Hiển thị các bài đăng có nhãn TRƯỜNG SA-DK. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TRƯỜNG SA-DK. Hiển thị tất cả bài đăng

15 tháng 4, 2016

NÓNG BỎNG TRƯỜNG SA

(Thanh Niên) - Tháng 4, Trường Sa biển lặng như trong ao, nắng chát chúa từ 5 giờ sáng đến 6 giờ tối, hơi nóng làm mềm đi những vụn đá san hô quanh đảo và cháy thành những ngọn lửa nhỏ sục sôi trong mắt những người lính giữ Trường Sa, những người khách đất liền ra thăm Trường Sa.

Cô Lin ngay sát Gạc Ma

Nhìn từ xa, đảo chìm Cô Lin bé tí như hạt muối vừng thơm thảo so với đá Gạc Ma phía Trung Quốc (TQ) đang cấp tập xây dựng trái phép, trắng hếu và thô kệch như nắm đấm của kẻ cướp. Thượng úy Phan Văn Huỳnh, Chỉ huy trưởng đảo Cô Lin lưng đẫm mồ hôi đón khách, báo cáo tình hình nhưng cứ tí lại chạy ra ngoài dán mắt vào kính ống nhòm TZK chuyên dụng, hướng sẵn phía đông nam là đá Gạc Ma. Gương mặt già sọm so với tuổi, Huỳnh kiệm lời chắc nịch: “Phải theo sát 24/24, không đùa được anh ạ!”.
Trên đài quan sát nóc đảo chìm, chiến sĩ Lê Thanh Hòa (23 tuổi, quê Phúc Thọ, Hà Nội) gọn gàng trong mũ sắt, quân phục dã ngoại, súng ghì chắc, cũng liên tục dán mắt vào kính TZK, quan sát phía đá Gạc Ma.

Nếu nói đến mức độ căng thẳng thì đảo chìm Cô Lin đứng đầu bảng trong số 33 điểm đóng quân của bộ đội ta trên toàn quần đảo Trường Sa, bởi Cô Lin chỉ cách đá Gạc Ma 3,5 hải lý. Cách đây hơn 27 năm, ngày 14.3.1988, phía TQ bất ngờ nổ súng bắn cháy, chìm 3 tàu vận tải quân sự và giết hại 64 cán bộ chiến sĩ Hải quân nhân dân VN đang làm nhiệm vụ bảo vệ, củng cố tôn tạo Gạc Ma. Ngay sau đó, phía TQ xây dựng căn cứ gồm 3 kết cấu hình bát giác nằm trên cọc gỗ trên bãi Gạc Ma. Đến đầu năm 1989, họ đã hoàn thiện lô cốt xi măng cao 2 tầng và củng cố dần thành nhà bê tông 4 tầng. Từ đầu 2014, phía TQ tập trung tàu thuyền, phương tiện cơ giới hiện đại nạo vét san hô, chuyên chở vật liệu, tiến hành đào đắp để xây nhà công trình, đường sá, bến tàu và các hạng mục kiên cố khác. Thời kỳ cao điểm, bên cạnh hàng chục tàu vận tải, phía TQ còn huy động các tàu cá bọc sắt, tàu hộ vệ tên lửa xua đuổi các tàu thuyền khác đi gần bãi đá.

Tháng 4.2014, trong chuyến công tác ngoài Trường Sa, tôi đã chứng kiến cảnh các tàu vận tải TQ tập trung chuyển tải trang thiết bị - vật liệu xây dựng lên bãi Gạc Ma. Tháng 12.2014, tham gia chuyến đối ngoại quân sự kết hợp tuần tra đường dài - huấn luyện trên biển cùng Biên đội tàu Hộ vệ tên lửa 011, 012 của Lữ đoàn 162 (Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân), sát qua Gạc Ma khoảng 3 hải lý, tôi cũng ghi hình hiện trạng các công trình xây dựng trái phép của TQ, với khung tòa nhà trung tâm và các hạng mục khác.
Giữa tháng 5.2015 này, có mặt tại vùng biển Cô Lin - Gạc Ma, càng thấy tốc độ xây dựng của những kẻ chiếm đóng trái phép: Tòa nhà trung tâm (Sở Chỉ huy) cao 7 tầng có đường dẫn cho xe cơ giới lên thẳng tầng 2 đã cơ bản hoàn thành, phía trên tầng 7 có thêm đài quan sát cao 3 tầng; 2 đơn nguyên hình tháp cao 6 - 7 tầng, giống đài kiểm soát không lưu và hải đăng; gần 10 đơn nguyên còn lại đều 1 - 2 tầng, xây kiên cố theo kiểu doanh trại...

Những phát pháo hiệu bắn từ Huy Gơ

Trưa 11.5.2015, tàu 571 (Hải đội 411, Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân) đưa chúng tôi đi sát đá Huy Gơ (hay còn gọi là đá Tư Nghĩa) của VN bị TQ cưỡng chiếm từ cuối tháng 2.1988 và cũng đang được rầm rộ xây dựng trái phép. Cách 5 hải lý, trên bộ đàm đã líu lô tiếng TQ dậm dọa. Mặc! Con tàu vẫn cắt sóng tiến vào gần. Lập tức, 3 phát pháo hiệu đỏ lòm bắn cách nhau khoảng 30 giây phụt lên cao đe dọa và khói đen của chiếc tàu cá bọc sắt trực ngay sát bãi đá cuống quýt khởi động máy.
Nhìn bằng mắt thường cũng thấy tòa nhà trung tâm (nhà chỉ huy) cao 6 tầng chuẩn bị hoàn tất, chỉ còn 3 tầng dưới được quây kín cho công nhân gia cố cửa; tòa tháp giống Đài chỉ huy bay cũng sắp dỡ giàn giáo bên ngoài; nhiều cây xanh đã được trồng xung quanh; riêng khu vực cuối đảo chạy dài vẫn đang được quây kín bằng hàng rào và vỏ container, giống đang hoàn thiện công trình ngầm... Do diện tích xây dựng lớn hơn Gạc Ma nên phía TQ tập trung 6 cần cẩu (trong đó có 1 cẩu tự hành cao hàng trăm mét), 7 tàu vận tải xây dựng đang chuyển trang thiết bị - vật liệu xây dựng lên cho công nhân xây dựng các hạng mục công trình. Trên 2 tàu chở cát mới hạ mũi vào rìa bãi đá, các công nhân xây dựng trong trang phục bảo hộ lao động nhốn nháo chạy, khi thấy tàu 571 của VN tiếp cận từ phía xa.

Cờ đỏ Trường Sa

Nguyễn Văn Dũng là Chính trị viên 1 tàu trực trên vùng biển Sinh Tồn Đông, suốt 3 tháng trời nay làm nhiệm vụ ngoài biển. Khi đại tá Rah Lan Lâm, Phó giám đốc Công an tỉnh Gia Lai đi cùng đại diện Quân chủng Hải quân sang thăm tàu, tặng quà và ngỏ ý muốn xin 1 lá cờ đã sử dụng mang về Phòng Truyền thống của Công an tỉnh Gia Lai, Dũng cười rất tươi chỉ tay lên lá cờ Tổ quốc bạc phếch nắng gió, 5 cánh sao vàng sáng trung trinh trên nóc tàu: “Chúng em cũng đang định thay cờ mới, để mai đi làm nhiệm vụ mới!”.
Trưa hôm sau, khi tàu chúng tôi tiến lại gần đá Huy Gơ, đã thấy tàu của Dũng áp sát đá Huy Gơ từ bao giờ, trên đỉnh cột cờ nóc đài chỉ huy, lá cờ mới phần phật tung bay, nổi bật nền đỏ sao vàng giữa ngổn ngang bê tông xám xịt. Dọc hải trình của chúng tôi, từ Song Tử Tây, Đá Nam cho đến Sơn Ca, Nam Yết, Cô Lin, Sinh Tồn Đông, Đá Lát... đến đâu cũng gặp những lá cờ mới đỏ thắm sao vàng trên mọi vị trí cao của đảo, nóc tàu trực - tàu hàng.
Tháng 5, Trường Sa bao giờ cũng nóng. Năm nay, sức nóng ấy bỏng lên như chưa bao giờ thấy. Nóng từ nắng lửa, từ mạn tàu, từ màu cờ Tổ quốc trải khắp quần đảo và mỗi giọt máu người Việt, từ bến bờ ra với Trường Sa...

Liên tục đe dọa
Việc phía TQ đe dọa các tàu VN khi đi gần các bãi đá mà họ cưỡng chiếm, đang xây dựng trái phép diễn ra liên tục. Thậm chí, ngày 10.5, phóng viên Nguyễn Chung của Báo Thanh Niên đi trên tàu 996 (Hải đội 411, BTL Vùng 4 Hải quân) đi cách đá Xu Bi khoảng 3,7 hải lý cũng ghi nhận : tàu vận tải đổ bộ 996 của Hải quân TQ trang bị 3 bệ, 6 khẩu pháo 37 mm lao ra ngăn cản, đe dọa không cho vào gần bãi đá.
Ngư dân Nguyễn Sanh Thiện (sinh năm 1977, ở thôn Quý Hải, Long Hải, Phú Quý, Bình Thuận), chuyên đánh bắt hải sản ở vùng biển Trường Sa cho biết: Tại đá Chữ Thập, phía TQ duy trì nhiều ca nô cao tốc, các tàu cá vào cách 3 hải lý là bị đẩy đuổi, ban đêm thì bị cảnh cáo bằng pháo hiệu và trấn áp bằng đèn pha công suất lớn rọi thẳng vào buồng lái; ở đá Châu Viên, lính TQ sẵn sàng nổ súng chỉ thiên cảnh cáo, thậm chí bắn chặn trước mũi các tàu cá vào gần đánh bắt...
Mai Thanh Hải

4 tháng 4, 2016

TÀU HẢI QUÂN CẤP NƯỚC NGỌT CHO ĐBSCL

Bé trai chăm chú theo dõi các thao tác cập cảng của bộ đội Hải quân trên tàu
Thanh Niên - Lần đầu tiên, Quân chủng Hải quân điều các tàu chuyên dụng tiếp tế nước ngọt cho Trường Sa - nhà giàn DK1, làm nhiệm vụ cứu hạn mặn cho người dân ĐBSCL.

Liên tục trong những ngày cuối tuần qua, các đơn vị thuộc Quân chủng Hải quân đã triệt để chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, khẩn trương điều các loại phương tiện - lực lượng làm nhiệm vụ cứu trợ, giúp đỡ đồng bào khu vực vùng bị hạn hán, nhiễm mặn ở các tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bình Thuận, các tỉnh khu vực Tây Nguyên...

Đặc biệt, ngay khi nhận mệnh lệnh, Sở Chỉ huy Lữ đoàn 125, thuộc Bộ tư lệnh Vùng 2 Hải quân đã điều tàu 935 đang trực chiến tại TP.Vũng Tàu, nhận 200 m3 nước ngọt, hành quân xuống khu vực ven biển tỉnh Bến Tre. Sau 1 ngày hành trình, vượt qua gần 70 hải lý đường biển, tàu 935 đã cập cảng cá Bình Đại (Bến Tre) cấp nước cho các hộ dân trông chờ nước ngọt trong huyện Bình Đại.

Chỉ 20 phút sau khi cập cảng, cán bộ chiến sĩ tàu 935 cùng Đoàn công tác của Lữ đoàn 125 hành quân theo đường bộ đã triển khai việc cấp nước cho các ghe xuồng, xe bồn của người dân 2 xã Bình Thắng, Hòa Đại Lộc.
Xe tải chở nước của Lữ đoàn 125 cơ động chuyển nước đến nhà người dân

Bên cạnh đó, thượng tá Hoàng Minh Dũng, Phó Chính ủy Lữ đoàn 125 cũng dẫn đầu xe tải chở nước của Lữ đoàn đến từng hộ dân có hoàn cảnh khó khăn trong xã để cấp nước và tặng vật dụng chứa nước như thùng nhựa, can đựng nước, bình nước uống...

Số vật dụng này được mua sắm từ số tiền hơn 40 triệu đồng, do cán bộ chiến sĩ trong Lữ đoàn quyên góp, gửi tặng đồng bào vùng hạn hán, ngập mặn khu vực ĐBSCL.

*****
Tàu chuyên dụng chở nước mang số hiệu 935 thuộc Hải đội 812, Lữ đoàn 125, Bộ tư lệnh Vùng 2 Hải quân tiến vào cảng cá Bình Đại (Bến Tre) trong sự ngạc nhiên của các ngư dân

Đây là tàu chuyên làm nhiệm vụ chở nước tiếp tế cho các đảo Trường Sa, nhà giàn DK1 và các tàu trực chiến bảo vệ Biển Đông của Quân chủng Hải quân

Người dân huyện Bình Đại (Bến Tre) đổ xô ra cầu cảng chờ đón tàu Hải quân lần đầu tiên cập cảng


Vừa cập cảng, bộ đội tàu đã mở boong chứa nước ngọt sẵn sàng

Cắm vòi bơm để cấp nước

Nước ngọt bơm xuống lòng ghe chứa nước của người dân

Việc cấp nước có sự phối hợp của Ban chỉ huy quân sự huyện Bình Đại và dân quân các xã

Các ghe dân túc trực chờ được bơm 

Niềm vui của người dân khi nhận nước ngọt miễn phí từ tàu Hải quân

3 vòi bơm phát huy hết công suất

Trên cầu cảng, việc bơm nước cho các xe bồn của dân cũng rất khẩn trương

Ngoài phương tiện tàu biển, Lữ đoàn 125 còn đưa xuống xe tải và bồn nước để chở đến tận nhà những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, neo đơn

Bơm nước vào can cho các hộ dân đã tập trung đợi sẵn

Thượng tá Hoàng Minh Dũng, Phó Chính ủy Lữ đoàn 125 tặng nước ngọt cho mẹ Võ Thị Liệt, 77 tuổi ở ấp Bình Huề 1, xã Đại Hòa Lộc, Bình Đại, Bến Tre

Các hộ dân háo hức chở thùng đựng nước do bộ đội Hải quân tặng về nhà

Hoạt động cấp nước diễn ra liên tục từ ngày 2-4.4.2016 và trong tuần này, các tàu chở nước của Hải quân sẽ tiếp tục chuyên chở, cấp nước ngọt cho vùng hạn mặn ĐBSCL

4 tháng 2, 2014

VIẾT CHO CON TỪ BIÊN ĐẢO, NGÀY XUÂN!..

TNO - Con gái yêu của Ba!.

Ba đang ở đảo Cô Lin - nơi gọi là đảo chìm, nằm trên rặng san hô xa tít, thăm thẳm nơi biển tiếp giáp với mây trời. Những chú bộ đội đã nằm xuống, cũng chỉ vì cái dải san hô xanh thẳm trước mắt ba bây giờ.

Nhìn trên bản đồ trong google và dù có phóng to đến cỡ nào thì con cũng khó mường tượng ra cái khoảng biển xanh đó. Chắc con sẽ hỏi: “Chỗ đó là gì? Sao chứa chan sự hy sinh?”.

"Chỗ đó" là biển đảo của Tổ quốc mình, con ạ!

Mọi người trong phòng ở của ba trên tàu HQ nói: Sẽ thả xuống lòng biển, đúng chỗ những người lính năm xưa ngã xuống, đủ hết những gì đã dắt trong túi cóc ba lô cõng ra từ trong bờ (điếu thuốc lá, trái ớt xanh, quả chanh thơm, nhành hoa thắm, phong kẹo cao su, lọ thuốc đánh răng…), như thể sẻ chia bao năm tình đồng đội và cũng vì “trần sao, âm vậy”.

Giống như mọi người, Ba sẽ chia đôi những gì gọi là “đồ từ đất liền” mà mọi người đã chuẩn bị riêng cho hải trình dằng dặc, với những đồng đội mình dưới xanh nước và Ba cũng muốn ký thác cả tâm tình, tấm lòng của ba mẹ, của con và em, của ông bà, cùng bao nhiêu người khác nữa ở đất liền, để những người trai trẻ đã nằm xuống đấy không uổng phí, không chạnh lòng.

Có thể, tuổi con chưa hiểu hết được như thế nào là thiêng liêng Tổ quốc!.

Ở khoảnh khác tàn năm cũ, lấp ló bóng xuân mới này, Ba chợt nhận ra mình đã cứ cắm đầu vào nỗi lo cơm áo gạo tiền, nỗi lo làm tròn trách nhiệm, trả nợ trần gian đắm đuối từng bát gạo đồng tiền.

Nhiều lúc, công việc viết lách cuốn hút trong một guồng máy, bao góc cạnh của của sống hiển hiện, ngồn ngộn suốt ngày dài, đêm thâu.

Đến hôm nay, khi đã lênh đênh cả tuần trên biển, quay sang tứ phía đều thấy biển; chợt đêm tỉnh giấc tưởng có con chòi đạp, ba vẫn thấy dáng biển nghiêng nghiêng, như thể con mặc áo xanh, chập chững hòa với trong vắt mây trời, mặn mòi mùi gió, thì thầm vòng tay ôm như biển ôm khít thân tàu HQ.

Và ba càng thấm thía thế nào là Tổ quốc…

Tổ quốc đơn giản là rặng đất liền xanh xanh mà chiến sĩ đảo gọi thân thương là “nhà”; là bình minh đỏ rực trên đảo Song Tử, nơi có cây đèn biển nhẫn nại cả đêm soi con tàu tỏ đường thông lối.

Tổ quốc là màu xanh biển cả, nơi có những con cá chuồn thấy động dưới mạn tàu, bay vút lên đầu ngọn sóng như thể mơ ước bay cao, bay xa cùng cánh hải âu bàng bạc.

Tổ quốc là lá cờ đỏ sao vàng treo trên cột cao tít nóc buồng lái con tàu, khi mới rời cảng còn đỏ bừng tươi mới, dẫu nhiều ngày giằng giữ cùng gió biển, vẫn kiêu hãnh, trung trinh.

Tổ quốc là những hòn đảo nhỏ, nơi có màu xanh cây phong ba, cây bàng vuông, cây tra biển trổ hoa trắng tinh, tỏa màu hương ngan ngát giữa vùng biển xa ràn rạt nắng, ập ào gió cũng phải dịu lại, nhẹ nhàng cùng.

Riêng hơn nữa, Tổ quốc hiện hữu nơi góc phố Hà Nội, nơi Ba thường ngồi đánh vật với câu chữ đến đêm khuya, nơi có hai mặt trời nhỏ là con và em Khoai say nồng trong giấc ngủ...

Tổ quốc gần gũi và thân thương, như thể những người gần nhất, cạnh bên nhất và bình dị nhất và không thể thiếu được, ở ngay chính bên mình, trong chính ngôi nhà mình con ạ!..

Và hơn cả bao giờ, ngay lúc đứng giữa Trường Sa lộng gió, hô lời thề của những người lính giữ biển dưới phần phật tung bay cờ đỏ sao vàng, Ba càng khao khát, khao khát hơn bao giờ hết: các con sẽ học tốt hơn, rèn luyện giỏi giang hơn để ba mẹ không tủi hổ, để những người trẻ đất Việt không chỉ tự hào về truyền thống cha ông mình mà còn do những điều mình làm được cho đất nước này; cho Tổ quốc này và cho vùng biển đảo thân thương nơi xa tít này.

Con gái yêu của Ba nhé!..

 Mai Thanh Hải.
(Gửi về từ Quần đảo Trường Sa)

17 tháng 1, 2014

CỜ TỔ QUỐC TRÊN BIỂN ĐÔNG

TNO - Trước khi nhổ neo làm nhiệm vụ ngoài biển, các tàu Hải quân VN đều nhận thêm cơ số cờ Tổ quốc để đảm bảo màu đỏ sao vàng liên tục hiện diện trên nóc đài chỉ huy, khẳng định chủ quyền lãnh thổ.

Vào mùa biển động cuối năm, cơ số cờ cấp phát cho các tàu làm nhiệm vụ tăng lên gấp đôi, bởi sóng to gió lớn thường làm rách, hư hỏng cờ Tổ quốc và nhiệm vụ thay cờ cũng thường xuyên hơn.

Ý chí giữa biển trời

Vài tiếng trước khi tàu xuất phát, cả ba tàu (HQ-571, HQ-936, HQ-996) của Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân tại Quân cảng Cam Ranh đều đồng loạt thay mới cờ Tổ quốc. Tất cả được buộc chắc chắn bằng 2 đầu dây thép nhỏ, kẹp trên đầu dây treo cờ.

Thượng úy Nguyễn Ngọc Viễn, Phó thuyền trưởng Quân sự tàu HQ-571 (Hải đội 411, Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân), nói với tôi: “Chuyến thay thu quân và chuyển hàng Tết rất dài ngày nên phải chuẩn bị hàng chục lá cờ, rách là phải thay ngay!”.

Cứ nghĩ: “Phòng xa thế thôi, chứ đâu đến nỗi thay cờ như… thay áo?”, nhưng quả thực ngay khi tàu ra khỏi vịnh Cam Ranh, sóng gió biển Đông cấp 4 nâng dần đến cấp 5, rồi cấp 7, cấp 8 khiến cả con tàu phải ngụp lặn giữa những cơn sóng dài, cao cả chục mét.

Ngồi trên buồng chỉ huy cao ngất, thấy rõ độ nghiêng đảo liên tục phải trái của con tàu, có khi đến 30 độ trước sóng. Sóng đi kèm với gió, gió biển nâng cấp, rít ù ù qua khe cửa, làm hệ thống dây thừng nilon to bằng chân cái treo cờ tín hiệu cũng lồng lộn uốn cong. Ngồi đấy và vẫn nghe phần phật tiếng cờ bay trên nóc đài chỉ huy.

Bốn ngày lăn lóc giữa sóng cồn gió cả, tiếng phần phật của cờ đã không còn đanh gọn.

Thuyền phó Nguyễn Ngọc Viễn lo lắng: “Cờ trên nóc đã rách, nhưng gió cấp 9 thế này, không thể trèo nổi lên cột thay cờ, rất nguy hiểm!” và chắc chắn: “Ngày mai vào đến lòng hồ đảo chìm Đá Tây tránh sóng gió nâng cấp, phải khẩn trương thay cờ ngay. Không được để cờ rách trên vùng biển Trường Sa!”.

Lá cờ đã tướp táp, đường may phía ngoài bị bung, xước từng xơ vải và ngôi
sao vàng 5 cánh, tuy bị dứt ra khỏi nền đỏ cờ, nhưng vẫn trung trinh bám đầu cánh…
 
Tôi, cũng đứng nghiêm cùng Thiện nhìn lên lá cờ bay phần phật mùi vải mới, kiêu hùng nở bung trên nền trời ban trưa, tự dưng nắng bừng xanh thẳm.
Nhìn bên cạnh, những người lính đủ tuổi trẻ già của Lữ đoàn 146 làm nhiệm vụ phục vụ Hậu cần cho Đoàn Công tác, dù quần cộc -  áo ba lỗ đang dọn dẹp, cũng dừng tay, đứng nghiêm trang, dưới cái bóng đổ dài của người lính trẻ chưa đủ tuổi 20 lần đầu đi biển.
Tôi gượng níu lan can, dò từng bước giữa nghiêng ngả gió, như muốn giằng tay ném xuống biển, đi về phía sau tàu nhìn lên nóc đài chỉ huy: Lá cờ đã tướp táp, đường may phía ngoài bị bung, xước từng xơ vải và ngôi sao vàng 5 cánh, tuy bị dứt ra khỏi nền đỏ cờ, nhưng vẫn trung trinh bám đầu cánh…

Tự dưng tôi thấy nghẹn nơi ngực: Nơi địa đầu sóng gió, dù tướp táp gian nan, nhưng lá cờ vẫn bền gan chống chọi và kiên trung bay phần phật, như ý chí của dân tộc, của những người lính biển giữ Trường Sa…

Treo cờ Tổ quốc ở Trường Sa

Ngô Minh Thiện (19 tuổi, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, TP.HCM), là chiến sĩ Thông tin-Tín hiệu trên tàu HQ-571.

Tháng 2.1013, đang là sinh viên khoa Sư phạm Anh, Trường ĐH Kỹ thuật TP.HCM, Thiện xin nghỉ học, xung phong thực hiện nghĩa vụ quân sự tại địa phương và được điều về huấn luyện tân binh tại Trung tâm Huấn luyện 456, Vùng 4 Hải quân, chuyên ngành Thông tin-Tín hiệu.

Đến ngày 20.11.2013, Thiện được điều về tàu HQ-571.

Một tuần trước khi thực hiện đợt công tác thay thu quân - chuyển hàng Tết ngoài Trường Sa, mẹ Thiện là chị Võ Thị Út (41 tuổi, đang làm tạp vụ ở Thủ Đức), lật đật đi xe đò, lỉnh kỉnh mang đồ ăn thức uống, ra tận Cam Ranh thăm cậu con trai bởi lo lần đầu đi biển, con không quen sẽ mệt. Ở với con 1 ngày đêm, chị lại tất tưởi ra xe đò về lại nơi làm việc, còm cõi từng đồng lương tạp vụ nuôi cậu con trai thứ hai đang học lớp 8.

Tàu nhổ neo rời bến, ra khỏi vịnh Cam Ranh là chống chọi với các cấp sóng gió tăng dần khiến không chỉ các chiến sĩ mới nhập ngũ lần đầu tiên ra làm nhiệm vụ tại Trường Sa, mà ngay sĩ quan - quân nhân chuyên nghiệp đã có “thâm niên” cả chục năm đi đảo - ở đảo cũng nằm bẹp, suốt 3 - 4 ngày liền. Nhà bếp nấu cháo đưa tận phòng, nhưng rồi cũng lại… mang về, hoặc người ăn nhưng… cá biển hưởng.

Thiện cũng vậy! Vật vã vì say sóng, nằm bẹp ra sàn tàu, nôn mật xanh mật vàng và trong tâm thức cậu con trai mới rời ghế nhà trường lần đầu tiên đi xa, vẫn chỉ có mẹ. Thế nên, khi say quá, cậu còn nấc gọi “Mẹ ơi!”, khiến cán bộ chiến sĩ trên tàu thay nhau cắt cử chăm sóc, động viên suốt 3 - 4 ngày liền.
 
Ấy thế nhưng, khi tàu vào neo tại vùng hồ đảo chìm Đá Tây tránh trú sóng gió, bớt chao đảo - dập dềnh - sang lắc là Thiện gượng dậy, lần vách ngăn xuống bếp giúp Tổ phục vụ, rồi làm các công việc khác. Nghe đồng đội có kinh nghiệm động viên “Đi lại nhiều cho quen, dần sẽ dạn dày”, Thiện càng ham làm và tất tưởi hết tầng dưới lên tầng trên đôn đốc, dọn dẹp vệ sinh hoặc đơn giản là giúp các anh chia việc.

Nghe Thuyền phó Nguyễn Ngọc Viễn nhắc việc thay cờ Tổ quốc, ngay khi dừng lại Đá Tây, Thiện thoăn thoắt thay quân phục, lên buồng chỉ huy nhận cờ, một mực: “Việc của ngành Thông tin, xin để dành cho em!” và đề đạt: “Đời con người, có phải ai cũng được treo cờ Tổ quốc ở Trường Sa?”.

Thiện đút lá cờ mới vào ngực áo yếm Hải quân, lần lan can trèo lên nóc đài chỉ huy và đứng nghiêm dưới chân cột, giơ tay ngang vành mũ chào lá cờ bạc màu, tướp táp trên đỉnh, xong mới gỡ dây kéo xuống.

Nhưng lấn bấn mãi không xong, bởi ròng rọc bên trong kẹt cứng do nước biển, cờ lại quấn mấy vòng vào dây cờ số 2 bên cạnh. Bặm môi vài giây, cậu bỏ mũ dải buộc vào lan can, chui vào ống lồng trèo lên tận đỉnh cột, vươn tay gỡ từng vòng cờ quấn vào dây do gió bão, xong mới vội vã leo xuống, gỡ cờ.

Giữa lồng lộng gió, phải khó khăn lắm và mất gần nửa tiếng đồng hồ, việc gỡ cờ cũ, lồng cờ mới vào dây thừng, buộc chặt 2 đầu bằng dây thép nhỏ mới hoàn thành.

Và... Thiện đứng thẳng người, mắt nhìn cờ, nghiêm trang kéo chầm chậm lá cờ Tổ quốc đỏ thắm vàng tươi sao 5 cánh, lên đỉnh cột cờ thiêng.

Khi đã buộc dây cờ chắc chắn, Thiện lại đứng nghiêm chào cờ, xong mới gượng nhẹ làm động tác gấp cờ.

Tôi - cũng đứng nghiêm cùng Thiện nhìn lên lá cờ bay phần phật mùi vải mới, kiêu hùng nở bung trên nền trời ban trưa, tự dưng nắng bừng xanh thẳm.

Nhìn bên cạnh, những người lính đủ tuổi trẻ già của Lữ đoàn 146 làm nhiệm vụ phục vụ Hậu cần cho Đoàn Công tác, dù quần cộc - áo ba lỗ đang dọn dẹp, cũng dừng tay, đứng nghiêm trang, dưới cái bóng đổ dài của người lính trẻ chưa đủ tuổi 20 lần đầu đi biển.

Với tôi, sự gần gũi ở Thiện đã trở thành kính trọng, khi chứng kiến em nghiêm cẩn thay cờ. Sự kính trọng không phải dành cho người lớn tuổi, mà là con đường em đã chọn, dù vất vả gian nan, nhưng thực sự “được làm người có ích” - như em từng tâm sự.

Và tôi tin điều ấy là sự thật, giống như tin vào màu cờ thắm sáng bừng trong mắt em long lanh, buổi trưa trên biển Trường Sa.

Tổ quốc - mùa Xuân trường tồn ở những người trẻ như thế, ngay địa đầu biên đảo Trường Sa.

Mai Thanh Hải (Gửi từ đảo chìm Đá Tây, trong hành trình công tác của tàu HQ-571, tháng 12/2013-01/2014)

30 tháng 12, 2013

NƠI ẤY LÀ TRƯỜNG SA

TNO - Bao năm rồi, cứ dịp gần Noel, Tết Dương lịch, trong khi mọi người náo nức rộn ràng chờ đón những ngày nghỉ lễ, đoàn tụ hạnh phúc bên nhau thì những người lính đảo lại vượt hàng trăm hải lý bập bùng sóng gió ra với biên đảo xa xôi, thay quân, chuyển hàng Tết.

Khó có thể tả nổi những tâm trạng, cung bậc tình cảm của những người bỏ lại phía sau mọi đầy đủ, sung sướng, hạnh phúc để ra nơi tuyến đầu làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền Tổ quốc, giữ gìn bình yên cho hậu phương.

Có một điều mà ai ra tiễn lính đảo cũng thấy, đó là lẽ sống cao cả, vì người thân - đồng bào và vì cả cái nơi biển xanh thăm thẳm nằm chót vót ngoài khơi xa kia nữa. Nơi đó được gọi là Trường Sa.

1. Đại úy Nguyễn Văn Quang, quê Tiên Lãng (TP Hải Phòng), năm nay ra nhận công tác tại đảo Sinh Tồn Đông, dịp trước Tết nguyên đán. Vợ Quang tên Nga cũng người Hải Phòng, hiện đang là phóng viên tại Ban Dân tộc, Đài Tiếng nói Việt Nam.

Tiếng là vợ chồng cùng quê, nhưng cả năm mới gặp nhau được 1-2 lần. Hôm trước khi tôi đi công tác Trường Sa, Nga đưa con gái tên Bống chưa tròn 20 tháng, chạy xe máy từ Long Biên sang, giữa chiều rét miền Bắc tím lịm, cắt da cắt thịt, để nhờ gửi cho chồng đang huấn luyện trong Đoàn Trường Sa, trước ngày ra đảo một gói quà nhỏ, bọc rất kỹ.

Ngồi nói chuyện với nhau, Nga kể: “Em đang thuê nhà trên này. Thường thì sáng đi làm, đưa con tới lớp, chiều hết giờ đón về. Khi nào đi công tác, lại phải xin cơ quan nghỉ một ngày đưa con về quê gửi ông bà, bởi trên này không có họ hàng, người nhà để gửi cháu!” và nghèn nghẹn: “Chồng dưới biển, vợ trên rừng, con ở với ông bà là chính!”, rồi tất tưởi xin phép đưa con về, hình như để giấu giọt nước mắt chực rơi.

Buổi chiều trước giờ 3 chuyến tàu Hải quân HQ-571; HQ-996; HQ-936 rời khỏi Quân cảng Cam Ranh, khi bộ đội tập trung hết trên cảng, chờ lên tàu, Quang hối hả gọi điện cho tôi: “Anh ơi! Anh ở đâu đấy, giờ em mới có thời gian nhận quà của vợ con gửi!”.

Nhận gói quà của vợ, Quang ôm chặt vào trong ngực, ngay giữa biển tên - phù hiệu lính Hải quân, dưới gọn gàng cấp hàm Đại úy mới cứng, thành thật: “Vợ em gửi mấy cân thuốc lào quê hương, làm quà cho anh em đón Xuân ngoài đảo!” và chầm chậm từng âm tiết: “Quan trọng hơn là cái áo của con gái, ôm cho đỡ nhớ bởi mấy năm nữa, mới về được đất liền gặp con!”.

Tôi vội vàng in tấm hình chụp vợ con Quang hôm gửi quà, tặng người lính Hải quân, Quang hôn ngay giấy ảnh còn ấm mùi mực in và ấp vào ngực trái, chào tôi như những người lính, tất tưởi chạy lên cầu tàu HQ-936 đang loảng xoảng tiếng xích rút cầu. Thoắt cái, đã thấy Quang ở bên mạn trái, đứng giữa đồng đội ra đảo, một tay bíu chặt lan can, tay kia vẫn áp tấm ảnh vợ con trên ngực, thiêng liêng.

2. Trung úy Mai Văn An (quê Thanh Hóa, nhưng đã đưa vợ con vào sống tại Mỹ Ca, Khánh Hòa, phía ngoài căn cứ Cam Ranh). An hiện đang công tác tại tàu HQ-571 (Hải đội 411, Vùng 4 - Hải quân), nhưng đã rất nhiều năm công tác tại nhiều tàu chiến đấu, tàu vận tải bảo đảm và ra với Trường Sa, không biết bao nhiêu lần.

Trước hôm tàu rời Quân cảng, không chỉ An mà tất cả cán bộ - thuyền viên trên tàu HQ-571 túi bụi các công việc chuẩn bị cho chuyến đi biển dài ngày, nhận xếp hàng Tết, đón bộ đội…

Gần nhà đấy, nhưng mãi tối 20.12 An mới được tranh thủ về nhà mấy tiếng đồng hồ trước khi đi biển, tạm biệt vợ con.

Hôm sau, gặp An dưới tàu, thấy mặt mũi hốc hác, mình hỏi mới biết: Đêm qua con gái sốt, An bế con chăm sóc cả đêm và buổi sáng, vợ bắt buộc phải đi làm nên An thay vợ bế con ra Bệnh viện khám cấp cứu.

Mà lạ nỗi, khu vực Mỹ Ca là “Trung tâm hậu phương Hải quân”, việc bộ đội đi Trường Sa là bình thường, nên nhân viên chỗ cấp cứu cũng tưng tửng đòi “đúng quy trình, thủ tục”, khiến An lại phải hùng hục bế con ra chỗ khác khám, cho yên tâm, mới trao lại con cho vợ, phóng xe vào căn cứ, kịp giờ tập trung chuẩn bị ra đảo.

An trầm giọng: “Con ốm vợ trẻ, đi như này cũng thấy mình không tròn nghĩa vụ với vợ con - gia đình, nhưng nếu xin ở lại, cả tập thể tàu lại phải làm phần việc của mình, trong khi anh em đều vất vả lo bao công việc, những gần một tháng, trong điều kiện thời tiết mưa to gió lớn!”.

Hình như, An cũng tự động viên cả bản thân lẫn tôi là người nghe, về những năm làm nhiệm vụ trên các tàu trực bảo vệ Trường Sa đến vài tháng, với những câu chuyện mà chỉ những người lính tàu mới phải trải qua. Nào là: loanh quanh trên diện tích tàu chật hẹp liên tục mấy tháng, trời nắng cả con tàu như nằm trong lò nung, trời mưa gió - giông bão, con tàu trở thành đồ chơi cho sóng biển, chơi trò tung hứng, dìm xuống đẩy lên bằng những con sóng dài, cao cả chục mét; những ngày thiếu nước, mỗi người chỉ được phát một xô nước dùng trong mấy ngày…

Nghe chuyện của An và nhìn vào mắt An, tự dưng cảm giác bất an khi ra khơi mùa biển động, sóng cấp 7-8 tự dưng tan biến, bởi tính mạng được đặt vào tay những người dày dặn giữ Trường Sa.

3. Thiếu tá Nguyễn Quang Hiếu, Trợ lý Cơ yếu Lữ đoàn 146 (Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân), đang đóng quân ở Cam Ranh, nhưng vợ con vẫn ở Nghĩa Trung, Nghĩa Hưng, Nam Định.

Nhắc đến Hiếu, mọi cán bộ chiến sĩ trong Lữ đoàn đều biết bởi hoàn cảnh gia đình của Hiếu quá vất vả: con gái đầu Nguyễn Thị Minh Châu, sinh năm 2008 bị bệnh hiểm nghèo về tim (Trung tâm Tim mạch Bệnh viện E chẩn đoán “sau mổ Glenn/TBS phức tạp” và dự kiến phương pháp điều trị “xét phẫu thuật Fantan); con gái sau cũng mới sinh được vài tháng; vợ nghỉ không lương ở nhà trông hai con và nuôi bố mẹ Hiếu 83 tuổi già yếu…

Vất vả như vậy, nhưng Hiếu là một trong những người thường xuyên phải thực hiện các chuyến công tác ngoài đảo, mỗi năm 3-5 lần để làm nhiệm vụ chuyên ngành. Các chuyến đưa các Đoàn Dân - Chính - Đảng thì bình thường, nhưng những chuyến đặc biệt như dịp cuối năm này, Hiếu xin thủ trưởng đơn vị cho tranh thủ nghỉ vài ngày, đi xe khách về thăm vợ con, để yên tâm ra đảo cả tháng trời.

Gặp nhau trên Quân cảng trước lúc chia tay, Hiếu nắm chặt tay tôi rắn rỏi: “Vẫn còn nhiều anh em có trường hợp khó khăn như mình, thậm chí hơn mình nhưng vẫn cố gắng, làm tốt nhiệm vụ ngoài đảo. Mình chỉ làm nhiệm vụ đảm bảo, mỗi năm đi vài lần, tại sao không vượt lên tất cả, cùng đồng đội?”…
***
Có rất nhiều bài hát về Trường Sa, nhưng lính đảo thường nhẩm câu hát: “Phía xa xa chân trời nghìn trùng sóng gió. Có những con người thay chúng ta đang vượt qua ngọn sóng vươn tới chân trời, giữ lấy nơi biên cương chưa bình yên của mọi người…”.

Trên chuyến tàu HQ-571 chở cán bộ chiến sĩ thay quân các đảo và chuyển hàng Tết lần này, lời hát “Nơi ấy là Trường Sa” của tác giả Xuân Nghĩa cũng liên tục vang lên trên hệ thống loa phóng thanh, như thể nắm tay cổ vũ - động viên cho con tàu giương cao mũi, ngụp qua sóng cấp 7 - cấp 8, vượt dặm dài hải trình đi biển.

Và cùng với những vòng lăn sóng thân tàu, những người lính biển - lính tàu cũng thì thầm từ chính trái tim mình lời thề - lời hứa giữ trọn địa đầu, bởi: NƠI ẤY LÀ TRƯỜNG SA!..

LÁT ĐÁ GIỮA BIỂN TRỜI

TNO - Ngoi lên ngụp xuống suốt 2 ngày đêm vượt sóng gió cấp 7 - cấp 8, cuối cùng trước mũi tàu HQ-571 cũng hiện ra bãi san hô ngờm ngợp sóng trắng. Thiếu tá, thuyền trưởng Phạm Xuân Hải bảo:  “Đảo chìm Đá Lát - điểm đầu chúng ta đến!”...

Đảo Đá Lát cách đảo Trường Sa (Trường Sa Lớn) 14 hải lý về phía tây và cách Cam Ranh 248 hải lý. Nhìn trên bản đồ, đây là đảo gần đất liền nhất trong toàn quần đảo Trường Sa.

Đảo Đá Lát là bãi san hô khép kín, phía trong có một hồ. Khi nước thủy triều lên, bãi Đá Lát nằm chìm trong nước biển, nhưng khi thủy triều xuống, những bãi nhỏ - đá mồ côi nhô lên khỏi mặt nước rất nguy hiểm và chỉ có những tay lái xuồng CQ thiện nghệ của đảo, xuồng chuyển tải của tàu mới dám đi lại.

Đặc biệt, đảo Đá Lát là nơi có nhiều xác tàu đắm nằm trên các bãi cát, nên từ xa bằng mắt thường và ra đa, rất dễ dàng nhận ra đảo, bởi các chấm đen buồng lái - tháp tàu lô nhô xung quanh.

Tết đến từ vị lá dong

Vào với Đá Lát, dịp các đoàn Dân chính đảng nườm nượp ra thăm trong mùa “tháng ba bà già đi biển”, khách khứa ngồi trên xuồng chuyển tải, lạch tạch chạy từ ngoài biển vào đảo, hết thảy đều ồ à reo mừng thích thú khi nhìn đáy nước thấy lửng lơ rong biển, tinh khôi cát trắng và san hô rực rỡ các màu.

Nhưng mùa biển động gần tết này, vào được với Đá Lát là chuyện không hề đơn giản. Loay hoay, thận trọng cả tiếng đồng hồ, tàu HQ-571 mới tìm được vị trí neo thích hợp.

Mãi đến 14 giờ, một số cán bộ Quân chủng, Vùng 4 Hải quân, Lữ đoàn 146 và 6 phóng viên báo chí có kinh nghiệm đi biển, được lựa chọn kỹ càng mới được lên xuồng vào Đá Lát, đồng thời với hoạt động thay - đổi quân, vận chuyển hàng tết, lương thực - thực phẩm cho đảo.

Sóng cao đến 2 m lừng lững theo nhau ập vào mũi xuồng, khiến xuồng tung ngược lên chừng 15 - 20 độ, ai nấy mặt cắt không còn hạt máu nhưng vẫn ngồi im phăng phắc, theo khẩu lệnh của người lái: “Động đậy là chết hết!”. Chỉ khi đi qua mép xanh vào bãi san hô, xuồng chạy cân bằng trong vùng sóng nhỏ, tiếng thở phào mới nhất loạt òa ra từ những gương mặt ướt lướt thướt, chân tay tím ngắt vì ngâm lạnh và vì níu chặt vào chân ghế - thành xuồng.

Cập đảo, nhất loạt bộ đội lội xuống nước, răng đánh cầm cập, môi tím ngắt giữ xuồng.

Ở cái đảo chìm bé tí như mắt muỗi giữa bung biêng trời nước này, phải kể đến 3 đặc trưng: diện tích nhỏ nhất, sách vở nhiều nhất và bãi san hô nhiều “cá mú, nghêu sò ốc hến” nhất.

Lạ! Chả ở điểm đảo chìm nào sách vở nhiều như ở Đá Lát: Tủ sách đóng bằng gỗ thùng đạn ngoài hiên, sát cầu thang hẹp lên xuống; sách xếp đầy tràn phòng, che hết cả những khung tròn - bầu dục - vuông in logo la liệt, biểu tượng của các thể loại quà tặng từ tỉnh thành - bộ ngành mang ra tặng đảo, cứ như thể cái điểm đảo bằng mắt muỗi này là bảo tàng, nơi trưng bày hiện vật; sách xếp tầng trong phòng ngủ, dưới chân giường cá nhân chả đủ một người nằm nghiêng...

Thượng úy Vũ Đức Quỳnh, Chỉ huy trưởng của đảo năm nay phải ở lại trực tết, đôn đáo tiếp đoàn, bàn giao, tiễn người cũ, đón người mới nhưng vẫn không quên dẫn mình ra thăm mấy vườn rau bịt bùng kín mít bằng cả vải ni lông lẫn vỏ thùng đựng thịt hộp, hoa quả hộp và chỉ: “Tết năm nay, chắc không có rau xanh rồi, anh ạ!”. Nhìn vườn rau trơ khấc thùng đất, có chăng còn lại cũng chỉ lưa thưa mấy cọng già, mới thấm thía nỗi sung sướng của anh em, khi tàu chuyển vào cả xuồng, đầy những rau củ quả tươi, vác lá dong và nhất là chú lợn chừng 50 kg, để anh em đảo và hải đăng có một cái tết đầy đủ.

Cậu chiến sĩ tên Nam Hải, đợt này được thay quân về tết, tuy bị í ới gọi ra tàu, vẫn cố nán vác bó lá dong vào bếp cất kỹ, cười rất tươi: “Đây mới thực là tết chú à!” và hấp tấp kể: “Lá dong luộc lên, buộc quanh cột tre, đến ngày gói bánh chưng vẫn giữ được màu xanh và mùi thơm như thường, thích lắm!”.

Nghêu sò ốc hến

Ở Đá Lát, gì thì gì cũng phải nhắc đến chuyện “cá mú, nghêu sò ốc hến”.

Cũng bởi xa xôi, tách biệt lại nằm trên bãi san hô rộng ngút ngát, mỗi khi thủy triều xuống, cả bãi san hô và đá san hô lộ ra, nhô hết lên mặt nước nên các thể loại tôm cá, ốc sò ngu ngơ líu ríu không theo kịp con nước ra biển, cứ tênh hênh nằm ngửa nằm nghiêng nhìn giời và chờ... bộ đội rảnh rỗi, ra bắt cải thiện.

Đừng nghĩ là bộ đội thèm ăn hải sản.

Sống ở biển, giữa bãi san hộ được ví như “vựa hải sản tươi sống”, nhìn hải sản là chán (nhưng vẫn phải cắn răng mà nuốt, bởi nếu không lấy gì mà... ăn), việc đi nhặt ốc chủ yếu để phục vụ khách ra... xin vỏ.

Với Đá Lát, chuyện bị xin là thường, nên cứ ai cất tiếng xin, là lộn ngược ba lô gói cẩn thận tặng khách từng vỏ ốc biển to nhỏ.

Cho hết rồi, lại áy náy sợ đoàn khác đến, xin mà không có để kỷ niệm, nên cứ cuối ngày, giờ được nghỉ đấy nhưng vẫn quần đùi - giày vải, lội xuống biển, chịu san hô cứa vào người sắc như dao cạo, bắt nhặt từng con ốc, mẩu san hô mang về nâng niu đánh rửa, ngâm treo chờ khách ra để biếu tặng - ngẩn ngơ.

Mặn từng lát đá

Ở Đá Lát, đảo nhỏ hơn cả các đảo chìm khác (do xây từ nhà xưa, dạng Nhà lâu bền thế hệ cũ), nên căn bếp bên cửa trái cũng bé tí, cửa hỏng chốt nép sau ụ súng 12 li 7.

Khom người chui vào bếp, một nồi quân dụng vẫn đang lâm râm sôi trên bếp dầu nhỏ lửa khẽ khàng.

Mở vung, khoai tây hầm với bì heo đang lục sục sôi. Cậu chiến sĩ trẻ măng quệt mồ hôi: “Biết tàu ra, chúng cháu nấu nốt mấy củ khoai và ít bì - thịt heo, ăn dè từ tháng trước. Vừa nãy, các anh trên tàu có gửi mấy bao rau củ, thỏa sức... uống nước luộc rau trưa nay!”.

Mân mê túi hạt giống rau trên tay, chiến sĩ ra đa tên Hùng bảo: “Lẽ ra là phải trồng rau khay rồi đấy. Nhưng dịp này, phải huấn luyện căng thẳng, lại tập trung củng cố đảo trước mùa mưa bão, nên không có thời gian!” và nhấp nhổm: “Yên tâm, mấy hôm nữa anh em sẽ tập trung trồng rau và chăm rau. Đừng lo ngoài này bộ đội thiếu rau tươi, ít nhất thì cũng quen với măng hộp - giá đỗ rồi!”...

Nghe anh em nói an ủi thế thôi, chứ mình đã tìm hiểu và biết:

Mùa này biển bắt đầu động, khay rau mầm kê cẩn thận trên giàn giáo mép đảo, để sẵn con dao “thu hoạch”, tận dụng đến từng sợi rễ và khía đều đặn trên mép khay, chia bữa - chia ngày.

Trong vườn rau, những khay xếp thành vườn, để khách đất liền ra ngắm yên tâm, chứ có khi khách chưa ra tới tàu, bộ đội đã lụi hụi bê vào nhà cất che cẩn thận và rau tươi chỉ được chi dùng khi ai đó ốm đau...

Nhiều khách đất liền ra Đá Lát, sau khi đã hỏi han đủ chuyện dưới biển trên trời thường quay sang vặn vẹo: “Sao lại gọi là Đá Lát”.

Bộ đội vốn thật thà, không biết đành cười: “Cháu không biết!” khiến khách quay ra đoán già đoán non: “Chắc đá ở đây có đá, có lát như thể vân gỗ, làm sập gụ - tủ chè?”...

Ít ai biết: Ở điểm đảo chìm nhỏ nhoi nhất quần đảo, từ con ốc kỷ niệm, ngụm nước khát lòng, rễ rau giòn dịu, thành lô cốt dày vững chãi cho đến vụn san hô sắc như dao cạo... hết thảy đều đẫm mồ hôi và có khi là máu của những người lính phòng thủ đảo, những thế hệ công binh cần mẫn đêm ngày.

Mồ hôi đổ xuống từng viên đá, vụn san hô và bạc trắng, mặn chát từng lát đá ở đảo, nên đảo mới được gọi là Đá Lát yêu thương...

Mai Thanh Hải
(Gửi về từ khu vực đảo Đá Lát - Trường Sa, trong hành trình của tàu công tác HQ-571)

15 tháng 12, 2013

NẰNG NẶNG, TRƯỜNG SA!..

Mai Thanh Hải - Nga là Phóng viên Ban Dân tộc, Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV)

Chồng Nga là Quang, đợt này cũng ra đảo thay quân, đóng ở Sinh Tồn Đông.

Chiều nay trời lạnh, lại mưa buốt giá. Nga và con trai gần 2 tuổi, lụp xụp áo mưa từ bên Long Biên sang nhà mình (qua Sông Hồng và đi về khoảng gần 40km), chỉ để nhờ gửi cho chồng túi quà, mong chồng mạnh khỏe - bình yên ngoài đảo.

Nga bảo: "Mỗi lần em đi công tác, lại phải mang con về gửi ông bà dưới Hải Phòng, do đang ở nhà thuê, không họ hàng thân thuộc trên HN!" và cười, mắt ngân ngấn nước: "Chồng ngoài biển, vợ trên rừng, con về ông bà!"...

Ngồi chưa nóng chỗ, Nga tất tưởi về bởi trời lạnh - đường xa và hình như cũng không dám nói chuyện nhiều về đảo, về chồng, về hoàn cảnh mình, sợ khóc...

Cứ nói những sự hy sinh - chịu đựng ở đâu đâu, tít hồi nào như cổ tích mà không biết rằng, những lặng thầm vất vả ấy, ở ngay bên cạnh mình, rất thật.

Thật như câu chuyện của vợ con - chị em những người lính đảo, mấy ngày hôm nay tất tưởi gặp mình, gửi quà Tết ra đảo xa xôi.

Mãi mãi - không thể nào khác: Đất nước này, ơn em nhiều lắm! Nga ơi!..

13 tháng 12, 2013

TRƯỜNG SA ĐÔNG NHỚ TRƯỜNG SA TÂY

Mai Thanh Hải - Vinh quê Thanh Hóa, là Thượng úy, Phân đội trưởng chiến đấu trên đảo Trường Sa Đông, khi chỉ huy bộ đội đẩy xuồng chúng mình vượt khỏi bãi cạn lúc nước triều xuống, tuy mệt đứt hơi, thở hổn hển nhưng vẫn cười tươi, răng trắng lấp lóa trên gương mặt đen nhẻm, giống y quảng cáo kem đánh răng và hát to: "Đường ra trận mùa này đẹp lắm. Trường Sa Đông nhớ Trường Sa Tây!".

Trường Sa Đông thì sừng sững hiên ngang bên quần đảo đây rồi. Còn Trường Sa Tây?.

Vinh cười, răng vẫn trắng lấp lóa: "Ngoài này, chiều chiều nhìn về phương mặt trời lặn phía Tây. Đó là đất liền đó anh!".

Ừ! Gọi đất liền là Trường Sa Tây, cũng có gì là sai đâu?.. 
Năm trước mình ra Trường Sa Đông, ở ngoài sân vẫn còn mấy cây phong ba mọc la đà mặt đất, trên đó có treo mấy cái võng, ngồi rất thích.

Năm nay ra, có lẽ do tiến nhanh lên "chính quy hiện đại", nên chỉ huy đảo chặt béng mấy cây đó, lấy diện tích làm nơi chào cờ, nghi lễ, bộ đội chơi thể thao... nên mình mất chỗ ngồi võng ngắm đảo quen thuộc, tiếc tiếc là.

Định dạng về Trường Sa Đông, phải nói rõ thế này: Đảo nằm ở 8055’ vĩ độ Bắc; 122021’ kinh độ Đông, cách đảo Đá Tây 8,5 hải lý về phía Bắc, cách đảo Đá Đông 12 hải lý về phía Tây Bắc và nằm trên phía Đông của bãi san hô ngập nước, dài khoảng 1 hải lý.

Lịch sử Hải quân Việt Nam ghi rõ: Tháng 3/1978, tình hình khu vực quần đảo Trường Sa có nhiều diễn biến phức tạp, các nước trong khu vực tăng cường hoạt động thăm dò bằng máy bay, tàu thuyền xâm phạm các đảo chúng ta đang đóng giữ.

Trước tình hình đó, Đảng uỷ Quân chủng Hải quân đã ra Nghị quyết chỉ rõ “Phải tập trung, khẩn trương mọi nỗ lực cao nhất của toàn Quân chủng vào việc chuẩn bị chiến đấu, sẵn sàng đánh thắng kẻ thù xâm lược, giành cho được thắng lợi từ trận đầu, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc”.

Chấp hành mệnh lệnh của Quân chủng, ngày 4/4/1978, tàu HQ-681 thuộc Lữ đoàn 125 đưa 19 cán bộ, chiến sỹ do đồng chí Nguyễn Trung Cang, Tham mưu trưởng Trung đoàn 146 chỉ huy 1 lực lượng ra đóng giữ đảo.

Ngày 19/4/1978, một lực lượng khác gồm 17 cán bộ chiến sĩ, ra thay cho bộ phận của đồng chí Nguyễn Trung Cang. Chỉ huy trưởng lúc này là đồng chí Bùi Xuân Nhã.

Do làm tốt công tác giáo dục, quán triệt và xác định tốt nhiệm vụ, sau gần một tháng khẩn trương xây dựng trận địa, công sự chiến đấu hoàn tất, đời sống cán bộ, chiến sỹ ổn định, khắc phục khó khăn quyết tâm bám trụ, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Đảo chạy dài theo hướng Đông-Tây. Trên đảo không có giếng nước ngọt.

Để trồng cây và rau xanh, cán bộ, chiến sỹ trên đảo phải vận chuyển từng bao đất nhỏ trong đất liền ra, tận dụng vật liệu xây dựng che chắn bồn rau, tiết kiệm từng giọt nước ngọt ươm mầm cây xanh.

Trải qua hơn 3 thập kỷ sau ngày giải phóng với ý chí và nghị lực của cán bộ, chiến sỹ nơi đây, đảo Trường Sa Đông đã được cải tạo từ đảo bãi đá san hô cằn cỗi trở thành một hòn đảo xanh tươi, rợp bóng mát của các loại cây  như bàng vuông, phong ba, muống biển...

Cũng từ những khó khăn trong việc tăng gia, với nghị lực, sự sáng tạo của người lính canh biển, cán bộ, chiến sỹ đảo Trường Sa Đông đã thiết kế thành công lò ấp trứng gia cầm, thủy cầm đầu tiên trên quần đảo Trường Sa.

Đến nay, cán bộ, chiến sỹ đảo Trường Sa Đông là một trong những đơn vị dẫn đầu trong phong trào tăng gia, chăn nuôi của Lữ đoàn 146. Năm 2010, tổng sản lượng tăng gia của đảo đạt trên 100 triệu đồng. Trong đó, rau xanh 15.610 kg, cá các loại 300 kg và thịt gia súc, gia cầm trên 2.000 kg.

Hơn 30 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành cán bộ, chiến sỹ đảo Trường Sa Đông đã lập được nhiều thành tích xuất sắc: Năm 1982, đảo được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Nhất, nhiều năm được Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân tặng danh hiệu “Đơn vị quyết thắng” và các  Bộ Tư lệnh Hải quân, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế tặng Bằng khen.

Nửa ngày ở Trường Sa Đông, mấy đồng hương Hải Phòng chúng tìm tụ tập tìm nhau và la cà đến giường ngủ của từng người, để gọi là... thăm nhà.
Các đồng hương dẫn mình ra vườn rau xem lá rau mồng tơi to bằng bàn tay, nháy mắt cười: "Chục lá rau là đủ nồi canh cho cả phân đội!", hình như để mình quên đi nỗi băn khoăn, khi vào bếp ăn, thấy ghi trên bảng toàn thịt hộp, rau hộp, quả hộp... đến hoa cả mắt vì chữ hộp.

Lang thang ra bãi cát rìa đảo, túm tụm ngồi trên xác chiến xe tăng han rỉ, cùng nhìn qua biển về phía Tây, nơi mặt trời đang nhúng chân chờ tắm và kể nhau nghe về những góc đường, nóc phố thân quen của thành phố "Hoa cải đỏ", tự dưng thấy đất liền được kéo lại thật gần, như trước mắt những thằng con trai Đất Cảng đang ngồi vỉa hè với bia cỏ, vi na gôn...

Chia tay nhau, các đồng hương hè nhau bế tọt mình lên xuống và ghé vai đẩy xuồng cùng chiến sĩ, hòa với nhau lời hát: "Đường ra trận mùa này đẹp lắm. Trường Sa Đông nhớ Trường Sa Tây", lấy sức cho đáy xuồng sượt qua cát sạn, đá san hô rơi nhẹ xuống lạch nước sâu ra với con tàu HQ.

Vẫy tay chào nhau, người ngâm mình dưới nước, kẻ kiễng chân vẫy đến mỏi tay trên xuồng, cứ rưng rưng nhớ lại hình ảnh: Chị Yên Hưng, một nhà khoa học bên Viện Nghiên cứu KHKT Nông nghiệp ra Trường Sa để tìm thuốc, chống sâu hại cây lá - rau cỏ trên đảo, ngồi trên xuồng cứ nắm chặt tay cậu chiến sĩ sinh năm 1992, bằng tuổi con trai, đang gò lưng đẩy xuống dưới biển và thút thít khóc vì thương lính trẻ bé bỏng...

Hình như, nhưng khoảnh khắc thân thương này đã kịp in dấu trong tâm tưởng những người ra với Trường Sa, để họ thực sự thấm thía tâm cảm của con người, qua câu hát: "Trường Sa Đông nhớ Trường Sa Tây", vẫn thường bật lên trong mắt những người lính biển, cứ mỗi buổi chiều nhìn về phía Tây, nhung nhớ đất liền...

Tạm biệt nhé! Và sẽ gặp lại cùng nhau!. Ơi Trường Sa Đông!..
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Phía trước là Trường Sa Đông
Điện gió trên đảo
Xuồng CQ tuần tra quanh đảo
Biển quanh đảo, trong vắt đến lạ kỳ
Chào cở Tổ quốc, trên đảo thân yêu
Chồi xanh - lính trẻ
Gác bên cột mốc chủ quyền
Trực canh trên đài quan sát
Làm dáng với lính trẻ
Chỗ để bàn chải, kem đánh răng
Bếp nấu ăn
Thế này, dễ dùng nhầm lắm
Lá mồng tơi to bằng bàn tay mình
Nước là máu
Rau muống biển bao quanh đảo
Gợi nhớ lại những tháng năm chiến đấu giữ đảo
Đội Gang thép Thái Nguyên nhìn thấy, chắc tiếc lắm
Các chị đồng nát mà ra, thì có mà...
Đẩy xuồng ra nào
Mẹ và con
Chia tay nhé! Trường Sa Đông