, khen 3 đứa, còn lạnh lùng với 3 đứa. Nhấn mạnh những điều đã nói hôm qua. Kêu mệt và kêu nhức đầu, nhưng đứa nào hỏi thăm thì gạt đi. Nhớ những câu quan trọng có đứng lên khi nói.
Từ 4 giờ 30 đến 5 giờ 30: Ở lại trong Văn phòng khi mọi người đang ra về, cố tình để hé cửa. Viết và đọc như điên. Quát ầm ầm trong điện thoại. Khi mọi người đã về hết, phone cho em, hẹn cà phê chiều.

Từ 5 giờ 30 đến 7 giờ: Ngồi với em ở cà phê loại sang. Nói nhiều về tâm trạng, về cảm xúc và nghệ thuật. Tiết lộ rằng mình sinh ra đáng lẽ phải làm Nghệ sĩ, chứ không hợp kinh doanh. Nhưng hoàn cảnh đưa đẩy, giờ mới thấy tiền bạc là phù du. Thở dài kín đáo. Nắm tay nhè nhẹ. Xa xôi về nỗi cô đơn mơ hồ. Đọc một câu trong cuốn tiểu thuyết vừa xem. Bất thình lình, nhìn em không nói.

Từ 7 giờ đến 9 giờ: Đi ăn tối với em. Thức ăn ngon, đĩa nhỏ, phòng kín đáo, rượu vang thơm. Đèn mờ dịu. Kể về thời thơ ấu vất vả. Kể về phim Sắc giới một cách cảm thông. Ngạc nhiên với những điều cổ hủ. Phẫn nộ với những nhỏ nhen. Cau mày khi nghe về tiền bạc. Bao dung khi nói về tội lỗi.

Từ 9 giờ đến 10 giờ tối: Xóa hết tin nhắn, lịch sử cuộc gọi của em. Về nhà. Than với vợ là sắp điên lên vì họp. Ăn cơm nhà nửa chén, kêu mệt rồi thôi. Hỏi qua việc học của con. Đá cho con mèo 2 cú.

Từ 10 giờ đến 10 giờ 30: Vô toilet. Tùy hôm mà ngồi trong đó nhanh hay chậm. Kiểm tra kỹ các dấu vết trên thân mình. Nhìn toàn thân xem bụng đã chiếm bao nhiêu. Ho và khạc. Đánh răng bằng máy. Định xức dầu thơm rồi lại nhún vai.

Từ 10 giờ 30: Lên giường. Tắt di động. Online lướt lát vài trang Web, không dừng quá lâu ở facebook em để vợ không kịp nghi ngờ. Kêu mệt thêm lần nữa. Ngủ và ngáy đều. Nằm mơ thấy mình còn trẻ...
-----------------------------------------------------
* Hình ảnh chỉ có tính chất minh họa, không liên quan đến nội dung bài viết. (Nguồn hình: Ô Phở, OF)

XƯA VÀ NAY - CỦA MẸ...

 Mấy ngày nay, chẳng viết được gì bởi hình như chẳng còn gì để viết. Tivi thì cũng tắt ngúm, do hôm trước đang ăn cơm, tình cờ bật kênh VTV4, thấy ồ ề cái Gần Xa gì đấy và mình rút phích điện cái rụt, đứt cả dây nguồn. Nói chuyện với mọi người cũng chả được, vì hình như ai cũng ráo hoảnh, chẳng còn gì để nói. Đám bạn bia mình bảo: "Kệ mẹ chúng nó!. Muốn đến đâu thì đến. Anh em mình kiếm chỗ sâu xa nào đấy, xây mấy cái... lán trại, sau này có chuyện gì, chúng nó kêu gọi, bồng bế vợ con lên đấy tránh, cho lành!". Hơ! Hơ!. Đúng là cái tụi... bi quan, chưa gì đã mất lòng tin. Thôi! Tập trung vào kiếm cơm nuôi vợ con đi, rảnh thì lại ngồi vỉa hè... uống bia, ngắm các em xinh đẹp quần ngắn áo dây ngoài đường mà bàn luận, thay cho những chuyện vận mệnh "đao to búa nhớn" (đã có các bác ở trển lo). Đừng có ảo tưởng mà quên "gạo tiền cơm áo", không tin thì xem tấm hình này nhá!. Gương thực tế đấy. Bây giờ định mấy sẵn sàng, nếu không có quầy hàng? Hử.. (Nguồn hình:  OF)

Ngày 15 tháng 12 năm 2011

"MỰC MỘT NẮNG"!..

Hình này, anh em Ô Phở bên OF đặt tên là... "Mực một nắng". Hơi bị ý nghĩa và thú vị đấy. Mời mọi người thưởng thức món này, sau 1 ngày vất vả, đau đầu và căng thẳng. Nhà cháu cũng đang buốt hết cả đầu đây...

ĐỂ QUÊN... TÊN LỬA?.

Cái tít vui vui vui thôi, còn thật ra xem những hình ảnh này, trong chùm ảnh của Corbis ghi lại cuộc sống - chiến đấu của người Hà Nội, tháng 3/1973, tự dưng cứ lẩn mẩn nhớ lại những ngày xưa gian khó. Quả tên lửa nằm trên xe kéo này, chắc của Tiểu đoàn Kỹ thuật, trên đường kéo vào trận địa, xe kéo bị hỏng hay lý do gì đó, nên mới để lại ven đường. Lại nhớ ngày xưa, hồi những năm 80, mình bé tý tẹo, nhà gần Tiểu đoàn Kỹ thuật của Trung đoàn Tên lửa thuộc Sư 363. Hồi ấy, các chú bộ đội làm ngày làm đêm để chuẩn bị đạn tên lửa, cung cấp cho các trận địa chiến đấu, sẵn sàng bắn hạ máy bay Tàu khựa xâm nhập vùng trời Quảng Ninh - Hải Phòng - Thái Bình. Tụi trẻ con chúng mình, hết giờ học, nếu không mò ra Trường bắn Xuân Sơn xem các thể loại chú cô chú bộ đội, tự vệ, dân quân bắn súng rầm rầm cả ngày lẫn đêm, cát tút rải vàng Trường bắn như phơi thóc mùa gặt, thì mò vào Tiểu đoàn Kỹ thuật Tên lửa, chặt từng tảng thuốc phóng, đem về đốt chơi bùng bùng, mùi khét lẹt... Mà bây giờ, tên lửa để ngoài đường thế này, không bị tháo lấy thuốc phóng - thuốc nổ bán cho đội phá đá nổ mìn - đào đãi vàng - đánh cá, thì cũng bị đám nghiện hút lấy sắt, tuồn vào hàng đồng nát, sắt vụn. Hi! Hi!. Thế nên bây giờ, các chú bộ đội đừng để vũ khí - khí tài chơ vơ ngoài đường, như ngày xưa nhá!..

Đoạn này, chắc là đường từ HN lên Thái Nguyên (lối cầu Đuống lên), các bác nhỉ?

RƯỢU SAY, HÚC... SAY RƯỢU

Huyện Quỳnh Nhai (Sơn La) có đến đại đa số là bà con dân tộc Thái, Mông. Xa xôi và buồn tẻ, nên chuyện uống rượu giải sầu là rất bình thường. Mình ở Quỳnh Nhai vài ngày, lúc nào cũng bung biêng trong rượu: Ăn sáng, mỗi bàn cũng 1 chai 65 trong vắt; ăn trưa, cũng vẫn 1 chai 65 vắt trong; buổi tối ngồi ăn, bàn có đến 3 chai và "cứ yên tâm, hết lại lấy nữa". Rượu nhiều đến nỗi mấy anh bạn thổ công Quỳnh Nhai, trong cơn bung biêng, nằng nặc kéo mình ra phía ngoài Thị trấn, chỉ tấm biển "Đã uống rượu, bia thì không lái xe không điều khiển mô tô, xe gắn máy", đang đứng vẹo 1 chân sắt và bảo: "Biểu tượng của chúng tớ đấy!". Mình lắc đầu không hiểu, các hắn cười lăn: "Mấy ông uống rượu say, phi thẳng vào cột... cấm say rượu" khiến mình cũng cười, nhưng méo xệch. Ối Giời ôi!. Còn cái gì làm biểu tượng, hay hơn thế này? Chuyện đúng là chỉ có ở vùng cao..
Không say đâu nhá
Đừng lấy cái này làm... "biểu tượng", sợ lắm!..

Ngày 14 tháng 12 năm 2011

LÂM THỊ MỸ DẠ - "CHO ANH TỰA VÀO EM"...

Vợ chồng Nhà văn - thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường và Lâm Thị Mỹ Dạ
Mai Thanh Hải - Mình đi qua miền Trung đúng dịp mùa mưa. Thế nhưng đến Huế, trời trong veo, chẳng thấy mưa gió gì cả. Ngồi trên tầng 2 quán nhỏ cạnh cầu Tràng Tiền, nhìn xuống sông Hương đục ngầu màu đất, cuồn cuộn nước từ trên rừng chảy ra cửa Thuận An, bác Minh Tự (Trưởng Đại diện Báo Tuổi trẻ TP. Hồ Chí Minh tại TP. Huế) cứ thắc mắc: "Hay hè!. Mấy hôm trước mưa gió mịt mù, hôm ni lại tạnh mưa, ngớt gió. Hay hè!".

Ngồi với nhau cả buổi tối, nói chuyện linh tinh lang tang, cả những kỷ niệm của mình với bác Minh Tự và những người anh, người bạn ở Huế từ hồi mới biết, chơi với nhau, gần chục năm trước, gian khó vất vả nhưng giàu ú hụ tình cảm, sẻ chia.

Uống bên sông Hương chưa đủ, bác Minh Tự lại cùng mình lang thang quán bia hè phố khu Tây, ồn ào giữa lòng Cố Đô bình lặng và mặc trầm. Lặng lẽ giữa ồn ào, giữa vùng trầm mặc, cứ nhẩn nha nhớ lại những kỷ niệm về Huế, của một thời làm báo lăn lộn nhưng say nghề.
Ngày cưới anh Tường chị Dạ

Càng kỷ niệm, càng nhắc nhiều đến những con người Huế. Câu chuyện của mình với bác Minh Tự, kéo dài tưởng như hết đêm nhưng cứ thấy thiêu thiếu cái gì đó. Trời ạ!.. Đó là qua thăm 2 Nhà văn - Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường và Lâm Thị Mỹ Dạ. Bác Minh Tự cũng giật mình: "Ngày mai phải qua thăm anh chị!".

Thế là sáng hôm sau, tụi mình lếch thếch đến thăm 2 người nổi tiếng, mà có lẽ chỉ cần nhắc đến họ, trong lòng rất nhiều người sẽ dâng lên niềm xúc cảm rưng rưng.

Mà không rưng rưng sao được, bởi với mình, cả một thời học sinh - sinh viên cho đến khi đi làm, cứ đọc những câu của 2 anh chị, tự dưng thấy lòng mình ấm lại, mọi suy ngẫm mềm đi và thấy yêu thương cuộc sống, hoài niệm Cố Đô và tin vào những rung cảm rất thật trong sâu thẳm con người, mà người ta hay gọi là Tình yêu...

Một chuyến thăm anh chị, chẳng thể viết được gì nên đăng lại bài đã đăng trên Trang của bác Ngô Minh, để nhớ 1 buổi sáng yên lành, thăm 2 người yêu nhau, yêu đến bây giờ già cả, bệnh tật nhưng tình yêu dành cho nhau, vẫn không bao giờ vơi cạn...
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
LÂM THỊ MỸ DẠ - CHO ANH TỰA VÀO EM

Đến năm 2011 này, đã 13 năm nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ vừa sáng tác thơ, nhạc, vừa chăm nuôi người chồng, một nhà văn lớn,  bị bạo bệnh phải nằm một chỗ, vất vả nhọc nhằn hơn nuôi con mọn.

Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường trong chuyến  đi dạy “cua” về Văn hóa Huế ở Đại học Duy Tân, Đà Nẵng, bị tai biến mạch máu não tại khách sạn Faifô đêm 14/6/1998, hôn mê hai tháng liền.

Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ , lúc đó đang ở Hà Nội,  chuẩn bị bay đi Mỹ, dự hội thảo văn học do Trung tâm William Joiner ở thành phố Boston, Mỹ mời. Nghe tin chồng bị nạn đang cấp cứu ở Bệnh viện Đà Nẵng, chị quyết định  bỏ chuyến đi Mỹ,  tức tốc bay về Đà Nẵng, và bên chồng như một “điều dưỡng viên” từ ấy tới giờ.

Nữ thi sĩ vừa là người vợ tần tảo, vừa là “Người Mẹ” bao dung, săn sóc, đút mớm cơm cháo, thuốc men, xoa bóp, tắm rửa cho chồng. Trăm thứ việc nặng nhọc không tên đổ lên đôi vai mỏng mảnh của Dạ.
Nhà thơ LTMD hồi trẻ

Trong tập thơ mới nhất "Hồn đầy hoa cúc dại", xuất bản 2007, có một bài thơ rất cảm động thể hiện bản lĩnh và sức mạnh tình yêu của người phụ nữ: "Cho anh tựa vào em".

Người ta hay nói chị em nữ là “phái yếu”. Nhưng ở đây nữ thi sĩ xinh đẹp của chúng ta đang hoá thành “kẻ mạnh” để cho chồng “tựa vào” : "Bàn tay nâng em thành bảo mẫu/ Nước mắt lặn vào trong cho anh thấy nụ cười/ Bệnh tật lo toan giấu vào đêm trắng/ Giữa tháng ngày trĩu nặng/ Em đứng thẳng người/ Cho anh tựa vào em...'.

Mỹ Dạ kể rằng: Năm 1972, Anh Tường đang là cán bộ của Thành ủy Huế, được  trên điều động ra Quảng Trị để lập tham gia bộ máy của tỉnh Quảng Trị  vừa mới giải phóng đến sông Thạch Hãn. Anh giữ  chức Trưởng ty Văn hóa. Đầu năm 1973, vì ham  vui, Hoàng Phủ Ngọc Tường theo xe của đạo diễn Hoàng Tích Chỉ vào làm phim chiến tranh Quảng Trị, để ra thăm miền Bắc. Đến Đồng Hới, hai anh em ghé thăm Hội Văn nghệ Quảng Bình sơ tán ở Phú Vinh.
HPNT (đứng giữa) trong phong trào HSSV Huế

Tại đây người trí thức Huế, giáo sư siêu hình học Trường Khải Định (tức Trường Quốc học) 36 tuổi Hoàng Phủ Ngọc Tường nổi tiếng “xuống đường” ấy đã bị nữ nhà thơ trẻ xinh đẹp Lâm Thị Mỹ Dạ hớp hồn.

Dạ lúc đó mới 24 tuổi, mới được Hội Văn Nghệ Quảng Bình gọi từ Lộc Thủy, Lệ Thủy  về vừa làm văn thư, vừa để bồi dưỡng tài năng sáng tác thơ.

Hoàng Phủ nhớ lại: “Hồi ấy ở Hội Quảng Bình, nhà văn Trần Công Tấn (gốc Quảng Trị, tập kết ra Đồng Hới, là người viết rất nhiều sách về Lào, do thành tích cứu Hoàng thân Xuphanuvông được công nhận là thành viên của Hoàng Gia Lào), là “ông mối” nhiệt tình nhất. Chúng mình thư từ qua về, 6 tháng sau là cưới”.

Tôi hỏi :”Lúc ấy, anh đọc thơ Mỹ Dạ chưa?”. Tường cười :“Ở chiến khu mình có đọc vài bài thơ Dạ trên báo nhưng không để ý mấy. Ra đây nghe các anh giới thiệu, mới biết Dạ vừa giành được giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm ngoái, khi mới 23 tuổi. Nhưng thơ không quan trọng. Mình “bị sốc” vì Dạ quá hiền dịu và rất dễ thương”.
Từ trái sang: HPNT, Nguyễn Trọng Tạo
Lại hỏi Dạ : “Lúc ấy đã đọc gì của anh Tường?”. “Dạ biết anh Tường là nhân sĩ trí thức yêu nước nổi tiếng ở Huế, không ngờ anh lại trẻ thế. Còn sách thì chưa được đọc cuốn nào của anh ấy!”. Nghĩa là trước khi đến với nhau, họ đều là những người cầm bút đang bước những bước đầu tiên trên con đường văn chương thăm thẳm.
            
Đám cưới Tường Dạ hoàn toàn do bạn bè văn nghệ người Huế ở Hà Nội chung tay lo liệu.

Nữ nhà văn Ngọc Trai (chị tên thật là Công Tằng Tôn Nữ Ngọc Trai, nhưng ra Bắc, sợ bị quy lý lịch là “ Nhà Nguyễn bán nước" , nên phải đổi là Nguyễn Ngọc Trai), lo xoong nồi chén bát, chỉ huy nấu nướng món Huế. Chị Trai nhớ lại: Lúc đó “Tường thì lơ ngơ, còn Dạ lại như con nai vàng, thương lắm”.

Nhà văn Trần Nguyên Vấn lo in thiệp cưới, rồi đạp xe đi mời từng người.

Trần Công Tấn từ Đồng Hới chèo đò 20 cây số lên Lệ Thủy chở Bà Lý Thị Đấu, mẹ Dạ về Đồng Hới rồi đưa ra Hà Nội dự đám cưới con gái.

Thời đó Hà Nội không có cửa hàng cho thuê áo dài cưới như bây giờ. Nên Nghệ sĩ Thanh Vy, Đoàn Cải lương Trần Hữu Trang Nam Bộ, vì phục tài  anh Tường, đã  dẫn Dạ về đoàn để mượn áo dài là trang phục diễn viên. Dạ – Tường chọn cả buổi mới được một bộ vừa ý.

Ngày 27/10/1973, bạn bè văn chương Thủ đô đến chật khu nhà 51- Trần Hưng Đạo mừng tân hôn hai người. Gia đình Hoàng Phủ ở Huế không ai biết con trai cưới vợ. Thay mặt gia đình bên trai là bà Hoàng Thị Ái, người cô họ của Tường, lúc đó là Chủ tịch Hội phụ nữ Việt Nam.

Dự đám cưới Tường -Dạ có đông đủ  các cây đa cây đề của làng văn Việt Nam như Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân, Tế Hanh...

Những ngày đông Hà Nội đó, Hoàng Phủ làm thơ tặng Mỹ Dạ: “Em, chắc em sẽ không quên/ Gốc sấu già đổ bóng dài trên mặt cỏ/ Anh đứng chờ em ở đó… Mai giã từ Hà Nội/ Ta về miền nắng chói/ Nhưng có bóng im nào che đời ta mát hơn/ Một không gian xanh biếc giữa tâm hồn”. Đó là ngày mà số phận và văn chương hai người mãi đồng hành với tình yêu nồng cháy .
Từ trái: Trịnh Công Sơn, Bửu Ý, Nguyễn Trọng Tạo, HPNT
        
Thời bao cấp, cán bộ đã khổ, vợ chồng nghệ sĩ như Tường – Dạ càng khổ hơn. Tường là người đàn ông “ham chơi”. Lương bổng hai người chưa đến 120 đồng, không đủ nuôi hai đứa con, mẹ già chồng, thế mà hễ bạn bè đến nhà là Tường gọi: “Dạ ơi, cho anh mấy chai bia!”.

Nhưng không chơi, không đàm đạo văn chương thì không thể viết được. Dạ hiểu điều đó. Tường đi lang thang suốt Cà Mau, Quảng Nam, Quảng Trị, Sài Gòn… Dạ đều âm thầm chuẩn bị lộ phí cho chồng. Những tháng ngày ấy, bạn bè đến nhà không hề biết hai vợ chồng đã có lúc “hục hặc” vì thiếu tiền.

Gia đình anh Tường mấy đời ở Huế, Dạ thì gốc gác chân đất Quảng Bình, nên từ chuyện nấu  món ăn Huế, đến cách ăn mặc, dáng điệu đi đứng không ít lần mẹ chồng, bà con bên chồng và nàng dâu không hiểu nhau…Nhưng nhờ bản tính dịu dàng, dần dần Dạ đã được mọi người nhà chồng yêu mến.

Năm 1979, chiến tranh biên giới ác liệt. Tường nói với vợ: “Anh phải lên biên giới thôi, đất nước nguy nan!. Em còn tiền không?”.

Thời đó, gia đình nào cũng sống bằng đồng lương, tem phiếu, làm gì có tiền dự trữ. Dạ lẳng lặng đi bán bộ quần áo dài mà mẹ Tường máy bằng nhiễu đỏ, dành tặng cho con dâu từ miền Bắc vào, bộ quần áo ấy Dạ cất  kỹ bây lâu nay, như của gia bảo. Bí quá, Dạ phải bán. Rồi  Dạ ứng tháng lương để có tiền cho chồng đi biên giới.

Chuyến đi ấy, Hoàng Phủ đã viết bút ký nổi tiếng “Rừng Hồi”. Chuyến đi nào Tường viết được cái gì hay, Dạ đều rất phấn chấn.

Rất nhiều ánh lửa (1979), Ai đã đặt tên cho dòng sông (1984) là hai tập bút ký xuất sắc khẳng định vị trí của Hoàng Phủ trên văn đàn. Bậc thầy về ký Nguyễn Tuân phải thốt lên: “Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường rất nhiều ánh lửa”.

Đi học Trường viết văn Nguyễn Du 3 năm, Mỹ Dạ mang theo cô gái út Bê Lim mới chưa đầy tuổi đi theo. Hai mẹ con ăn một suất cơm. Hàng ngày lên lớp, con bé theo mẹ như một chú mèo con.

Phải sang: Nguyễn Trọng Tạo, HPNT, Nguyễn Quang Lập (Bọ Lập)
Có lần vào cửa hàng, con bé thấy sữa, nằng nặc đòi mẹ mua. “Con thèm sữa như cái lò xo hắn đã bật đến mức cuối cùng rồi!”. Chị thương con trào nước mắt. Thời gian đi thực tập, Dạ đưa con về cho Ông Tường (chữ Dạ hay dùng) chăm.

Đàn ông Huế xưa nay không ai lo việc bếp núc gia đình bao giờ. Thế mà Hoàng Phủ nuôi hai con nhỏ cả năm trời. Khi nấu ăn cho con Tường phải mở sách dạy món Huế. Mải đọc sách để tra cách nấu, ngoảnh lại thì đĩa xào đã bốc khói.

Cơm Tường nấu bao giờ cũng bị khê cháy vàng. Hai đứa nhỏ ăn quen đến độ, năm sau khi mẹ về nấu cơm chín trắng, chúng bảo: “Ba nấu cơm màu vàng, thơm hơn!”.
           
Ông Tường có lần  ngọng nghịu nói với tôi : "Mỹ  Dạ không chỉ là vợ mà là ân nhân của mình !”. Cuộc đời ông Tường đã cấp  cứu ở bệnh viện  năm bảy lần. Lần nào cũng thập tử nhất sinh.

Bây giờ, Ông Tường bị liệt nửa người, nằm một chỗ, muốn ngồi dậy Mỹ Dạ phải đỡ. Mỹ Dạ “bồng” Tường lên xuống xe lăn, đọc sách, báo, thư từ cho anh Tường nghe. Khi bạn bè đến thăm, ông Tường mừng quýnh , giục Dạ cho lên xe lăn. Những lúc đó anh nói ngọng không rõ tiếng, Mỹ Dạ phải làm “phiên dịch”.

Điện thoại của bạn bè như Lê Huy Cận, Đặng Tiến, Thái Kim Lan , Đinh Cường… từ Pháp, Đức, Mỹ hay Hà Nội, Sài Gòn… cho ông Tường, Mỹ Dạ đều phải dịch lại. Mỹ Dạ đi đâu xa một vài ngày là Ông Tường không ổn.

Có lần chị được Đài Truyền hình Huế mời ra Đông Hới để quay bộ phim tài liệu về chị do tôi viết kịch bản. Chiều tối chị  năn nỉ nhờ xe của tỉnh chở vô Huế ngay trong đêm “kẻo không ai chăm sóc ông Tường”. Trăm nghìn thứ việc chưa từng có ập xuống đời người phụ nữ làm thơ nổi tiếng ấy.

Tuổi ngày càng cao, Mỹ Dạ càng bị nhiều thứ bệnh tật hành hạ, viêm khớp, viêm xoang, nhức đầu, tim... Ngày nào cũng một  bì thuốc Tây với hàng chục thứ khác nhau. Có lần đưa chồng vào toilet, Dạ ngã ngay bậc cửa. Thế mà chị vẫn  hàng ngày dịu dàng bên chồng. Chồng ngủ rồi chị lại thức làm thơ.
Trái qua: Nguyễn Trọng Tạo, Phùng Quán, HPNT

Gần đây chị  lại viết ca khúc. Đến nay chị đã sáng tác được 12 ca khúc, trong đó bài hát  về làng quê mình bên sông Kiến Giang, về Tây Nguyễn rất  hay. Năm 2010, Mỹ Dạ đã cho ra mắt  một Album nhạc của mình.

Khát khao cháy bỏng của Mỹ Dạ là làm sao chữa cho Ông Tường đi lại được. Có lần, có ông thầy  từ Hà Nội vào, tìm đến nhà Dạ, xưng tên và  tự quảng cáo: "Tôi là người đã từng chữa bệnh cho các ông “Trung ương”. Nay nghe tin  anh Tường, nhà  văn lớn bị liệt, tôi xin nguyện chữa bệnh không mất tiền!”.

Thế là Dạ xúc động. Ông thầy thuốc xoa bóp chân cho ông Tường 3 buổi , rồi bảo Mỹ Dạ: "Thế là  sắp ổn rồi đấy. Bây giờ chị  mua cho anh Tường một lạng cao hổ cốt này, ngâm cho anh uống một tuần là khỏi!”. Lạng cao gần hai chục triệu đồng (năm 2008). Dạ không đủ tiền, phải điện vay Ngô Minh . Uống  xong mà bệnh vẫn không thuyên giảm. Hay là “cao lừa?”.

Nghe ai nói có thuốc gì hay, thầy nào giỏi, dù xa xôi, tốn kém đến mấy, Dạ cũng tìm bằng được. Nhưng những lần Dạ đưa chồng đi “tìm thầy”, cũng đa đoan lắm, vì thầy thuốc giỏi thực thì hiếm, mà “thầy thuốc “một tấc đến trời” thì nhiều.

Mỹ Dạ đi lùng mua mấy cái máy lắc chân cắm điện, để ông Tường lắc chân hàng ngày, sợ bị teo cơ do nằm một chỗ.
       
Năm 1999, nghe tin ở Bắc Giang có ông thầy  hay lắm, người nằm liệt giường không đi được, uống mấy thang của Thầy là  chạy nhảy được liền. Mỹ Dạ mừng quýnh, liền đi Hà Nội tìm thầy, năn nỉ mời thầy chữa bệnh cho chồng.

Thầy bảo phải đưa bệnh nhân ra Hà Nội để thầy bắt mạch, bốc thuốc trực tiếp. Đó là chuyến đầu tiên Mỹ Dạ “cõng” chồng đi chữa bệnh ở Hà Nội.

Mỗi lần đưa được ông Tường ra Hà Nội (hay đi đâu) quả là kỳ công, có trăm việc phải lo liệu, bố trí từ mấy hôm trước. Phải có mấy người “cõng” ông Tường từ trên lầu Khu chung cư Nguyễn Tường Tộ xuống phố. Đặt ông vào xe taxi. Tàu tới Ga Huế chỉ dừng 5 phút,  phải có hai người thật nhanh, thật khỏe mới kịp cõng ông Tường lên tàu. Lại phải có mấy người khác thúc hối nhau chuyển bao, gói lên tàu.

Nói Mỹ Dạ “cõng” chồng là nói "cõng” trên việc trù tính. Còn trực tiếp “bồng” Tường xuống lầu, lên tàu nhiều lần, tôi thấy thường có Võ sư huyền đai đệ thập đẳng karate Nguyễn Văn Dũng cùng các đệ tử, hay nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch.

Đó là chưa kể hàng chục bao gói túi xách  áo quần, chăn màn, sách vở, soong nồi, bát đũa, bếp ga, nồi cơm điện, phích nước... đi kèm theo, y như một chuyến chuyển nhà. Phải vài ba xe xích lô mới chở hết.

Ra đến Hà Nội , lại phải có người cõng ông Tường xuống tàu, lên xe con. Ở Hà Nội, nhà thơ Hữu Thỉnh và anh chị em ở Văn phòng Hội Nhà văn đã nhiệt tình bố trí chỗ ở cho ông Tường suốt ba tháng liền. Ba tháng điều trị, tính ra gần cả trăm tháng thuốc, Hoàng Phủ không  khỏi bệnh.
        
Năm 2000, nghe đồn ông thầy lang ở Đà Nẵng “bấm huyệt” chữa bệnh trăm người đều lành. Mỹ Dạ lại sốt sắng “cõng” ông Tường đi tàu hỏa vô Đà Nẵng. May mà ở Đà Nẵng đã có tốp bạn bè chí cốt như Lê Diễn, Vĩnh Quyền, Đà Linh,  Hoàng Trọng Dũng… lo cho chỗ nghỉ, không thì không biết tiền đâu chịu thấu.

Có lẽ thầy chưa hiểu bệnh của ông Tường là rất nặng, lại muốn ông Tường lành bệnh thật nhanh, nên thầy đã xoa bóp, mat-xa quá mạnh. Thầy bấm huyệt thật mạnh, vỗ thùm thụp vào lưng vào vai. Ông Tường đau nhừ người mà không dám kêu.

Mười ngày "đấm bóp”, ông Tường không thấy trong người tiến triển gì, nên “xin” Mỹ Dạ cho ra Huế. Rồi Lâm Thị Mỹ Dạ “cõng" Tường đi Sài Gòn , Hà Tây… Vất vả mấy cũng chịu đựng, chỉ mong mỏi  Hoàng Phủ lành bệnh.

Cuối năm 2002, Lâm Thị Mỹ Dạ nghe tin đồn ở vùng núi Khe Sanh, Quảng Trị có một “thầy” chữa lành rất nhiều người bị liệt không đi được, chỉ trong một thời gian ngắn. Dạ mừng quýnh, mấy lần nhờ bạn bè lên Khe Sanh thăm dò. Quả có một  “thầy"  như thế thật. Thế là Mỹ  Dạ lại “cõng” ông Tường đi chữa bệnh lần thứ tư.

Lại một chuyến vất vả “ chuyển nhà lên Khe Sanh”. May mà có ở Văn hóa - Thông tin Quảng Trị đưa xe vào  Huế chở cả nhà và UBND huyện Hướng Hóa dành một phòng ở nhà khách của Huyện cho ông Tường nằm chữa bệnh, không thì không biết tá túc ở đâu ở thị trấn miền núi ấy.

Tôi lên Khe Sanh thăm ông Tường và được mục  kích “thầy “đang chữa bệnh. “Thầy” tên là Phạm Thị Gái, 50 tuổi, có 11 đứa con, khuôn mặt dễ thương, sáng sủa.

Điều lạ lùng là “Thầy" Gái không biết một chữ bẻ đôi, làm nghề quét rác chợ Khe Sanh, lại đi chữa bệnh cho “một bồ sách khổng lồ” như Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Nghe nói bà Gái đã chữa cho rất nhiều bà con người dân tộc Vân Kiều liệt 3 năm rồi vẫn lành, đi lại được, có người chết rồi lại sống lại. Tôi hỏi “ Răng mà tài rứa?”. “Thầy” Gái cười, bảo :” Em mù chữ không biết thuốc men chi mô, đây là làm theo “lệnh trên", “trên” phù hộ là được!”. “Trên” ở đây có nghĩa là thần linh.

Bà Gái chữa bệnh theo kiểu dân gian: Chích, lễ và xông giác. Ba giờ chiều là chích lễ, giác. Những mảnh thủy tinh đập vỡ ra từ bóng đèn Hoa kỳ, được nhúng rượu “quốc lủi“ Khe Sanh thay cho cồn, rạch vào da huyệt, đốt giấy bỏ vào ống giác rồi úp lên chỗ rạch. Dân gian gọi đó là "bầu giác”. Máu màu đen tức là “máu độc”, cần phải  hút cho hết. Ông Tường toàn máu màu đen.

Thầy Gái giác hút khắp người đến hai tháng vẫn chưa hết. “Thầy” Gái còn chích lễ ở đầu lưỡi ông Tường. Ông Tường bảo đau lắm, nhưng phải chịu đựng. Hai đứa con gái Bê Líp, Bê Lim và Mệ, ai cũng hoảng sợ khi biết “thầy” châm mũi thủy tinh vào lưỡi ông Tường, mà chẳng có sự bảo hiểm nào...

Sau chích là xông. Khi xông, Thầy Gái cùng chui vào chăn để... “ bấm huyệt chân” cho ông Tường.

Tôi theo dõi, một lần xông 30 phút.” “Trò Tường” mặc quần đùi, mồ hôi ròng ròng. “Thầy Gái” mặc đồ bộ, ướt như tắm. Chữa bệnh dân gian đơn giản thế, mà theo ông Tường thì rất hiệu quả.

Ông Tường kể : “Toàn thân bên trái của mình trước đây nặng lắm. Bây giờ thì nhẹ nhõm hẳn. Có cảm giác như một khối bê tông bị đập bể!”.

Quả thực, ông Tường sau 5 tháng "Thầy" Gái ở Khe Sanh chữa chạy, giọng nói đỡ ngọng hơn, mặt mũi bình thường lại, lại có thể tự mình lật ngồi dậy trên giường, hoặc đứng bằng hai chân trên sân tới năm phút, lại có thể vung tay đến năm bảy lần khi Mỹ Dạ hô…

Và ông Tường lại làm thơ về Khe Sanh, về người Vân Kiều : "Tâm hồn Vân Kiều vốn thế/ Giúp đời chẳng quản công lênh...”. Đặc biệt , sau chuyến “thượng sơn” gặp "Thầy" Gái ấy, Ông Tường viết rất khỏe và đã tự  ngồi xe lăn viết viết thư cho con gái,  không nằm đọc cho Dạ, hay Mệ chép như trước nữa.

Mới tháng 10 dương lịch mà Ông Tường đã viết tới 10 bài báo Tết Giáp Thân theo đơn đặt hàng. Đây  là chuyến Mỹ Dạ đưa ông Tường đi tìm thầy thành công nhất. Nhưng rồi bệnh đâu hoàn đây, anh Tường không thể tự đứng lên được.

Cuối năm 2004, Lâm Thị Mỹ Dạ nghe báo chí viết về khu vườn lạ kỳ, chữa được bệnh ở Long An, chị đã tức tốc  vào Sài Gòn, rồi tìm đến tận Khu vườn ở ấp Đức Lập Thượng, Long An để khảo sát. Nữ thi sĩ của chúng ta đã chứng kiến rất nhiều người, kể cả cố Đại tướng Mai Chí Thọ, nhờ khu vườn mà khỏi hoặc thuyên giảm bệnh.

Mấy ngày sau, một chuyến đi Long An cho Hoàng Phủ Ngọc Tường được tổ chức. Tại ga Huế,  tôi và nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch, võ sư  Nguyễn Văn Dũng, nhà văn Trần Thùy Mai... tiễn đưa ông Tường, chụp ảnh chung với ông Tường và Dạ bên chiếc xe lăn để kỷ niệm, với hy vọng ông Tường sẽ không bao giờ ngồi xe lăn nữa.

Ở vườn  Đức Lập Thượng lạ kỳ đó gần ba tháng, Hoàng Phủ đã hàng chục lần tự đứng một mình không vịn đến năm phút.

Lâm Thị Mỹ Dạ mừng quýnh. Chị tin rằng, nếu  ở đây  một thời gian nữa chắc Hoàng Phủ Ngọc Tường sẽ chống gậy đi được.

Nhưng rồi  chính quyền địa phương có lệnh giải tỏa vì cho là “mê tín dị đoan”. Mỹ Dạ đã chạy khắp nơi, gõ cửa những người có quyền thế để kêu cứu cho chồng mình được tiếp tục chữa bệnh ở  Khu vườn Đức Lập Thượng ấy, nhưng  vô hiệu. Thế là ước mơ được đi đứng của ông Tường không thực hiện được.

Năm Tân Mão này, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tuổi 75. Có lẽ Tường không bao giờ  tự mình đứng ngồi, đi lại được nữa.

Hiện nay, hai con gái, cô lớn làm việc ở Sài Gòn, cô út nhà thơ lấy chồng định cư ở Mỹ. Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ vẫn hàng ngày chăm sóc chồng , như chăm một đứa trẻ…

Dù tuổi cao, nhiều bệnh tật xuất hiện, Mỹ Dạ vẫn đứng vững để cho "anh tựa vào em". Vâng!. Duyên là phận. Hai trái tim thơ biết đùm bọc nhau vượt qua tai ương cuộc đời, âu đó cũng là một bằng chứng của tình yêu, hạnh phúc giữa cõi đời cay cực này...
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
NHÀ VĂN HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG VÀ NHÀ THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ (12/2011)

2 vợ chồng Nhà văn

Nghe Nhà văn kể chuyện ngày xưa


 Tuyển tập mới của Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ


Nhà báo Minh Tự, Trưởng Đại diện Báo Tuổi trẻ TP bên Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường


Ngẩn ngơ nghe Nhà thơ kể chuyện ngày... chưa xưa



Nhà thơ viết lưu bút, tặng sách cho MTH

Lưu bút

Vất vả, lo toan nhưng vẫn không xóa nổi nét duyên của Huế - Xin cảm ơn Nhà thơ

SỰ ÍCH KỶ CỦA LÀNG BÁO.

Nguyễn Quang Lập - Mình rất cảm kích bài viết "Vì sao CA TP.HCM chưa bắt Hoàng Khương?" của Phan Lợi (Cũng không rõ là Phan Lợi hay Phan Muôn), nói về trường hợp thu Thẻ Nhà báo và đình chỉ công tác Nhà báo Hoàng Khương: “Xung quanh việc này Báo CAND và ANTG đăng nhiều bài chỉ trích cách thức tác nghiệp của Hoàng Khương, đồng thời đề nghị xử lý nghiêm hành vi gài bẫy CSGT của Nhà báo này, cho rằng đã cấu thành tội đưa hối lộ.”

Mình rất nhất trí với phân tích của Phan Lợi là, "Theo cách “lên tiếng” này, khả năng sau khi được Báo CAND “dọn đường”, Cơ quan CSĐT Công an TP. HCM sẽ khởi tố bị can (và có thể bắt) Nhà báo”.

Trước tình hình khẩn cấp như vậy, đáng lẽ Hội Nhà báo và Báo Tuổi trẻ phải ra sức tìm hiểu thực hư trước khi quyết định thu hồi Thẻ Nhà báo và đình chỉ công tác Hòang Khương, thì họ đã làm rất nhanh, dường như ngay tức thì đẩy Hoàng Khương đến chỗ mất việc mất nghề. Nói như Phan Lợi là đã "rất nhanh ghi bàn”, thảm hại thay.
Mình không quen Hoàng Khương, chưa gặp anh lần nào, cũng ít khi đọc bài của anh viết. Nhưng vì cùng hành nghề với nhau mình thấy xót xa quá.

Cái ông Phó Chủ tịch Hội Nhà báo bảo rằng: “Khi anh phát hiện ra có hành vi đưa, nhận hối lộ giữa người thi hành công vụ và người vi phạm, thì cách tốt nhất là anh nên trình báo cơ quan có thẩm quyền, để bắt quả tang và xử lý cả người đưa và nhận hối lộ”... Hi!. Hi!. Thế thì còn gì là Nhà báo?.

Ông này có lẽ chưa bao giờ đi viết bài chống tiêu cực. Cái điều mà ông nói là nghĩa vụ của một công dân.

Nhà báo ngoài nghĩa vụ công dân còn là nghĩa vụ của Nhà báo, họ phải bí mật đến phút cuối cùng trước khi bài báo được tung ra.

Nếu Nhà báo biết việc tiêu cực mà đi trình báo với  cơ quan có thẩm quyền, thì đảm bảo đến 99% phần trăm không bao giờ bài báo được tung ra nữa.

Đó là một sự thật mà bất kì ai hành nghề báo đều biết, ở ta hay thế giới đều thế cả. Người ta bí mật cho đến khi bài báo được tung ra, là để thực hiện đồng thời cả hai nghĩa vụ: Công dân và Nhà báo.

Về nghĩa vụ công dân, nói như  Phan Lợi rất đúng: “Tố giác của công dân” và “Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng”, có giá trị pháp lý ngang nhau, không cái nào “to” hơn cái nào”. 

Hơn nữa, tố giác công dân trên báo chí, bao giờ cũng hiệu quả gấp nhiều lần tố giác cho ai đó, ở nơi nào đó.

Bởi vì đó là sự tố giác công khai và minh bạch nhất. Không một Nhà báo nào ngu xuẩn đến nỗi, thấy tiêu cực lại đi tố giác kiểu như ông Phó Chủ tịch Hội Nhà báo đã nói cả, ngoài trừ đây là việc nhỏ không đáng viết một bài báo.

Đối với các Nhà báo đi chống tiêu cực, thì vấn đề là mục đích chứ không phải hành vi.

Để tóm gọn được một vụ tiêu cực, rất nhiều khi Nhà báo phải "bạn bè, cảnh hẩu”, phải ăn nhậu chơi bời, thậm chí có thể tham gia vào những việc tiêu cực kia, kể cả việc nhận và đưa hối lộ.

Đấy là việc nguy hiểm nhưng vì mục đích trong sáng người ta dám làm và dám chịu trách nhiệm. Cũng như hoạt động Tình báo vậy, nếu không ăn nằm với địch, không khen địch chửi ta, thì làm sao có thể có được những nguồn tin quí giá?..
Thực hư việc Hoàng Khương là thế nào, anh ta chống tiêu cực hay lợi dụng việc chống tiêu cực để trục lợi, cần phải xem xét một cách hết sức cẩn trọng, bởi vì nó hệ lụy đến sinh mạng chính trị và cuộc sống của một nhà báo.

Cái cách "sút tung lưới" đồng nghiệp quá nhanh, của Báo Tuổi trẻ TP.HCM và Hội Nhà báo khiến người ta nghi ngờ: Không biết mấy ông này làm báo hay làm bồi bút, bảo vệ đồng nghiệp hay bảo vệ cái ghế của mình?. Và các Nhà báo nữa, hơn 2.000 Nhà báo mà chỉ có vài người lên tiếng thôi sao?..

"Để khác với con vật, con người không thể im lặng chỉ vì miếng ăn” - Hôm nay, Nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã nói với mình như thế.
---------------------------------------------------------------------------------------------------------
* Hình ảnh trong bài chỉ có tính chất minh họa, không liên quan đến nội dung bài viết của tác giả NQL