Ngày 02 tháng 03 năm 2013

SỐNG Ở ĐỊA ĐẦU


Mai Thanh Hải - Ngày truyền thống của Bộ đội Biên phòng, cũng là ngày "Biên phòng toàn dân" (3/3/2013), tự dưng cứ lẩn mẩn nhớ về những ngôi nhà của người dân địa đầu Tổ quốc, sát vách đường biên, cùng Đồn - Trạm - Tổ Công tác Biên phòng bền gan canh mốc, giữ đất.

Những người dân đó, mới thực Biên phòng thứ 2, trên khắp dải biên cương...

Xóm Xéo Lủng (xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang) nằm ngay chân cột cờ Lũng Cú. Từ cột cờ đi ra, khoảng gần 2km và thuộc khu vực đường biên, chứ không chung chung "khu vực biên giới" như toàn xã Lũng Cú.

Nhắc đến Xéo Lủng, chả phải Biên phòng Đồn Lũng Cú mà mọi người lính Biên phòng đều nhớ đến tinh thần kiên trung giữ đất, bám bản của già trẻ lớn bé thuộc hơn 30 hộ dân trong xóm, cùng với Bộ đội Biên phòng.

Hồi chưa hoàn tất việc phân giới cắm mốc, Xéo Lủng là địa bàn cực nóng, ngày đêm đối mặt với âm mưu cướp đất của lính Trung Quốc, từ bên kia biên giới.

Chỉ từ năm 1991 đến năm 1998, phía Trung Quốc đã 2 lần kéo đốt phá nhà cửa, dồn dân Xéo Lủng vào sâu trong đất Việt.

2 lần xóm bị đốt, nhưng người Xéo Lủng vẫn trở về dựng lại nhà cửa, quyết không rời bỏ đất cha ông, giữ lấy từng tấc đất Tổ quốc.

Đáng kể nhất là sự việc ngày 4/3/1992, Trung Quốc cho gần 30 lính, dân mang theo vũ khí xâm nhập vào xóm Xéo Lủng, ngang ngược tuyên bố đất Xéo Lủng là lãnh thổ của chúng rồi nổi lửa đốt phá, làm cháy rụi 18 ngôi nhà, hơn 3,5 tấn lương thực và nhiều tài sản khác của người dân.

Bây giờ, mốc đã cắm. Xóm Xéo Lủng có đến 3 cột mốc (426, 427, 428) nằm ngay đầu xóm, lần lượt giang tay chạy xuống sát bờ sông Nho Quế và căn nhà đầu tiên ở cái mỏm đất nhô ra đỉnh nhọn của Tổ quốc, nhìn bao quát 2 cánh trái - phải, bao quát 3 cột mốc địa đầu, là nhà Sùng Mý Mỉ.

Mỉ sinh năm 1981, hiện là Bí thư Chi bộ xóm, Ủy viên BCH Đảng bộ xã Lũng Cú.

Nhìn trẻ thế đấy, nhưng Mỉ đã có 2 nhóc tỳ lít nhít, vui vầy cùng cô vợ cũng người Mông, tên Sùng Thị Chúa, ngày ngày trông mốc đá biên cương.

Mình biết và chơi với Mỉ mấy năm rồi, chả nhớ nữa. Chỉ biết mỗi lần lên Đồng Văn, nếu không rẽ qua Lũng Cú, trèo lên Xéo Lủng với Mỉ, cứ bồn chồn - đau đáu thế nào ấy.

Nhớ có lần lên nhà chơi uống rượu, thấy Mỉ đánh vật với cái đài nối cả dãy pin Con thỏ to vật, nhằng nhịt dây cao su, mình tặng Mỉ trăm nghìn, dặn: "Mua cái đài mới của Việt Nam và chỉ nghe Đài Tiếng nói Việt Nam thôi nhé!".

Mỉ ngần ngừ: "Khó đấy" và khi nói mãi, Mỉ mới quyết tâm "Hôm nào xuống Hà Giang, mình sẽ tìm!".

Dặn thế thôi, chứ thừa biết ở đất nước mình, hàng Tàu xâm nhập đến tận nhà vệ sinh, kiếm hàng Việt khó hơn... leo mốc, việc phải dùng đồ Tàu ở cái nơi sát sạt Tàu, là chuyện cực kỳ bình thường.

Ấy thế nhưng Mỉ lại khác. Bẵng đi vài tháng, một buổi tối điện thoại mình nhấp nháy số Mỉ. Bên kia đầu dây, giọng gấp gáp: "Mình trả lại tiền anh Hải thôi. Không tìm thấy đài Việt Nam nói tiếng Việt Nam đâu. Cả Hà Giang không có, khó lắm!".

Giời ạ!. Hóa ra là cu cậu tìm khắp, để mua cái radio sản xuất tại Việt Phương Nam thật. Người Mông chúng mình, thật thà và chất phác, bao đời rồi chứ đâu phải hôm nay.

Lại có lần lên nhà, khi về bị cả xóm đến chơi, chuốc rượu ngô đến quắc cần câu, vậy mà Chúa, vợ Mỉ vẫn nằng nặc dúi vào tay miếng thịt lợn treo gác bếp nóng hổi, thơm nực bọc trong lá chuối rừng thơm chát: "Về Hà Nội chắc xa lắm. Phải mang đi ăn dọc đường thôi!".

Người Mông chúng mình, đã yêu ai là lo lắng cho nhau, như ruột thịt như chính bản thân miếng ăn, hớp nước cho mình.

Tết này lên Lũng Cú đúng dịp mồng 5, hoa cải vàng rực, hoa mận trắng tinh khôi khắp vùng đất địa đầu. Mỉ phóng xe máy xuống tận Trạm Biên phòng Lũng Cú, đưa cả nhà mình lên Xéo Lủng thăm bà con và tất nhiên, không thoát khỏi màn... uống rượu anh em.

Tết nay, nhà Mỉ thịt những 2 con lợn. Người xuôi mới lên, nghe nói vậy cứ tròn mắt: "Giàu thế á?".

Ớ á cái gì!. Thịt lợn ấy đều được cẩn thận xẻ ra thành miếng dài, treo trên gác bếp để ăn dần cả năm đấy.

Cứ đến bữa, lại rón rén cắt 1 miếng, nấu nhếu nháo với rau cải, thành canh có mùi thịt vị mỡ, nuốt với mèn mén dịp giáp hạt, cho đỡ cơn đói lòng...

Ở nơi địa đầu này, đến đất trồng rau cũng thiếu, phải tỉ mẩn tranh từng vốc đất với đá tảng sừng sững, cây ngô muốn sống cũng vắt vẻo thò rễ hút đá, lấy đâu ra thóc ra gạo mà ăn, như ở dưới xuôi?..

Thế nhưng vẫn phải sống, bền gan mà sống bởi đó là đất ông cha.

Trên khắp dải biên giới phía Bắc dài dằng dặc, đối tượng từ bên kia biên giới sang ta, đều vập mặt với bộ đội Biên phòng. Nhưng ở Xéo Lủng, Trạm Biên phòng Lũng Cú đóng ở phía sau, nên người gặp đầu tiên là các thành viên trong gia đình Sùng Mý Mỉ, từ bé lít nhít 3 tuổi cho đến bà mẹ, đã gần 70.

Ở nhà Mỉ, có 3 thứ để sẵn ở các đầu giường, bất di bất dịch.

Đó là chiếc đèn pin, cây gậy và con dao đi rừng.

Chiếc đèn pin dùng để soi thủng màn đêm tìm người lạ, khi chó sủa hướng dưới thung sâu.

Cây gậy, để gõ vào cột nhà, báo động cho cả xóm rùng rùng kéo đến, đánh đuổi người lạ.

Con dao rừng, để mỗi ngày xuống thăm cột mốc, phát cỏ chặt cây, le ve lá lấn lên thềm bê tông.

Đến nhà Sùng Mý Mỉ - Ngôi nhà cheo leo trên thửa đất như trên đỉnh vực, vươn ra nơi tận cùng thôn địa đầu Xéo Lủng: Đối mặt bên kia là đất Trung Quốc, xám xịt màu chết chóc, núi đồi trọc lốc như dậm dọa, lở loét đường sá, nhôm nhoam dọc ngang giống như công sự; hạ mắt xuống là vực sâu thăm thẳm, dòng sông Nho Quế xanh biếc và bé tý, như sợi chỉ khâu; ngước mắt lên, bầu trời cao xanh thăm thẳm, mây cuộn thành dải tròn như thể khói hương... mới cảm nhận rõ sự thiêng liêng đúng nơi địa đầu Tổ quốc.

Cũng từ những lần ngồi lặng trên sân nhà Mỉ, bên cạnh bà mẹ cặm cụi dệt vải, nhưng thi thoảng vẫn nhướn mắt bao quát bờ sông Nho Quế dưới thung sâu.

Nhìn bọn trẻ con luồn bờ rào ngay trên bờ đất, rúc rích cười sau tầng tầng hoa trắng cây mận góc sân nhà.

Nghe tiếng lục cục lợn đòi ăn khi vợ Mỉ khệ nệ bê cám, ra cái chuồng lợn, cũng nằm cheo leo trên đỉnh vực...

Mới thấy cái gia đình này, xóm Xéo Lủng này thực gắn bó máu thịt với đất đai ông cha và chấp nhận tất cả, để giữ cửa nhà - làng xóm.

Biên giới có thực toàn vẹn - vững bền, bên cạnh những người lính Biên phòng, là gấp bao nhiêu lần công sức, mồ hôi, gia tài và có khi cả máu, của những người dân, bao đời ăn ngủ, sinh sống, trông coi cột mốc, đường biên như gia đình Sùng Mý Mỉ, người dân xóm Xéo Lủng, nơi ngút ngàn vất vả, gian lao
------------------------------------------------------------------
* Nhân kỷ niệm 54 năm ngày Truyền thống Bộ đội Biên phòng (3/3/1959-3/3/2013) và 24 năm ngày Biên phòng Toàn dân (3/3/1989-3/3/2013), Chương trình Áo ấm biên cương đã trao tặng Cán bộ chiến sĩ Trạm Kiểm soát Biên phòng Lũng Cú 1 màn hình ti vi TOSHIBA 32inch (thay cho tivi cũ đã bị hỏng cách đây nửa năm).

Bên cạnh đó, Chương trình cũng tặng 10 áo khoác ấm, 10 đôi ủng, 10 mũ len cho 10 cháu bé của các gia đình thuộc thôn Xéo Lủng sinh sống sát cột mốc.

Thượng úy Nguyễn Vũ Quỳnh, Trạm trưởng Trạm Kiểm soát Biên phòng Lũng Cú (Đồn Biên phòng Lũng Cú, BCHBP Hà Giang), thay mặt Chương trình Áo ấm biên cương, trao số quà này.

Ngày 28 tháng 02 năm 2013

"TRƯỜNG CỦA EM RÁCH NÁT, NẰM Ở GIỮA RỪNG HOANG"?..

Mai Thanh Hải - Mười mấy năm trước, chuyến công tác đầu tiên trong đời làm báo, lên xã biên giới ở huyện Quản Bạ (Hà Giang), khi đi qua điểm trường nằm ở bản, mình tròn xoe mắt ngạc nhiên khi thấy cái túp lều được gọi là lớp học, nằm trơ trọi giữa tứ bề núi đá trọc lốc.

Từ ngạc nhiên chuyển sang... khâm phục các cô các trò, bởi trường làng mình học ở vùng ngoại thành đất Cảng, ít nhất cũng có bàn ghế gỗ đặt trên nền đất lồi lõm và ít nhất cũng có mái che nắng, tường che mưa, bảng đen để viết, chứ không thông thống, dột nát và trò phải ngồi thân cây, cô dùng tường nứa làm bảng, như trên miền núi...

Bao năm đi làm báo, có lúc chợt giật mình tự trách, bởi sự ngạc nhiên - khâm phục ngày xưa đã trở thành vô cảm, vì đến vùng cao biên giới nào, cũng vẫn gặp những lớp học - ngôi trường như thế, nằm heo hút giữa thung sâu - núi cao.

Mà không ít đâu nhé!. Càng những điểm trường nằm xa đường đi lại, càng gặp những cảnh rách nát và cô trò dạy và học, cứ như đánh trận.

Mùa hè còn đỡ, bởi mưa rào, còn lấy lá che đầu, giữ sách ngồi học.

Mùa đông dài dằng dặc, mới thấy cực khổ khi cả cô trò dúm dó như những con chuột, run cầm cập bởi gió lạnh vẫy vùng, sương mù luồn vào đặc quánh, che lấp cả tầm mắt trẻ con nhìn lên bảng.

Nhiều người hỏi: "Sao không đốt củi để sưởi?".

Ối giời!. Càng lên cao càng thấy hết rừng, núi đồi trọc lốc, đến kiếm củi nấu ăn còn khó, thứ để đốt, duy nhất là thân và lõi ngô để dành, sau vụ thu hoạch.

Chả thế mà bọn học sinh nội trú, cứ thứ 6 cuối tuần là được nghỉ buổi chiều, cho về sớm với bố mẹ, để ngày thứ Bảy và Chủ nhật đi kiếm củi, bòn lõi ngô, đầu tuần lếch thếch cùng sách vở - mắm muối đến Trường, để làm thứ nấu cơm canh, ăn cả trong tuần tới.

Mình không theo dõi về mảng Giáo dục - Y tế, nhưng cũng biết là đầu tư cho Giáo dục, nhất là xây dựng trường lớp các tỉnh vùng cao biên giới nhiều lắm.

Chả hiểu, số tiền ấy chậm giải ngân hay ở nước mình, nhiều cơ sở giáo dục quá mà qua bao năm, những nơi dạy con chữ - rèn con người vẫn cứ hồn nhiên đến mông muội, nguyên thủy vậy?.

Mình đang cùng các anh chị trong tít Sài Gòn huy động tiền bạc - công sức để triển khai xây dựng điểm Trường Háng Gàng (xã Pá Hu, Trạm Tấu, Yên Bái) 2 gian lớp học, tít trên đỉnh núi. Dẫu xa xôi, mọi thứ đều phải mang vác trên vai giáo viên, bộ đội, dân quân và phụ huynh, nhưng nhà lắp ghép, cũng chỉ gần 400 triệu.

400 triệu cho một ngôi trường rộng rãi, ấm áp, kín gió và dạy dỗ mỗi năm gần 100 đứa trẻ.

Chỉ 10 năm học, sẽ có cả nghìn đứa trẻ được học ra học, người ra người.

Như thế có hiệu quả - chất lượng, so với việc dạy khổ học sở như ở những nơi "trường của em rách nát, nằm ở giữa rừng hoang", bây giờ không, nhỉ?..
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------
 * Hình ảnh do MTH, các Thành viên Chương trình Áo ấm biên cương và đồng nghiệp, ghi được trong các chuyến công tác, khảo sát tại các tỉnh vùng cao biên giới phía Bắc. Một số ảnh đã được đăng tải trên mạng xã hội FB, OF, Phượt...

ĐÂY LÀ CHÂN, CỦA TRẺ EM MIỀN NÚI

Chân trần vượt suối trèo đèo và bị thương rách tướp, vẫn chỉ 1 manh giẻ quấn, để tiếp tục con đường đến lớp. Trên khắp miền núi cao biên giới xa xôi, nhất là những nơi đối mặt với láng giềng Trung Quốc, có biết bao nhiêu đứa trẻ chịu cảnh chân trần - quấn giẻ thế này?.. Chương trình Áo ấm biên cương chúng mình đang kêu gọi, thu gom, quyên góp, mua sắm quần áo mũ khăn ấm, giầy dép tất, sách vở - đồ chơi và bánh kẹo, lương thực - thực phẩm lên tặng gần 500 trẻ em vùng cao biên giới xã Xín Mần (huyện Xín Mần, Hà Giang) đầu tháng 3/2013 tới (Đây là chuyến hàng thứ 5 của chúng mình, trong năm học 2012-2013, đến với các khu vực biên giới - biển đảo cực kỳ khó khăn). Cô bác nào làm doanh nghiệp sản xuất giày dép, ủng hộ các cháu ít đôi, thì quý hóa quá và chúng mình cùng bọn trẻ, ơn lắm lắm!...(Xem Thông tin về chuyến đi Ở đây; Hình: Quỷ Cốc Tử)

Ngày 27 tháng 02 năm 2013

VIETTINBANK NINH BÌNH THỪA NHẬN HOÀNG SA - TRƯỜNG SA LÀ CỦA TRUNG QUỐC?..

Quả địa cầu này, do Ngân hàng Viettin Bank, Chi nhánh Ninh Bình tặng cho 1 khách nước ngoài. Điều đáng nói là quả địa cầu có in chữ SOUTH CHINA SEA (mấy từ phiên âm tiếng Trung Quốc ghi chú ở khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa). Bạn đọc đang tự hỏi: Nguồn cơn nào khiến VTB Ninh Bình khẳng định khu vực Biển Đông là South China Se và 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam là Tây Sa, Nam Sa... rồi in trên tặng phẩm cho khách hàng cả trong và ngoài nước). Phải chăng, Viettin Bank Ninh Bình công nhận Hoàng Sa - Trường Sa là của Trung Quốc?..

Nguồn: Nguyễn Tuấn Linh FB

THẦY THUỐC Ở TRƯỜNG SA

Mai Thanh Hải - Mình có nhiều kỷ niệm, gắn bó với anh em Quân y các đảo, nhất là Trường Sa.

Nhớ hồi 2008, công tác Trường Sa 15 ngày theo tàu HQ-996.

Nửa chừng chuyến đi, tối đang cơ động gần Sinh Tồn thì Phùng Nguyên (hồi ấy là PV Báo Tiền phong, nay vẫn rứa) đau bụng dữ dội, cả Y sĩ và mấy cán bộ Quân y cùng Đoàn Công tác cũng chịu, không biết là bệnh gì.

Rút cục, Trung tướng Huấn (PCN TCCT, Trưởng Đoàn Công tác) phải lệnh cho tàu quay lại, chuyển Phùng Nguyên vào đảo để xử lý.

Đêm đen như mực, sóng lại nâng cấp. Mình đại diện cho cơ quan - đồng nghiệp và Nguyễn Thế Hùng (Hồi ấy PV Tạp chí VNQĐ, nay sang VNCA), đại diện cho quê hương choàng áo phao, thít chặt quai mũ cối, nhận nhiệm vụ đưa Phùng Nguyên từ tàu vào đảo.

3 thằng được ưu tiên đưa thẳng vào xuồng tăng bo, mình và thằng Hùng đứa đầu đứa chân, giữ chặt thằng Nguyên trong lòng xuồng, vẫn đau quằn quại và chiếc cẩu trên tàu nâng cả xuồng lên, đặt òa xuống biển, lắc lên lộn xuống giữa đêm đen đặc.

Mãi lúc sau, xuồng kéo mới được hạ xuống và tạch tạch chạy đến nối dây, 2 chiến sĩ ngồi trên đó thay nhau lái - chỉ, kéo xuồng tụi mình vào chỗ cập.

Xuồng vừa vào gần đảo, bộ đội đã đứng đầy trên bờ, chiếu đèn lao xao và thấy xuồng loay hoay đè sóng vào bến, cả chục lưng lính ta nhảy ào xuống, túm dây, kéo xuồng vào bờ đá. Cũng chừng ấy lưng lính, nhấc bổng Nguyên đặt lên cáng, chạy hùng hục về Phòng Quân Y đang sáng trưng điện, đông đặc người.

Đêm ấy, hình như cả đảo thức, cứ đứng chén chúc ngoài cửa sổ, im lặng nhìn 2 bác sĩ tăng cường từ Bệnh viện 103 chăm sóc - nắn bóp - tiêm thuốc cho Nguyên, không một phút rời giường bệnh (mình và thằng Hùng cũng được 1 đêm thức, nhưng gần sáng được dịp lang thang khắp đảo, ngắm 1 đêm trăng tuyệt đẹp mà chắc chắn, ít ai được chứng kiến). Hình như quá cảm kích trước sự quan tâm - chăn sóc của anh em Quân Y, gần sáng thằng Nguyên lăn ra ngủ và sáng hôm sau tỉnh queo, chả đau đớn gì nữa, như bị ma làm, nằng nặc đòi ra tàu, về đất liền...

Có lên tàu ra đảo, lại xa tít Trường Sa, mới biết sự bất trắc nhiều đến chừng nào, sự sống mong manh nhường nào và sự cần thiết của Quân y, cần thiết đến cỡ nào. Tất cả các điểm đóng quân, phương tiện nổi đều có ít nhất 1 Quân Y đấy, nhưng thực ra, do thiếu thốn và điều kiện hoàn cảnh, nên trang thiết bị, thuốc Y tế cũng chỉ dừng lại ở đâu bụng, nhức đầu, sổ mũi...

Cố gắng lắm, cũng chỉ tìm về được đảo lớn cấp 1, để phẫu thuật nhưng cũng rất thông thường, kiểu như cắt ruột thừa - nhổ răng, còn lại gọi máy bay lạch phạch bay ra, chuyển về đất liền cứu chữa.

Vậy mà so với ngày xưa, đã "1 trời 1 vực" bởi ít ai chứng kiến những cảnh cấp cứu ngoài đảo, bộ đội xúm lại giữ người bệnh, không cho lăn lộn bởi không có... thuốc gây mê; buộc răng người bệnh cắn ngập thân dép cao su và trói gô, ghì chặt, để báo sĩ thuận việc cầm... cưa gỗ, cắt xoèn xoẹt vào xương, cắt bỏ.

Xưa - Nay: Có thể điều kiện làm việc khác hẳn với công việc chữa bệnh, cũng nhàn nhã và nhiều sự tiến bộ KHKT giúp hơn. Thế nhưng, có điều không bao giờ thay đổi là những người lính - thầy thuốc ngoài đảo, vẫn đầy tràn chất lính, át cả gương mặt thầy thuốc. Tức là vẫn tham gia các chế độ trong ngày, đêm hay ngày, đến phiên trực vẫn cứ phải ôm súng gác canh đảo và bao nhiều bà rằn khác...

Họ, mới thực là những thầy thuốc bác sĩ, đau đáu với từng mạng sống của đồng đội - đồng bào ở tít tắp nơi xa, không màng đến phong bì, quà tặng, vật chất, nhậu nhẹt, như nhiều đồng nghiệp (có cả mặc áo lính), đang phởn phơ ưỡn bụng trong đất liền.

Những nhân cách đó, là thứ không thể có được, nếu không rèn luyện ở môi trường thực sự rèn giũa cốt cách và ngày này, xin được gửi đến họ niềm tri ân, bởi không có họ, cũng thể cũng chẳng có người, để giữ đảo xa..