17 tháng 2, 2012

ÁO XANH BIÊN PHÒNG, ĐẪM MÁU 17/2/1979

Mai Thanh Hải - Cách đây 33 năm, đúng 5 giờ 25 phút sáng sớm ngày 17/2/1979, Trung Quốc đã xua hàng chục Sư đoàn lính, cùng với xe tăng, dưới sự yểm hộ của pháo binh, đồng loạt bất ngờ tấn công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc.

Mục tiêu đầu tiên chúng nã pháo, tấn công, bao vây, tiêu diệt là các Đồn, Trạm Biên phòng (khi đó gọi là Công an Vũ trang - CAVT). Cuộc chiến đấu giữ đất biên cương, bám trụ trận địa diễn ra không cân sức, bởi ngay ngày đầu tiên ấy, các Đồn Biên phòng đều bất ngờ, trang bị vũ khí ít, đơn độc giữa chiến thuật "biển người", không có sự hỗ trợ - chi viện... rút cục, rất nhiều Đồn, Trạm, Đơn vị Biên phòng đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và ngã xuống người lính cuối cùng, ngay trong ngày 17/2/1979.

Xin nhắc lại một số gương mặt, trong lực lượng Bộ đội Biên phòng, đã chống trả kiên cường trong ngày 17/2/1979 và ngã xuống, trong khi ngăn bước tiến của quân Trung Quốc xâm lược.

1/ Nông Văn Giáp (1945-1979), dân tộc Nùng, quê ở xã Yên Bình, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Khi hy sinh đồng chí là Trung úy, Đồn phó Đồn 191, Công an nhân dân Vũ trang (CAVT) tỉnh Lạng Sơn; Đảng viên ĐCSVN.
Chốt chặn địch của Đồn BP Hữu Nghị (Lạng Sơn)

Nông Văn Giáp đã qua chiến đấu ở chiến trường miền Nam, thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, đồng chí tình nguyện lên bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc, đã lập nhiều thành tích chỉ huy đơn vị xây dựng thế trận mới.

Sáng ngày 17/2/1979, quân xâm lược ồ ạt tấn công. Chúng dùng pháo bắn cấp tập vào đồn sau đó cho bộ binh địch xông lên.

Với kinh nghiệm dày dạn qua 9 năm chiến đấu chống Mỹ, Nông Văn Giáp bình tĩnh chỉ huy đơn vị bẻ gãy nhiều đợt tấn công của địch, diệt 100 tên.

Dùng chiến thuật biển người, vừa tấn công chính diện, địch vừa đánh tạt sườn vào trận địa ta. Phát hiện sớm mưu đồ của địch, đồng chí chỉ huy đơn vị chiến đấu linh hoạt, cơ động, ngay từ đầu đã diệt được cụm thông tin, chỉ huy và hai tên thổi kèn.

Đội hình địch rối loạn, chúng không dám xông lên, buộc lui quân, tổ chức đợt tấn công mới. Các chiến sĩ tin tưởng ở Nông Văn Giáp - người chỉ huy gan dạ, mưu trí và quyết tâm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Địch lại cho nhiều tốp, nhiều toán, có hỏa lực yểm trợ, liên tục tấn công. Đồng chí nhảy lên khỏi chiến hào, hô to: "Xung phong". Các chiến sĩ theo người chỉ huy bật dậy, kiên quyết phản kích, đẩy địch xuống chân đồi. Đồng chí bị thương nặng. Đồng chí Rô (Tiểu đôi trưởng) băng bó cho cấp trên của mình.

Đồng chí Giáp bình tĩnh, cầm tay đồng chí Rô căn dặn: "Chiến sự còn ác liệt Tôi bị thương. Đồng chí thay tôi chỉ huy phân đội chiến đấu, giữ vững trận địa đến cùng. Nhớ tiết kiệm đạn, diệt nhiều địch".

Địch lại hò nhau xông lên. Xạ thủ trung liên bị thương. Đồng chí Giáp cố lê người đến thay thế, dùng sức còn lại bắn mãnh liệt vào đội hình địch, diệt nhiều tên, cùng đơn vị bẻ gãy nhiều đợt tấn công của chúng và anh dũng hy sinh.

Tấm gương chiến đấu của đồng chí đã cổ vũ mạnh mẽ toàn đơn vị quyết tâm diệt nhiều địch, trả thù cho đồng đội, bảo vệ Tổ quốc.

Nông Văn Giáp được truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất. Ngày 19/12/1979, Liệt sĩ Nông Văn Giáp được Chủ tịch nước CHXHCNVN truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (AHLLVT).

2/ Nguyễn Đình Thuần (1953-1979), dân tộc Kinh, quê ở xã Thanh Dương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Khi hy sinh đồng chí là Trung úy Đại đội trưởng Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 12, Bộ Tư lệnh CAVT, Đảng viên ĐCSVN.

Trong cuộc chiến đấu bảo vệ Biên giới Tây Nam, Nguyễn Đình Thuần đã trực tiếp chỉ huy đơn vị chiến đấu. Ngày 28/11/1977, bị thương vào đùi, nhưng đồng chí vẫn tiếp tục chiến đấu cho đến khi trận đánh kết thúc. Về trạm xá điều trị, vết thương chưa lành hẳn, đồng chí đã xin trở lại đơn vị tiếp tục chiến đấu góp phần cùng đơn vị lập công xuất sắc.

Năm 1978, Nguyễn Đình Thuần cùng đơn vị chuyển ra bảo vệ biên giới phía Bắc. Ngày 25/8/1978, đồng chí đã mưu trí, dũng cảm chỉ huy đơn vị, bằng tay không đánh đuổi bọn côn đồ gây rối ở Cửa khẩu Hữu Nghị (Lạng Sơn).

Ngày 17/2/1979, một Trung đoàn quân xâm lược có xe tăng và pháo yểm trợ, tấn công vào trận địa của đơn vị do đồng chí phụ trách. Hướng chính diện địch có 2 tiểu đoàn. Đồng chí lệnh cho cối và hỏa lực của đơn vị bắn tập trung vào đội hình địch, đẩy lùi đợt tấn công của chúng. Thấy 8 chiếc xe tăng địch đang xông lên ở hướng trái, đồng chí chỉ huy các chiến sĩ dùng súng B40 vận động đón đánh, diệt 3 chiếc, bọn còn lại hoảng sợ tháo chạy.

Bị thương gãy nát cánh tay, đồng chí tự băng bó, tiếp tục chỉ huy chiến đấu, đẩy lùi đợt tấn công mới của địch. Lần thứ hai, đồng chí bị thương vào đùi quân y muốn đưa đồng chí về tuyến sau. Đồng chí nói: "Tôi còn đủ sức chiến đấu. Các đồng chí đừng lo cho tôi".

Địch lại ồ ạt xông lên hết đợt này đến đợt khác. Nguyễn Đình Thuần tiếp tục chỉ huy đơn vị đẩy lùi ba đợt tấn công nữa của địch. Nhưng đồng chí lại bị thương vào bụng. Quân y vừa băng bó vừa chuẩn bị đưa đồng chí về tuyến sau, Nguyễn Đình Thuần nói: "Tôi còn, các đồng chí còn. Chúng ta quyết tâm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc". Nói xong đồng chí gắng gượng dùng súng AK diệt thêm một số tên địch nữa và anh dũng hy sinh.

Nguyễn Đình Thuần được truy tặng Huân chương Quân công hạng Ba. Ngày 19/12/1979, Liệt sĩ Nguyễn Đình Thuần được Chủ tịch nước CHXHCNVN truy tặng danh hiệu AHLLVT.

3/ Nguyễn Văn Hiền (1950-1979), dân tộc Kinh, quê ở xã Thiệu Long, huyện Thiệu Yên, tỉnh Thanh Hóa. Nhập ngũ năm 1969. Khi hy sinh đồng chí là Thiếu úy, Cán bộ Đồn 33, CAVT tỉnh Lai Châu (nay là Đồn Ma Lù Thàng, BĐBP Lai Châu), Đảng viên.
Đồn BP Ma Lù Thàng, nơi Thiếu úy Hiền hy sinh ngày 17/2/1979
Năm 1969, tốt nghiệp phổ thông, Nguyễn Văn Hiền xung phong nhập ngũ, trực tiếp chiến đấu chống Mỹ, cứu nước. Được vào lực lượng CAVT, đồng chí đã hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Làm chiến sĩ nuôi quân, làm quản lý, Nguyễn Văn Hiền đã thực sự liêm khiết và tận tụy chăm sóc các bữa ăn cho đơn vị. Được giao nhiệm vụ làm công tác cơ sở, đồng chí đã nêu cao tinh thần khắc phục khó khăn, hết lòng thương yêu đồng bào các dân tộc, tích cực động viên nhân dân đinh canh định cư, cải tiến kỹ thuật, nâng cao dần đời sống vật chất và tinh thần xây dựng phong trào bảo vệ trật tự trị an biên giới. Là một cán bộ gương mẫu mọi mặt, Nguyễn Văn Hiền đã lập nhiều thành tích trong chiến đấu bảo vệ tổ quốc.

Sáng ngày 17/2/1979, quân xâm lược có xe tăng, pháo yểm trợ, ồ ạt tấn công Đồn Biên phòng 33, Lai Châu, Nguyễn Văn Hiền chỉ huy một  phân đội dũng cảm chặn đánh địch ở mũi chính diện.

Dưới sự chỉ huy của đồng chí, phân đội đã đẩy lùi 15 đợt tấn công liên tiếp của địch, diệt hàng trăm tên, bắn cháy 2 xe tăng. Riêng đồng chí diệt 40 tên.

Địch tăng quân, ồ ạt tấn công. Nguyễn Văn Hiền chỉ huy đơn vị ngoan cường chiến đấu, đẩy lùi nhiều đợt tấn công của địch. Bị thương vào tay, đồng chí tự băng bó, tiếp tục chỉ huy chiến đấu. Lần thứ ba, bị thương gãy cả hai chân, Nguyễn Văn Hiền vẫn không rời vi trí, tiếp tục động viên chiến sĩ phản kích địch quyết liệt.

Địch dùng chiến thuật biển người ào lên hết đợt này đến đợt khác. Đạn sắp hết, đồng chí lệnh cho 12 chiến sĩ phá vây, rút về tuyến sau, tiếp tục chiến đấu. Một mình ở lại ghìm chân địch và anh dũng hy sinh.

Nguyễn Văn Hiền được truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất.Ngày 19/12/1979, Liệt sĩ Nguyễn Văn Hiền được Chủ tịch nước CHXHCNVN truy tặng danh hiệu AHLLVT.

4/ Lê Minh Trường (1960-1979), dân tộc Kinh, quệ ở phố Sơn Tây, quận Ba Đình, TP. Hà Nội. Khi hy sinh đồng chí là Binh nhất, chiến sĩ Đại đội 5, CAVT tỉnh Lạng Sơn, Đoàn viên ĐTNCSHCM.

Sáng ngày 17/2/1979, bộ binh xâm lược có pháo và xe tăng yểm trợ, ồ ạt tấn công vào hướng trận địa của Đại đội 5. Lê Minh Trường cùng đồng đội xông ra, chiếm lĩnh pháo đài Đồng Đăng, đánh trả địch quyết liệt.
Pháo đài Đồng Đăng, nơi Binh nhất Trường hy sinh

Thấy 8 xe tăng địch dẫn bộ binh xông lên, đồng chí dùng B40 tiếp cận mục tiêu, bắn cháy chiếc đi đầu. Những chiếc khác hoảng loạn tháo chạy. Lê Minh Trường đã góp phần tích cực cùng đơn vị bẻ gãy đợt tấn công ồ ạt của địch.

Sau khi củng cố đội hình, địch lại xông lên. Đồng chí nhằm thẳng chiếc xe tăng đi đầu, bóp cò. Nhưng quả đạn B40 lần này không nổ. Lê Minh Trường đã nảy ra cách đánh khác: Cùng một lúc giật tất cả giây cháy chậm của vài quả lựu đạn rồi tung vào xích xe tăng làm cho xích xe địch hỏng. Địch trong xe lóp ngóp chui ra, đồng chí dùng AK tiêu diệt. Những chiếc đi sau không dám tiến lên nữa. Nhưng bộ binh địch vẫn xông lên. Đồng chí cùng đồng đội bình tĩnh chiến đấu diệt hàng chục tên.

Địch cho một bộ phận  luồn sâu vào phía sau trận địa ta, đánh tạt sườn hòng chia cắt đội hình của Đại đội 5. Không sợ nguy hiểm, Lê Minh Trường đã di chuyển linh hoạt, kịp thời chặn địch, góp phần tích cực cùng đồng đội giữ vững pháo đài Đồng Đăng. Lần này đồng chí bị thương, nhưng tự băng bó, rồi tiếp tục chiến đấu cho đến lúc anh dũng hy sinh.

Lê Minh Trường được truy tặng 1 Huân chương Quân công hạng Ba. Ngày 19/12/1979, Liệt sĩ Lê Minh Trường được Chủ tịch nước CHXHCNVN truy tặng danh hiệu AHLLVT.

5/ Đỗ Sĩ Họa (1946-1979), dân tộc Kinh, quê ở xã Hồng Vân, huyện Ân Thi, tỉnh Hải Hưng. Khi hy sinh đồng chí là Thượng úy, Phó Đồn trưởng Đồn 209, CAVT tỉnh Quảng Ninh, Đảng viên ĐCSVN.

Đỗ Sĩ Họa đã tham gia chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị, lập công xuất sắc được tặng thưởng Huân chương Chiến công, bị thương, sức khỏe giảm sút đồng chí vẫn tình nguyện lên bảo vệ biên giới phía Bắc.

Ngày 17/2/1979, quân xâm lược ồ ạt tấn công, Đồn trưởng đi công tác xa. Đỗ Sĩ Họa đã khẩn trương triển khai đội hình chiến đấu theo phương án, trực tiếp phụ trách hướng chính diện.

Đồn và các chốt bị pháo và cối của địch bắn cấp tập. Ở vị trí chỉ huy, Đỗ Sĩ Họa bình tĩnh quan sát địch. Khi địch ngừng bắn pháo để bộ binh xông lên, đồng chí đã dũng cảm, mưu trí chỉ huy đơn vị bẻ gãy nhiều đợt tấn công của địch, diệt và làm bị thương nhiều tên.

Phát hiện hỏa lực lợi hại của ta ở Đồi Quế, địch dùng chiến thuật biển người ào lên. Các chiến sĩ chốt trên Đồi Quế ngoan cường chiến đấu, diệt nhiều tên địch. Nhưng vì lực lượng quá chênh lệch, Đồi Quế đã bị địch chiếm giữ.

Quyết giành lại, Đỗ Sĩ Họa đã tổ chức lực lượng tấn công địch, chiếm lại được Đồi Quế. Địch vừa ào lên hết đợt này đến đợt khác, vừa kêu gọi ta đầu hàng Đỗ Sĩ Họa trả lời: "Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết".

Đi tới từng ụ súng, đồng chí động viên chiến sĩ quyết tâm chiến đấu bảo vệ Đồn, bảo vệ Tổ quốc. Nhìn người chỉ huy mặt bê bết máu, ánh mắt rực lửa căm thù, các chiến sĩ vô cùng xúc động, tin tưởng. Noi gương người chỉ huy, cả đơn vị ngoan cường chiến đấu, tiêu diệt 227 tên địch, giữ vững trận địa.

Đỗ Sĩ Họa bị thương lần thứ nhất, lần thứ hai, lần thứ ba cho đến lúc anh dũng hy sinh cũng không rời trận địa.

Đồn 209 được đề nghị tuyên dương Đơn vị Anh hùng. Đồng chí được truy tặng cấp hàm Thượng úy và Huân chương Quân công hạng Ba.Ngày 19/12/1979, Liệt sĩ Đỗ Sĩ Họa được Chủ tịch nước CHXHCNVN truy tặng danh hiệu AHLLVT.

6/ Lộc Viễn Tài (1940-1979), dân tộc Tày, quê ở xã Vĩ Thượng, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. Khi hy sinh đồng chí là Thượng úy, Đồn trưởng Đồn 155, CAVT Hà Tuyên (nay là Đồn Biên phòng Cốc Pàng, Bảo Lạc, Cao Bằng), Đảng viên ĐCSVN.
Đồn BP 155, nơi Thượng úy Lộc Viễn Tài hy sinh

Lộc Viễn Tài là cán bộ đã chỉ huy đơn vị đánh nhiều trận xuất sắc, đạt hiệu suất chiến đấu cao, giữ vững được trận địa, bảo vệ được dân.

Sáng ngày 17/2/1979, quân xâm lược dồn dập bắn pháo, cối dọn đường, rồi thúc quân ồ ạt tấn công Đồn 155 .

Lộc Viễn Tài bình tĩnh quan sát địch, đồng thời đi sát động viên từng chiến sĩ quyết tâm chiến đấu bảo vệ Đồn. Chỉ huy mũi chính diện, đồng chí trực tiếp bắn đại liên vào đội hình địch. Phát hiện 3 tên chỉ huy của địch, Lộc Viễn Tài đã lệnh cho cối bắn trúng, diệt chúng.

Đơn vị bẻ gãy nhiều đợt tấn công của địch, tiêu diệt gần 100 tên, tạo điều kiện cho 2 tổ chốt diệt gần 100 tên nữa.

Bị thiệt hại nặng, địch cho bộ binh lui rạ để củng cố đội hình, đồng thời cho pháo bắn cấp tập vào trận địa ta. Nhưng khi bộ binh địch lại xông lên, chúng đã bị cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng 155 đánh bật ra.
Lô cốt phòng ngự trước cổng Đồn 155

Ngày 5/3/1979, địch tập trung lực lượng quyết chiếm Đồn 155 và cao điểm 1379 của ta. Với thủ đoạn cho pháo bắn suốt một tiếng đồng hồ, sau đó dùng bộ binh chia thành nhiều mũi ồ ạt tấn công, nhưng địch vẫn bị đánh bật ra. Địch phải tăng quân.

Lợi dụng sương mù, Lộc Viễn Tài đã tổ chức lúc lượng phục kích, đánh dồn địch vào hầm chông, bãi mìn gài sẵn, diệt nhiều tên, buộc địch phải thu quân, củng cố đội hình, rồi mở đợt tiến công mới. Lộc Viễn Tài chỉ huy một tổ chặn đánh địch từ xa, chia cắt đội hình địch ra, tiêu diệt nhiều tên.

Quân địch quá đông, đạn sắp hết, đồng chí lệnh cho hai chiến sĩ rút lui, còn mình dùng những viên đạn cuối cùng ghìm chân địch, bảo vệ đồng đội. Trong tay còn hai quả lựu đạn nứa, Lộc Viễn Tài chờ địch đến gần, đồng chí giật nụ xòe, ném vào đội hình địch, diệt thêm gần chục tên và đã anh dũng hy sinh.
CBCS Đồn 155 hôm nay

Tính chung trong các trận chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, riêng Lộc Viễn Tài đã diệt 91 tên. Đồng chí được truy tặng Huân chương Quân công hạng Ba. Ngày 19/12/1979, Liệt sĩ Lộc Viễn Tài được Chủ tịch nước CHXHCNVN truy tặng danh hiệu AHLLVT.

7/ Nguyễn Vũ Tráng (1948-1979), dân tộc Kinh, quê ở xã Minh Đức, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Khi hy sinh đồng chí là Trung úy, Chính trị viên phó Đồn 1, CAVT Lai Châu (may là Đồn Biên phòng Sì Lờ Lầu, huyện Phong Thổ, Lai Châu), Đảng viên.

Trong năm 1969, Nguyễn Vũ Tráng đã lập chiến công tham gia chiến đấu ở chiến trường C, đồng chí đã được khen thưởng và kết nạp Đảng tại trận địa Sau khóa đào tạo Sĩ quan Biên phòng, Nguyễn Vũ Tráng về Đội Công tác của CAVT Lai Châu, đồng chí luôn luôn tận tụy, nêu cao tinh thần khắc phục khó khăn, lăn lộn khắp địa bàn, tham gia xây dựng phòng tuyến nhân dân và thế trận mới bảo vệ biên giới.
Đồn 1, nay là Đồn BP Sì Lờ Lầu (Phong Thổ, Lai Châu)

Sáng ngày 17/2/1979, quân xâm lược bắn hàng ngàn quả pháo, rồi cho bộ binh ồ ạt tấn công Đồn Biên phòng số 1 của ta. Theo phương án đã được xây dựng và luyện tập, đồng chí chỉ huy mũi chính diện, chặn bước tiến của địch.

Ngay loạt đạn đầu, đơn vị đã diệt nhiều tên, địch hoảng hốt lui quân củng cố đội hình, lại xông lên. Nguyễn Vũ Tráng đã mưu trí dùng đá ném về phía địch, địch lầm tưởng là lựu đạn, chúng dạt ra, chiến sĩ ta có điều kiện lắp đạn tiếp tục chiến đấu.

Địch hò hét xông lên, Nguyễn Vũ Tráng quét 4 loạt súng, diệt 30 tên, cùng đồng đội diệt hàng trăm tên, đẩy lùi 15 đợt tiến công của chúng.

Ngày 6/3/1979, lợi dụng sương mù, địch cho nhiều mũi tấn công vào Đồn và Đại đội 5 của CAVT Lai Châu. Hiệp đồng chặt chẽ với Đại đội 5, Nguyễn Vũ Tráng chỉ huy đơn vị đánh địch quyết liệt, tiêu diệt 150 tên. Thấy khẩu 12,7 ly của chốt bạn bị hỏng hóc, đồng chí đã băng qua lưới đạn của địch đến sửa chữa súng cho đồng đội. Bị thương gãy cả hai chân, Nguyễn Vũ Tráng vẫn ngoan cường chỉ huy đơn vị chiến đấu.
Trạm BP Sì

Khi có lệnh lùi về phía sau, đồng chí xin ở lại cản giặc. Thấy chỉ còn một mình đồng chí, địch hò hét xông lên. Nguyễn Vũ Tráng dùng lựu đạn và súng AK đánh trả địch, diệt nhiều tên nữa và anh dũng hy sinh.

Nguyễn Vũ Tráng được truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất. Ngày 19/12/1979, Liệt sĩ Nguyễn Vũ Tráng được Chủ tịch nước CHXHCNVN truy tặng danh hiệu AHLLVT.

8/ Võ Đại Huệ (1952-1979), dân tộc Kinh, quê ở xã Nghi Xá, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Khi hy sinh đồng chí là Trung úy, Đại đội trưởng Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 16, Bộ Tư lệnh CAVT, Đảng viên.

Từ năm 1969 đến năm 1972, Võ Đại Huệ tham gia chiến đấu chống Mỹ trên các chiến trường Đường 9, Khe Sanh, Tây Nguyên... Đồng chí đã lập nhiều chiến công, được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Võ Đại Huệ tình nguyện sang CAVT và được điều động về Trung đoàn 16.
Sáng 17/2/1979, quân xâm lược cho pháo các cỡ bắn cấp tập, rồi dùng bộ binh có xe tăng yểm trợ ồ ạt tấn công vào khu vực Mường Khương (Lào Cai). Do chuẩn bị trước, sẵn sàng thế trận bảo vệ Tổ quốc, đồng chí đã chỉ huy đơn vị đánh trả địch quyết liệt, làm cho bộ binh địch không phối hợp được với xe tăng của chúng, phải ùn lại.

Võ Đại Huệ lệnh cho hỏa lực bắn chính xác vào đội hình địch, đồng thời trực tiếp chỉ huy một tổ dùng B40 chặn đánh xe tăng ở ngã ba Mạn Tuyển, diệt liên tiếp 2 chiếc. Nhiều chiếc khác xông vào phía Mường Khương. Đồng chí dẫn tổ B40 chạy tắt đường, đón đánh. Chiếc đi đầu bị bắn cháy. Nhiều chiếc sau ùn lại. Võ Đại Huệ trực tiếp bắn cháy 4 chiếc nữa.

Sáng ngày 18/2/1979, được pháo yểm trợ, địch cho lực lượng chia thành ba mũi tấn công lên núi Na Khuy. Võ Đại Huệ mưu trí và dũng cảm chỉ huy đơn vị đánh bật địch xuống, giữ vững trận địa. Cuộc chiến đấu ác hệt kéo dài nhiều tiếng đồng hồ.

Bị thương vào tay, nhưng đồng chí vẫn bình tĩnh chỉ huy và động viên chiến sĩ quyết tâm chiến đấu, diệt nhiều địch, giữ vững trận địa. 11 đợt tấn công của địch đã bị đẩy lùi. Đơn vị đã diệt 300 tên địch. Riêng đồng chí đã diệt 48 tên, trong đó có tên chỉ huy xe tăng.

Chiều ngày 18/2/1979, chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, Võ Đại Huệ chỉ huy đơn vị phá vòng vây dày đặc của địch, di chuyển đến vị trí mới, đồng chí đã anh dũng hy sinh.

Võ Đại Huệ được truy thăng cấp hàm Trung úy và truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất. Ngày 19/12/1979, Liệt sĩ Võ Đại Huệ được Chủ tịch nước CHXHCNVN truy tặng danh hiệu AHLLVT.

9/ Quách Văn Rạng (1956-1979), dân tộc Mường, quê ở xã Thành Công, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Khi hy sinh đồng chí là Trung sĩ, Trung đội phó, Đồn 125, CAVT tỉnh Hoàng Liên Sơn, Đảng viên.

Quách Văn Rạng đã có nhiều công lao trong việc xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện và xây dựng thế trận bảo vệ Tổ quốc ngay ở tuyến đầu do Đồn 125 phụ trách.
Cột mốc tại Đồn BP Cửa khẩu Lào Cai, nơi Trung sĩ Rạng hy sinh
Ngày 17/2/1979, quân xâm lược có xe tăng và pháo yểm trợ tấn công vào Đồn biên phòng 125 và khu vực thị xã Lào Cai. Thực hiện quyết tâm chiến đấu của đồn, Quách Văn Rạng đã mưu trí, dũng cảm chỉ huy đơn vị đánh trả quyết liệt, bẻ gãy nhiều đợt tấn công của chúng, giữ vững trận địa đầu cầu (bên bờ sông Nậm Thi).

Chiều hôm đó, đồng chí dẫn hai chiến sĩ vượt khỏi chiến hào tiến đánh xe tăng địch ở khu vực dốc Máng Nước, thị xã Lào Cai, bắn cháy 2 xe tăng của địch, diệt nhiều tên.

Khi đơn vị di chuyển trận địa, tổ Quách Văn Rạng xung phong ở lại chiến đấu chặn địch và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. 5 ngày đêm trong vòng vây của địch, đồng chí cùng đồng đội tìm đường về đơn vị phối hợp chiến đấu.

Trong một trận chiến đấu, một chiến sĩ bị lạc, một chiến sĩ bị thương nặng. Quách Văn Rạng vừa cõng đồng đội vừa mang vũ khí gồm B40, AK và lựu đạn luồn lách trong rừng. Địch phát hiện, chúng xông đến quá đông.

Đồng chí đưa chiến sĩ bị thương vào chỗ khuất ẩn nấp, nói: "Không thể để cả hai người cùng sa vào tay giặc", rồi nhạy ra, đánh lạc hướng địch. Địch bâu đến. Chúng hò nhau bắt sống.

Quách Văn Rạng ném hai quả lựu đạn cuối cùng, diệt nhiều tên, nhưng đồng chí không thoát khỏi trước bọn lính đông đặc

Bị địch bắt, chúng tra tấn dã man, ép đồng chí chỉ đường về vị trì mới của đơn vị. Quách Văn Rạng giữ tròn khí tiết, quyết không khai. Địch đã giết hại đồng chí ngay tại trận. Ở nơi ẩn nấp, người đồng đội bị thương đã chứng kiến hành động quả cảm của Quách Văn Rạng.
Trong hơn 5 ngày đêm liên tục chiến đấu, riêng Quách Văn Rạng đã lập công xuất sắc và quên mình để cứu đồng đội.Quách Văn Rạng đã được truy tặng Huân chương Quân công hạng Ba.Ngày 19/12/1979, Liệt sĩ Quách Văn Rạng đã được Chủ tịch nước CHXHCNVN truy tặng danh hiệu AHLLVT.
-------------------------------------
* Hình ảnh các Đồn Biên phòng ngày nay, cách đây 33 năm là những trận địa khốc liệt ngăn bước tiến của quân xâm lược và trở thành di tích của BĐBP

16 tháng 2, 2012

PHÍA SAU DANH HIỆU "TUỔI TRẺ ANH HÙNG BẢO VỆ TỔ QUỐC 1979".

Trong ngôi nhà nhỏ đơn sơ vào một ngày mùa đông giá rét, chúng tôi ngồi trò chuyện với anh. Giọng anh trầm lắng kể về những ngày tháng chiến đấu dũng cảm bảo vệ Tổ quốc (1979) và hơn 20 năm dài đằng đẵng tưởng chừng vô vọng đối mặt với bệnh tật, rồi vươn lên làm thầy giáo...

Chuyện anh kể là những bước thăng trầm của cuộc đời nhưng luôn tỏa sáng ý chí, nghị lực phi thường từ gian lao đến vinh quang và khi phải đối mặt với số phận nghiệt ngã.

Anh là Hà Văn Đồng, chiến sỹ Đồn Biên phòng Nặm Quét (nay Đồn Biên phòng Cô Ba, Bảo Lạc, Cao Bằng), vinh dự được phong tặng Huy chương Tuổi trẻ Anh hùng bảo vệ Tổ quốc năm 1979; bị liệt đôi chân hơn 20 năm ở xóm Pò Háng, Sóc Hà, Hà Quảng, Cao Bằng vươn dậy đi bằng nghị lực, khát vọng sống mở con đường tri thức cho thế hệ trẻ vươn xa, góp sức vào công cuộc đổi mới.

Chiến sỹ dũng cảm 

Nói về thời trai trẻ, đôi mắt đăm chiêu của anh sáng lên niềm tự hào, giọng sôi nổi: Khi tôi còn là thanh niên, được đi bộ đội là niềm vinh dự để góp sức bảo vệ Tổ quốc.

Năm 1976, anh lên đường nhập ngũ, nhận nhiệm vụ tại Đồn Biên phòng Nặm Quét. Nhanh nhẹn, thông minh và có tinh thần trách nhiệm cao, anh được chọn đi đào tạo phiên dịch tiếng Trung Quốc, hệ đại học của Bộ Tư lệnh biên phòng.

Cuối năm 1978, anh trở về đơn vị, là Trung sỹ phiên dịch tổng hợp, Đảng viên trẻ - Bí thư Chi đoàn Thanh niên. Vững chắc nghiệp vụ, anh tham mưu cho đơn vị hiệp thương thành công bảo vệ chủ quyền, đường biên mốc giới đúng quy định.

Chiến sự biên giới tháng 2/1979 diễn ra là ký ức không quên trong cuộc đời anh. Đó là những tháng ngày, anh và đồng đội đã sống và chiến đấu với gian nan, cam go quyết liệt hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Đơn vị đứng chân trên địa bàn núi cao, hiểm trở và chia cắt, dân cư ở rải rác trên những triền núi. Vì vậy, khi chiến sự xảy ra, việc chi viện cho đơn vị rất khó khăn.

Trước muôn vàn gian nguy, Ban Chỉ huy đơn vị quán triệt giữ vững tinh thần, chủ động ứng phó trước mọi tình huống, bảo toàn lực lượng, di chuyển dân đi hậu cứ an toàn.

Gian khó nhất là đi xuống địa bàn làm nhiệm vụ, anh xung phong nhận không chút đắn đo.

Trong sự bao vây từ phía bên kia, anh bí mật băng rừng lội suối, ăn đói, nhịn khát, ngủ đêm ở hốc cây giữa rừng hoang lạnh đến các chốt vận động chiến sỹ sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ dân.

Gần 30 ngày đêm cam go làm nhiệm vụ, anh và đơn vị đã vận động và đưa bà con ra vùng hậu cứ an toàn, bảo toàn lực lượng và bí mật quân sự.

Gian nguy, quyết liệt nhất là anh và Ban Chỉ huy đơn vị ở trong tình thế bị bao vây vẫn kiên cường đào hầm trong rừng để chuyển toàn bộ tài liệu mật quân sự trong đêm tối đi cất giấu an toàn.

Chiến sự kết thúc, với tinh thần dũng cảm, lập nhiều chiến công, anh vinh dự được phong tặng Huy chương Tuổi trẻ Anh hùng bảo vệ Tổ quốc.

Khi  đôi chân ngừng đi vẫn là...

Sau khi chiến sự kết thúc một thời gian ngắn, anh bị bệnh thần kinh tọa, liệt nhẹ chân, rồi liệt hẳn.

Năm 1980, dù đã kiên trì đi chữa trị, nhưng số phận không mỉm cười với anh. Ngày phục viên về nhà cũng là ngày đôi chân rắn giỏi, băng rừng lội suối trong những đêm dài chiến đấu của anh đã ngừng đi, khi đang sung sức trai trẻ. Tuổi đôi mươi, anh phải nằm liệt trên giường từ ăn, uống, sinh hoạt hằng ngày đều do tay cha, mẹ già chăm sóc.

1 - 2 năm, rồi 20 năm dài đẵng đẵng cha, mẹ anh chắt chiu từng đồng tiền ít ỏi từ bán thóc, nuôi lợn, vay nợ... để lo chữa bệnh cho con. Nhưng đôi chân anh vẫn tê liệt, bất động.

Suy ngẫm quy luật đời người “trẻ cậy cha, già cậy con” khiến anh đã bao đêm khóc thầm. Vì cha mẹ ngày càng già yếu, còn anh vẫn là gánh nặng cho gia đình, không đền đáp được công lao cha mẹ. Uống thuốc quanh năm, bệnh không chuyển biến, đã có lúc anh buồn vô vọng ứa nước mắt với cuộc sống ghì chặt trên chiếc giường chật hẹp.

Thương con, dù hoàn cảnh gia đình rất khó khăn nhưng cha anh vẫn kiên trì lo tìm thầy, mua thuốc cho con chữa bệnh. Ông động viên anh: “Con kiên trì uống thuốc sẽ có ngày đứng dậy được. Hãy nghĩ và làm một việc gì đó cho mình nếu có thể”. Câu nói giản dị, yêu thương của cha như liều thuốc tinh thần cho anh.

Hàng ngày, anh đem tài liệu, sách học tiếng Trung Quốc ra nghiên cứu lại, tìm thêm tài liệu, sách mới để đọc. Năm này qua năm khác, không biết bao nhiêu nghìn lần anh lật dở đọc sách mà tôi thấy những chồng sách chất cao bên giường của anh đã sờn hết mép lề giấy.

Anh tâm sự: Ngày tôi nằm liệt giường, thỉnh thoảng bọn trẻ đến chơi tò mò hỏi “Chú đọc sách gì nhiều thế?”. Được anh giảng giải và nói tiếng Trung Quốc minh họa, nghe kể truyện văn học nổi tiếng của Trung Quốc như Tây du ký, Tam quốc diễn nghĩa... nên bọn trẻ “say mê” anh, rất thích đến chơi.

Thương các em nhỏ làng quê nghèo khó chịu nhiều thiệt thòi, anh lóe lên suy nghĩ muốn đem vốn kiến thức của mình truyền thụ cho các em. Nhưng khổ nỗi anh không ngồi dậy được để dạy học.

Đến năm 2000, sau bao năm uống thuốc ròng dã, đôi chân anh bắt đầu có cảm giác. Một tia hy vọng lóe lên cùng với ý chí nung nấu muốn dạy học cho các em nhỏ đã thôi thúc anh thêm kiên trì chữa bệnh. Dần dần anh ngồi dậy được và cha dìu anh tập những bước đi run rẩy, yếu ớt. Anh xin cha dạy tiếng Trung Quốc miễn phí cho các em nhỏ trong làng. Cả nhà ủng hộ.

Mùa hè năm 2001, trong nhà anh đầy ắp tiếng cười nói của các em nhỏ đến học. Đó là ngày anh hạnh phúc không ngăn được nước mắt vì đã tìm lại mình sau hơn 20 năm bệnh tật.

...Thầy giáo chắp cánh cho thế hệ trẻ vươn xa

Với anh, mỗi ngày dạy học là mỗi ngày vui. Để các em được học và cập nhật với chương trình chính quy của Trường Đại học (ĐH), anh liên hệ tìm mua giáo trình học tiếng Trung Quốc, Trường ĐH Ngoại ngữ, Hà Nội và giáo trình Hán ngữ, Học viện dân tộc Quảng Tây, Trung Quốc về nghiên cứu và dạy.

Anh dồn tâm huyết, kiến thức của mình để truyền thụ cho các em rất tỷ mỷ, ân cần với tinh thần trách nhiệm cao. “Hữu xạ tự nhiên hương”, danh tiếng dạy học tiếng Trung Quốc của anh lan truyền, học sinh (HS) thị trấn Xuân Hòa (Hà Quảng), Hòa An, Thông Nông... tìm đến học. Dù hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, đôi chân chỉ đi lại chệnh choạng trong nhà nhưng anh vẫn dạy học miễn phí không lấy tiền.

Anh tâm sự: “Quê mình nghèo khó, các em đến học nếu không theo đuổi chuyên ngành tiếng Trung Quốc thì coi như có vốn ngoại ngữ để giao dịch tại các cửa khẩu biên giới, tìm việc làm trong xu thế hội nhập với nước ngoài”. Năm tháng trôi qua, anh cẫn mẫn như con ong thợ “rót mật” kiến thức cho các em từng ngày. Niềm say mê, tâm huyết của anh mở ra ước mơ đi tới đường tương lai, tri thức cho không ít HS.

Trong số HS đến học với anh có gần 40 người đã theo đuổi chuyên ngành tiếng Trung Quốc, thi đỗ vào các Trường ĐH Ngoại ngữ ra làm phiên dịch, biên dịch và dạy tiếng Trung Quốc.

Tiêu biểu như anh Lô Viết Thắng, chị Nông Thị Huệ hiện nay đang học Tiến sỹ, Thạc sỹ tại Trung Quốc; Nông Thị Hạnh là giáo viên dạy tiếng Trung Quốc, Trường ĐH Sư phạm Thái Nguyên; Nông Thị Thu công tác tại Công ty Khoáng sản Cao Bằng; Đàm Thị Thủy, học Khoa Hán Nôm, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội...

Đặc biệt, có hai chị em ruột là Nông Thị Dung và Nông Văn Dự, Sóc Hà, Hà Quảng đi học với thầy Đồng từ năm lớp 5, sau này đi thi vào Trường ĐH Ngoại ngữ Hà Nội, Khoa tiếng Trung Quốc. Hiện nay, Dung là chuyên viên phiên dịch tiếng Trung Quốc tại Sở Ngoại vụ tỉnh.

Nhớ về năm tháng thơ ấu học với thầy Đồng, Dung xúc động nói: Ngày còn nhỏ, bố mẹ cho hai chị em đến nhà thầy Đồng học chỉ mong biết nói tiếng Trung Quốc để sau này đi bán hàng ở cửa khẩu. Nhưng khi đến học, trí tuệ uyên thâm và sự tận tình của thầy đã mở ra chân trời mới, cuốn hút em say mê học tiếng Trung Quốc. Hai chị em quyết định thi vào Trường ĐH Ngoại ngữ, Hà Nội. Em thi đỗ 26 điểm, trong đó môn tiếng Trung 8,5 điểm. Em mới biết ơn thầy Đồng đã mở ra mơ ước chắp cánh lương lai, tri thức cho em và bao người khác vươn xa.

Còn rất nhiều lời tạ ơn, tôn vinh thầy Đồng mà chúng tôi không thể kể ra hết về một người thầy không có danh hiệu. Nhưng anh có niềm vinh quang luôn tỏa sáng được mọi người ghi nhận. Phía sau danh hiệu Anh hùng là nghị lực phi thường đã chiến thắng số phận nghiệt ngã, để mở con đường mơ ước, tri thức cho thế hệ trẻ.

Một mùa xuân mới đã đến, trong ngôi nhà nhỏ đơn sơ xóm Pò Háng, nơi biên giới xa xôi, trái tim tràn đầy khát vọng sống của người anh hùng Hà Văn Đồng năm xưa nở đóa hoa đời thường.
Trường Hà

(Bài viết đã được đăng tải trên Báo Cao Bằng)

THÁNG 2/1979, TỰ SỰ CỦA NGƯỜI ĐÃ TỪNG LÀ LÍNH...

Huy Đức - Ngày 17/2/1979, khi vừa vào đến cổng trường, chúng tôi nhận được tin: Vào lúc mờ sáng, "Trung Quốc đã đem quân bắn giết dọc theo Biên giới 6 tỉnh phía Bắc nước ta".

Sáng ấy, nhiều đứa trong chúng tôi đi thẳng từ Trường Phổ thông đến UBND xã. Chúng tôi đăng ký nhập ngũ mà không kịp nói một câu với chính cha mẹ của mình.


"Quân Bành trước Bắc Kinh" đã kéo chúng tôi từ lớp học ra thẳng chiến trường. Nhưng, không hiểu sao Nhà trường hôm nay, lại không nói gì về cuộc chiến tranh kéo dài thế giằng co hơn 10 năm ấy.

Ba mươi năm trước, những "đàn trẻ nhỏ", chạy "từ Biên giới về".

Ba mươi năm sau, những đứa trẻ ấy lớn lên và biết:

Tháng 4/1956, nhân khi quân Pháp vừa rút khỏi Việt Nam, Trung Quốc (lúc này đã trở thành "xã hội chủ nghĩa anh em") chiếm đảo lớn nhất thuộc Hoàng Sa.

Ngày 19/1/1974, sau khi Trung Quốc ký Thông cáo chung Thượng Hải với Mỹ và sau Hiệp định Paris 1973 (Mỹ rút lui khỏi Việt Nam), Trung Quốc - vẫn đang là "xã hội chủ nghĩa anh em", đánh chiếm toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa, giết 58 chiến sỹ Hải Quân Sài Gòn, chiếm đảo.

Ngày 14/3/1988, Trung Quốc lại tấn công một số đảo đá của Trường Sa, giết hại 74 người lính Hải quân Việt Nam và, từ đó, chiếm luôn những hòn đảo ấy.

Rồi... Ngày 12/11/2008, Trung Quốc tuyên bố đầu tư 29 tỷ USD cho một dự án "khảo sát và khai thác Biển Đông". Trong đó, bao gồm cả những biển đảo của Việt Nam mà Trung Quốc vẫn còn chiếm giữ.

Bốn tháng trước, 7/2008, khi Hãng Dầu khí Mỹ, ExxonMobil, hợp tác với Việt Nam trong một dự án thăm dò ở Nam Côn Sơn, Trung Quốc đã gây áp lực với ExxonMobil để họ phải rút lui.

Năm 2007, Trung Quốc đã gây áp lực buộc BP ngưng hoạt động trong dự án dầu khí có vốn đầu tư 2 tỷ USD với Việt Nam ở hai vùng Mộc Tinh, Hải Thạch.

Năm 1994, Trung Quốc phản đối hợp đồng dầu khí giữa Việt Nam và Mobil ở vùng Thanh Long.

Chỉ hai năm sau khi họ ký hợp đồng thăm dò dầu khí với Công ty Crestone ở vùng Vũng Mây - Tư Chính. Tàu Trung Quốc "đi lại nghênh ngang" ngoài Biển Đông, trong khi, các Dự án của Việt Nam thì phải cay đắng rút lui mà không làm gì được.


Thế hệ chúng tôi, lớn lên "dưới mái trường xã hội chủ nghĩa", có nhiều sự kiện xảy ra ở Thủ đô, ở Biên giới và ngoài biển mà chúng tôi không hề được biết.

Chúng tôi vẫn hát về Mao Trạch Đông như "mặt trời lên" khi mà "Bác Mao" lần lượt đem quân chiếm Hoàng Sa, rồi Trường Sa.

Chúng tôi hát, "núi liền núi, sông liền sông "khi mà nhiều ngọn núi, khúc sông đã không còn nữa.

Cho đến ngày 17/2... Được cầm súng, được "vạch mặt, chỉ tên" quân xâm lược cũng là hạnh phúc.

Cho dù, nhiều khi ngẫm lại, sự thật chỉ được thông tin vừa lúc, đủ để chúng tôi tất tả lên đường.

Không như chúng tôi, các bạn trẻ hôm nay không ngồi chờ nhà trường "mớm" cho gì thì biết nấy. Nhưng bi kịch của họ lớn hơn...

Thật không dễ dàng gì, khi biết một kẻ đang rình rập bên ta, mà vẫn phải nghe họ xưng là " láng giềng tốt ";

Một kẻ đem tàu chiến, sang giết người giữ đảo của ta, vẫn xưng là "đồng chí tốt ";

Một kẻ dùng áp lực, để đuổi đối tác tìm dầu của ta, mà vẫn nhận là "bạn bè tốt ";

Một kẻ ngang nhiên hút dầu ngoài biển của ta, mà vẫn phải gọi là " đối tác tốt ".

Khi tôi đang viết entry này thì đọc được trên blog Nông Dân Gió Lào: Người Trung Quốc sẽ tổ chức một lễ hội hoa đăng ở Hà Nội, dự kiện bế mạc vào ngày 17/2 năm nay.

Nông Dân Gió Lào cũng dẫn tin trên Vietnamnet nói rằng: Năm 2004, người Trung Quốc cũng đã tổ chức một Lễ hội Hoa đăng ở Đà Nẵng, khai mạc đúng vào ngày 19/1. Năm ấy, họ kết 30 cụm hoa đăng, theo Nông Dân Gió Lào, ứng với 30 năm ngày Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, một huyện đảo thuộc về Đà Nẵng (19/1/1974- 19/1/2004).

Có thể bởi "tình đồng chí "mà khi cấp phép, chính quyền địa phương đã không quan tâm lắm đến sự trùng hợp này. Nhưng, Nông Dân Gió Lào cho rằng các "chú Tàu" thì không làm gì "ngẫu nhiên", kể cả việc, hồi cuối tháng 11, họ cho tàu mang tên Trịnh Hoà (người mà họ nói là đã phát hiện ra Hoàng Sa và Trường Sa), cập vào Đà Nẵng.

Năm 1988, Trung Quốc đánh chiếm mấy đảo đá ở Trường Sa. Việt Nam chuyển sang đường lối quan hệ "đa phương ". Thật may mắn là Việt Nam đã không rơi vào tình thế "đơn phương", với một gã khổng lồ vừa đánh trộm, vừa xưng là "anh em, đồng chí".

Nhà nước có những lý do để cư xử với lân bang chín chắn. Nhưng, sự" bồng bột" của dân cũng cần thiết để sự thật, đôi khi, có cơ hội phơi bày.
Người dân không bao giờ muốn chiến tranh, vì nếu nó xảy ra, chỉ có họ mới là người ra trận.

Tôi đã nói chuyện với nhiều người dân ở Biên giới hồi tháng 3/1979. Tôi có nhiều người bạn là lính ở Sư đoàn đóng quân tại Lạng Sơn trong ngày 17 tháng 2. Cái mà chúng ta nói là "chiến thắng", cũng đã phải trả bằng đầu rơi máu chảy.

Tôi có hơn 3 năm ở Campuchia trong giai đoạn chiến tranh, biết câu chuyện Khmer Đỏ chống lại Việt Nam, chỉ 2 tuần sau khi nhờ Việt Nam mà có trong tay quyền bính. Biết, sau lưng Pol Pot có bàn tay của ai.

Nhưng, tôi cũng đã gặp nhiều người Việt-Gốc-Hoa, trong số hơn 675.000 người Việt-Gốc-Hoa phải ra đi trong những năm sau 1975, 1978. Nhiều người lúc ấy không biết tiếng Hoa, nhiều người đã từ lâu coi mình là dân Việt. Nhiều người khi rời Việt Nam, đã không chọn Trung Quốc như là Tổ quốc. Vận nước, phải chăng đã không tránh được thế đối đầu?.

Trung Quốc năm nào cũng nhắc lại cuộc chiến 17/2/1979, tại sao Việt Nam lại không bàn về nó một cách công khai và rút ra bài học cho mình?..


Tôi có mặt ở Hồ Gươm vào cái đêm bóng đá Việt Nam thắng Thái Lan ở lượt đi (24/12). Có mặt trên đường phố Sài Gòn ngay sau khi bóng đá Việt Nam vô địch (28/12). Đi trong thác lũ người tràn ra đường hôm ấy, nghĩ, chỉ bóng đá thôi ư mới có được sức mạnh thế này?.

Ngay từ Thế kỷ 19, khi mà lãnh thổ của một Quốc gia vẫn còn có thể mở rộng bằng chinh phục, Định ước Berlin 1885 và Tuyên bố Lausanne 1888, đã nói: "Dùng vũ lực để chiếm giữ một vùng lãnh thổ đã có chủ là một hành động phi pháp".

Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển (1982) cũng tái khẳng định tinh thần này.

Chúng ta chưa có bom hạt nhân, chúng ta chưa có tàu to súng lớn. Đất nước ta rất nhỏ. Dân ta không nhiều. Sức mạnh của chúng ta chính là chủ quyền pháp lý.

Ba mươi năm đã trôi qua, kể từ khi chúng tôi sục sôi tiến về Biên giới, đảo vẫn mất mà đất nước lặng im.

Thầy giáo dạy Sử ở trường lặng im.

Báo chí văn chương lặng im...

Tôi không rõ không khí ở trong các phòng họp căng thẳng ra sao.

Chỉ biết, nếu ngồi đó, tôi sẽ lạnh lưng khi bên ngoài im lặng.

Chỉ có sát cánh với nhân dân mới có thêm sức mạnh, đừng để cho từng chiếc đũa bị tách ra và bẻ gãy từ từ.
------------------------------------
* Bài viết của Nhà báo Huy Đức, đã đăng tải trên Blog Osin của anh, năm 2009. Nay xin phép được đăng tải lại. 

LÊ ĐÌNH CHINH LÀ CHIẾN SĨ ĐẦU TIÊN HY SINH Ở TUYẾN BIÊN GIỚI PHÍA BẮC, KỂ TỪ KHI NHÀ CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC GÂY RA CÁC CUỘC XUNG ĐỘT, TRANH CHẤP BIÊN GIỚI TỪ 1974

Mai Thanh Hải - Dù muốn quên lãng hay tìm cách giấu kín thế nào, thì sự thật vẫn cứ là sự thật: Câu chuyện về người Anh hùng - Liệt sĩ Lê Đình Chinh (Xem ở đây) đã không chỉ in hằn trong tâm tưởng bao nhiêu người, mà còn được ghi lại trong sách truyện, văn thơ.

Những trang sách, vần thơ về người lính Biên phòng ngã xuống khi tròn 18 tuổi, trong khi tay không đánh trả lính, Công an Trung Quốc, bảo vệ biên giới phía Bắc, dẫu ra đời cách đây hơn 30 năm, nhưng đến nay vẫn còn mang đầy tính thời sự.

Đó là cuốn sách "Lê Đình Chinh - Con người và cuộc sống chiến đấu" (Biên tập: Đặng Chí Thành. Do Nhà Xuất bản Thanh Niên, ấn hành tháng 12/1978).

Cuốn sách ghi rõ: Lê Đình Chinh là chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang, đã hy sinh anh dũng ngày 25/8/1978, trong khi chiến đấu để bảo vệ Biên giới phía Bắc của Tổ Quốc.

Ngày 22/8/1978 (tức trước lúc hy sinh 3 ngày), anh đã viết một lá thư cho người anh họ, trong đó có đoạn:

" Hữu Nghị Quan, ngày 22/8/1978.

Anh Thi kính mến!

...Em xác định rằng trong cuộc chiến đấu bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc sẽ có mất mát, cái đó khó mà tránh khỏi. Nhưng em đã sẵn sàng. Em sẽ là người cầm súng để bảo vệ đất nước khi cần thiết. Chúng ta tin tưởng chính nghĩa sẽ thắng..."(trang 63).

Trang 80 của cuốn sách cũng ghi lại lời kể của đồng đội về thời khắc Thượng sĩ Lê Đình Chinh chiến đấu và hy sinh trong khi bảo vệ đồng đội, giữ gìn biên cương Tổ quốc:

"... Trước mặt Lê Đình Chinh và đồng đội anh lúc đó, là hàng trăm tên côn đồ và Công an, Bộ đội Trung Quốc mặt thường phục đang ném đá, dùng dao, gậy nhảy xổ vào đâm chém cán bộ và nhân dân ta đang thăm hỏi, chăm sóc sức khỏe bà con người Hoa.

Trước hành động điên cuồng của bọn côn đồ, lòng căm giận như dầu sôi lửa cháy, Lê Đình Chinh chạy vụt lên quả đồi, dang tay cản hành vi đẫm máu của địch.

Vừa lúc ấy, Lê Xuân Tước cũng lao lên, cứu một chị cán bộ bị bọn côn đồ đánh vỡ đầu, đưa về tuyến sau. Bọn địch ném đá, ném con quăng vót nhọn vun vút về phía Tước, Tước đón bắt và ném lại, giáng cho chúng những đòn đích đáng.

Nhưng chúng đông hơn. Tước bị vây ép vào một góc lều. Chúng dùng dao quắm, dao găm, gậy gộc ném tua tủa vào Tước. Lê Đình Chinh đang cứu những cán bộ bị chúng hành hung, cũng phải luôn tay bắt đỡ, vừa đánh vừa tránh những đường dao, gậy gộc của chúng lao tới.

Khi nghe tiếng Tước kêu chi viện, Lê Đình Chinh vừa lừa miếng đánh địch, vừa vọt lên đồi cứu bạn.

Chinh đánh tạt phía sườn bọn côn đồ khiến chúng bị dạt ra. Tước được giải vây.

Lúc này một bọn côn đồ khác gần đó đã ném dao, đá tới tấp vào Chinh. Chinh bị một hòn đá to trúng vào đầu, vết thương rất nặng. Mặc dù vậy, anh vẫn tiếp tục xông lên đánh địch nhưng anh đã ngã xuống bởi một nhát dao lén của kẻ thù.

Lê Đình Chinh nằm xuống ngay trên mảnh đất vùng địa đầu của biên giới Tổ quốc thân yêu mà đơn vị anh có trách nhiệm ngày đêm giữ vững.

Lê Đình Chinh là người chiến sĩ đầu tiên của các Lực lượng Vũ trang chúng ta hy sinh ở tuyến Biên giới phía Bắc, kể từ khi nhà cầm quyền Trung Quốc gây ra các cuộc xung đột, tranh chấp biên giới từ năm 1974.

... Tước cùng đồng đội ôm lấy Chinh, đưa về tuyến sau. Máu từ cổ thi hài Lê Dình Chinh thấm đỏ và nóng hổi trên tay đồng đội, trong trái tim rực lửa căm thù của tất cả Đảng viên, Đoàn viên, cán bộ và chiến sĩ Đoàn Thanh Xuyên chúng tôi.

Ngay hôm sau, đơn vị chúng tôi đã tổ chức Lễ Truy điệu và phát động đợt Học tập noi theo tấm gương dũng cảm của Liệt sĩ Lê Đình Chinh với tất cả lòng thương nhớ, với lời thề: "Chiến đấu bất khuất kiên cường như Anh, vì sự nghiệp Bảo vệ Chủ quyền và An ninh lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam XHCN yêu quý...".

Phần cuối cuốn sách có in bài thơ của Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, viết về Lê Đình Chinh:

Xin trân trọng giới thiệu bài thơ này.
-------------------------------------------------------

TÔI ĐÃ GẶP ANH

Hình như tôi đã gặp anh
buổi sớm đồng quê bình minh trong mát
Nông trường Sông Âm say mê khúc hát
tuổi lên đường màu áo lá tươi nguyên
người lính trẻ nói tình yêu Tổ quốc
bằng sự ra đi tự nguyện của mình
Hình như tôi đã gặp anh
bình minh rừng - mắt lá nhìn cảnh giác
vai áo xước qua đêm truy kích giặc
đường tuần tra biên giới phía Tây nam
người lính trẻ nói tình yêu Tổ quốc:
Trước mũi súng của mình
                                  cúi mặt một tù binh !

Hình như tôi đã gặp anh
đêm đơn vị hành quân lên phương Bắc
chuyện anh để ngắn dần con đường dốc
nghe dập dồn vó ngựa thuở Quang Trung
người lính trẻ nói tình yêu Tổ quốc
bằng tình yêu từng trang sử anh hùng

Lê Đình Chinh
khi tôi biết tên anh, tôi tìm đến
chỉ gặp đồng đội của anh bồng súng chào nén lặng
trước nấm mộ biên thùy cỏ đắp còn tươi
tuổi hai mươi! Anh đem tuổi hai mươi
chặn lũ giặc điên cuồng qua biên giới
anh ngã xuống - hạt gieo vào đất ấy
hóa cây rừng xanh mãi tuổi hai mươi...

Tôi đi dọc rừng cây
                          đi dọc đất đai mình
đâu cũng gặp những người đi giữ nước
những người nói tình yêu Tổ quốc
như là đang trò chuyện cùng tôi!.
                                                 NGUYỄN TRỌNG TẠO

15 tháng 2, 2012

VIẾT CHO CON, VỀ NGÀY 17/2/1979


Con gái yêu của Ba!.

Tháng 2/2012: Con gái yêu của Ba tròn 10 tuổi và đã học đến lớp 5.

Con chỉ biết, những ngày này là qua Tết Nguyên đán Nhâm Thìn và mới phải đi học nhưng con vẫn dậy sớm đến trường và thánh thót khoe với Ba mẹ những điểm 9-10 sau mỗi ngày tới trường từ sáng đến tối.

Xung quanh con lúc này, chỉ có những bài học; những phút vui cùng bạn bè, cô giáo ở ngôi trường giữa lòng Hà Nội xanh ngắt cây lá và ngập tràn sắc màu xanh đỏ của những bé con má đỏ, môi hồng...; xung quanh con là đầy đủ, no ấm và con chỉ phụng phịu mỗi khi Ba mẹ tắt ti vi trong giờ ăn, không để con dán mắt vào màn hình chiếu Clip quảng cáo, hay phim dành cho thiếu nhi, nhan nhản trên truyền hình cáp...

Tháng 2/1979: Ba gần 10 tuổi và cũng Tiểu học (ngày đó gọi là Cấp I) như con bây giờ. Hồi ấy, ông nội của con mới phục viên sau hơn 10 năm chiến đấu trong binh chủng tên lửa của Quân đội nhân dân Việt Nam (1965-1978) và cũng theo chân những đoàn quân tiến vào giải phóng Sài Gòn, tháng 4-1975.

Ký ức của Ba về ông nội là chiếc ba lô to đùng đằng sau lưng, trên đó có 1 chiếc khung xe đạp (sau này được lắp thành chiếc xe đạp để ông đi khắp nơi "buôn" chè, củ ấu... nuôi ba và cô Hương, cô Yến học xong Đại học), 1 con búp bê biết nhắm và mở mắt, 1 chiếc ca bằng đuya ra (còn gọi là hăng gô) của lính Mỹ (sau đó và bây giờ, bà Nội của con vẫn dùng để múc nước ở cái bể nước mưa xinh xinh ngay dưới hàng cau trước cửa nhà ở quê)...

Thế nhưng, ký ức mãi không thể quên trong tâm trí của Ba là buổi sáng 18/2/1979 (1 ngày sau khi Trung Quốc cho quân bất ngờ tấn công các tỉnh biên giới phía Bắc), ông Thành, ông Hòa và các ông ở gần nhà, cùng đi bộ đội đánh Mỹ, cùng phục viên, vẫn cùng tụ tập đến nhà mình uống nước trà mỗi tối, đến thì thầm nói chuyện với ông Nội.

Câu chuyện của những cựu binh đó là gì, đến khi lớn rồi ba mới hiểu: Các ông nói với nhau tin Trung Quốc tấn công Việt Nam và cùng nhắc nhau chuẩn bị quân tư trang, chuẩn bị lên đường nếu có Tổng động viên.

Ba vẫn nhớ: Buổi trưa ngày hôm đó, ông Nội hì hục chuẩn bị quần áo, tư trang gọn vào chiếc ba lô bộ đội và gọi bà Nội bế cô Yến cùng Ba và cô Hương cũng mới 5 tuổi ra và dặn dò công việc ở nhà. Lúc ấy, trí óc non nớt của Ba mới cảm nhận: Giặc là gì? Là kẻ đã kéo người thân của Ba ra khỏi ngôi nhà và làm xáo trộn cuộc sống gia đình yên ấm...

Tháng 2 và 3 năm 1979, rút cục ông Nội cũng chỉ lên Huyện đội tập trung, huấn luyện sau thời gian ngắn và vẫn ở lại cùng gia đình. Mỗi tuần, chỉ phải trực tự vệ cùng cơ quan.

Tuy nhiên, cuộc sống thời chiến thì không chỉ đơn giản trong việc mỗi tuần, ông phải ở cơ quan 2 đêm, thi thoảng lại về nhà muộn, mệt nhoài vì đào hầm hào, huấn luyện... mà cuộc sống thời chiến còn tác động trực tiếp đến Ba và gia đình bé nhỏ của nhà mình.

Hồi ấy và sau này này nữa, Ba say mê đọc những cuốn truyện tranh kể về chiến công của những anh bộ đội - dân quân - du kích chiến đấu với giặc Trung Quốc ở nơi biên giới, những thủ đoạn thâm độc của những kẻ đội mũ vải, đeo "tiết đỏ" và mặc áo 4 túi chỉ muốn chiếm đất của Tổ quốc mình..

Hồi ấy, Ba cùng các bạn trong lớp cũng phải cùng các anh chị, thầy cô trong trường cấp 1 đào giao thông hào ngay trong sân trường (Bây giờ, đoạn giao thông hào ấy đã bị lấp.

Nhưng có dịp, Ba đưa con về quê mình, trèo lên núi Voi gần nhà bà Nội, con vẫn thấy những đoạn giao thông hào bị cỏ che kín mà Ba và các anh chị, thầy cô đã đào thời đó).

Hồi ấy, mọi nhà đề phải đào hầm, nhà Nội mình cũng đắp 1 chiếc hầm kèo ngay giếng nước. Lúc mới đào xong, Ba và cô Hương - cô Yến cứ rúc rích chui ra, chui vào chơi trốn tìm.

Cạnh nhà mình, có nhà bà Dung, kinh tế khá giả nên đào hầm ngầm: Vách trát xi măng, nắp làm bằng bê tông, bậc lên xuống cũng xây gạch, thế nhưng cứ sau mỗi trận mưa, nước lại tràn vào... lưng hầm và rắn rết, ễnh ương - chão chàng bơi lằng nhoằng, đẻ trứng đầy trong đó...

Cứ như vậy đó, Ba lớn lên với những câu chuyện kể ở trường, những trang truyện tranh đọc "ké" ngoài hiệu sách phố huyện, những câu chuyện - lời bàn tán của ông Nội, cùng những người bạn bên bàn nước vàng ệch màu đèn dầu và cả những tiếng nói bập bõm, ngang ngang giọng người nước ngoài nói tiếng Việt Nam chìm trong tiếng sôi xè xè, phát ra từ chiếc đài chạy pin bé tí mà ông vặn nhỏ hết cỡ, ghé tai vào nghe để biết "tình hình chiến sự"...

Tất cả đã dần hình thành trong tâm tưởng Ba về một nỗi ám ảnh, nguy hiểm và đe dọa thường trực được gọi là Trung Quốc.

Tháng 3/2011: Con tròn 10 tuổi và học lớp 5.

Buổi sáng Ba ra xe đón lên Nội Bài, bay vào Nha Trang để ra công tác Quần đảo Trường Sa, con đứng ngoài đầu ngõ vẫy tay: "Ba về sớm và mua quà cho con nhé!" và lại tất tưởi ngồi sau xe để mẹ chở đến trường, cùng líu lo hát "Em vui vào trường Thành Công B, lấp lánh ban mai chim ca. Em vui vào trường Thành Công B, lá biếc hoa thơm ngọt ngào. Em luôn được thầy cô yêu thương với trái tim của mẹ hiền. Lấp lánh cho con bay cao, giữa trời xanh chim tung cánh bay..." với má đỏ môi hồng cùng lớp.

Con có biết, những ngày sau đó, Ba đã cùng hơn 100 người con đất Việt, kề vai nhau trên con tàu HQ 996 của Vùng 4, Hải quân đè sóng biển Đông, xuất phát từ quân cảng Cam Ranh, Khánh Hòa ra với dải đất Trường Sa thân thương đang ưỡn lưng bảo vệ vòng cung hình chữ S

Nửa tháng ra với bộ đội, ở với bộ đội, hóa thân thành bộ đội, cảm nhận - chia sẻ cùng bộ đội và vui - buồn - căm hờn cùng bộ đội, Ba càng thêm yêu Tổ quốc của mình và đau cùng Tổ quốc của mình.

Buổi trưa trước khi làm lễ tưởng niệm cho gần 100 cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam đã hy sinh vì lưỡi lê, báng súng, dao găm và đạn AK bắn gần, pháo hạm của lính Trung Quốc khi làm nhiệm vụ giữ đảo trên vùng biển Cô Lin - Gạc Ma xanh ngăn ngắt, lặng lẽ sóng, Ba đã bật khóc ngay trên mũi tàu HQ996.

Khóc thật sự và nước mắt thật sự uất ức, chảy tràn trên má, làm ướt mềm quai mũ cứng gắn quân hiệu sao vàng con ạ!.

Con có biết không? Những người lính đang nằm dưới biển sâu kia còn rất trẻ. Ba đã vào phòng Truyền thống của Vùng 4 Hải Quân và nhìn lại gương mặt những người đã ngã xuống qua những tấm ảnh hiếm hoi.

Họ trẻ trung và trong sáng như thể còn ở tuổi học sinh Trung học. Ngay cả những người thuyền trưởng chỉ huy mới mang hàm cấp úy cũng còn trẻ trung, điệu đàng (nhưng đã quyết chiến dùng mọi hỏa lực sẵn có trên những chiếc tàu chỉ có chở đất, đá, bê tông ra xây đảo để bắn trả mãnh liệt vào tàu xâm lược và cho tàu phóng thẳng lên bãi cạn, để đánh dấu chủ quyền)...

Vậy mà họ đã nằm xuống vĩnh viễn dưới lòng biển.

Họ nằm xuống trong khi ngăn chặn lính Trung Quốc đổ bộ lên chiếm đảo với trang bị đến tận răng.

Họ nằm xuống bởi họ là lính Công binh Hải quân chỉ có quần đùi, mũ mềm và... tay không ra xây dựng đảo.

Họ nằm xuống bởi họ được "lệnh" từ 1 nơi bí ẩn, nghiêm mật giữa đô thị đầy ánh sáng và no đủ: "Chỉ được ngăn chặn bằng biện pháp mềm dẻo, không được kháng cự, đánh trả"...

Dĩ nhiên, da thịt của họ chẳng phải là sắt thép, để chịu đựng những nhát đâm điên cuồng bằng dao găm, lưỡi lê.

Gân cốt họ cũng chẳng phải titan để chống lại đạn nhọn của đám lính Trung Quốc điên cuồng xiết cò súng AK để sẵn ở nấc bắn liên thanh...

Họ lần lượt nằm xuống, cùng nhau nằm xuống, như vẫn cùng nhau chia ngọt sẻ bùi trong những tháng ngày quân ngũ ít ỏi. Không nằm xuống sao được khi phải căng mắt nhìn lũ ăn cướp thản nhiên, thoải mái giết đồng đội mình và chính bản thân mình?..
Tháng 3/2011 ở Trường Sa, sau khi đã làm lễ truy điệu những cán bộ - chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam đang nằm dưới vùng biển Gạc Ma - Cô Lin, Ba và những đồng đội của Ba đã tràn ra hết mũi tàu, 2 bên boong tàu lặng nhìn xuống biển xanh nhớ thương những người con đất Mẹ và không ai bảo ai, tất cả đều quay mặt nhìn về tòa nhà cao vài tầng sừng sững của lính Trung Quốc chiếm đóng trên đảo chìm đã chiếm của ta.

Lúc ấy, ánh mắt của ai cũng rất lạ, từ Trung tướng Trưởng đoàn công tác cho đến cô Hạ sĩ đoàn văn công Quân khu 4. Ai cũng ráo hoảnh, chong mắt nhìn tàu địch - công sự của địch chứ không rưng rưng nước mắt, khi những bó hương dành cho liệt sĩ cháy bùng lên, cuộn khói bay vòng tròn như những dấu hỏi...

Tháng 3/1988: Lúc ấy Ba đã học lớp 11. Cái buổi chiều đông ngày hôm ấy, Ba cùng ông Nội đã sững sờ khi nghe cô phát thanh viên Đài Tiếng nói Việt Nam đọc chậm danh sách những cán bộ - chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam hy sinh và mất tích trong khi bảo vệ chủ quyền Tổ quốc tại vùng biển Cô Lin - Gạc Ma. Không thể diễn tả cảm xúc lúc ấy, chỉ biết rằng, đến bây giờ hình như vẫn còn nguyên trong Ba: Uất ức - bức bối như thể có tảng đá đang đè trên ngực (Cảm giác này càng nhân lên gấp bội và thành ám ảnh khi Ba ra với Trường Sa).

Ngay sáng ngày hôm sau, cái lớp 11B3 của Ba ngày ấy đã không thể học được và hết thảy, những thằng con trai trong lớp, đã làm đơn tình nguyện đi bộ đội, cùng con trai các lớp khác kéo đến đứng đen đặc, câm lặng trước phòng thầy Hiệu phó cũng đang đỏ hoe mắt, vì có con trai đang đóng quân trên quần đảo Trường Sa.

Con có biết không? Ở gần nhà bà Nội mình có 1 dãy núi, gọi là núi Xuân Sơn, cạnh núi có 1 đoàn 679 của Quân chủng Hải quân đóng và trong dãy núi đó có rất nhiều hầm để bộ đội chứa tên lửa đất đối hải. Thi thoảng, những chiếc xe hàng vài chục bánh lại phun khói chở những ống tên lửa khổng lồ đi đâu đó. Hồi ấy, Ba và các bạn rất muốn vào bộ đội tên lửa Hải quân để điều khiển những quả tên lửa bắn nát tàu Trung Quốc...
Ngày 17/2/2012 này: Tròn 33 năm, ngày Trung Quốc xúa quân bất ngờ tấn công dọc tuyến biên giới nước ta; gần tròn 24 năm Trung Quốc cho quân đánh chiếm một số đảo chìm, bãi cạn của Tổ quốc ta trên quần đảo Trường Sa.
Ngày Tình yêu 14/2. Ba không đưa con đi mua quà tặng cho mẹ Hằng mà ngồi từ trưa đến tối để đọc những dòng của các ông - các bác cựu binh viết về sự kiện tháng 2/1979 và tháng 3/1988.

Đọc xong để viết những dòng này cho con và mẹ Hằng cùng những bạn bè của Ba đang ấm cúng bên vợ - người yêu - người tình bên nến hồng, rượu vang.

Viết để nhớ một thời bao người đã đổ máu, góp xương cho mỗi tấc đất biên cương nơi xa hút.

Sau này, con có đi Lạng Sơn thăm động Tam Thanh, thắp hương bùi ngùi trước nàng Tô Thị; lên Trùng Khánh - Cao Bằng ăn hạt dẻ, ngắm thác Bản Giốc; ngược Hà Giang tắm nước nóng Thanh Thủy; lên Lào Cai đắm mình trong se lạnh Sa Pa; trèo núi đá đến Lai Châu tắm thuốc người Dao, ngắm ruộng bậc thang, xem hoa Ban đầu xuân; ra Trường Sa câu cá chuồn đêm trăng...

Con hãy nhẹ chân và nhớ vào các Nghĩa trang Liệt sĩ nằm câm lặng dọc ven đường quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ thắp hương cho các ông, các bác, các chú đã nằm xuống trong những năm tháng chống giặc xâm lược Trung Quốc, trên những vùng đất yên thương của TỔ QUỐC chúng mình, con gái yêu nhé!..
---------------------------------------
* Bài này mình viết từ năm 2008 và đã đăng trên Blog cá nhân, cũng "bị" một số tờ báo đăng lại (cũng bị họ tự sửa chữa). Nay tự đăng lại, để nhắc con gái yêu nhớ sự kiện 17/2/1979.

NGƯỜI LÍNH ĐẦU TIÊN NGÃ XUỐNG, TRƯỚC CUỘC TẤN CÔNG CỦA TRUNG QUỐC TRÊN BIÊN GIỚI PHÍA BẮC, THÁNG 2/1979

Mai Thanh Hải - Cái tên Lê Đình Chinh quen thuộc với mình, từ cách đây hơn 30 năm.

Hồi ấy, tuy còn bé tý nhưng vẫn nhớ Đài Tiếng nói Việt Nam, suốt ngày ra rả hát bài "Chúng tôi là đồng đội Lê Đình Chinh" và đọc vô vàn những bài xã luận, phản ánh... kể chuyện, phát động, nêu gương Anh hùng Lê Đình Chinh.

Thậm chí hồi ấy, mình nhớ còn có khá nhiều sách truyện viết về anh, kể cả truyện tranh, vẽ hình to tướng...

Tất cả để thấm vào đầu mình: Anh Lê Đình Chinh là tấm gương yêu nước của cả 1 thế hệ thanh niên yêu nước Bảo vệ Tổ quốc, trước bọn bành trướng bá quyền Trung Quốc tàn ác, thâm độc và tham lam.

Hơn 30 năm đã qua đi, lịch sử nước ta hình như có nhiều chương bị che phủ, nên rất nhiều người không biết đến cuộc Chiến tranh Vệ quốc 1979-1989 với bao địa danh thấm đẫm máu bộ đội - nhân dân, bao nhiêu tên người làm thành ý chí quật cường nước Việt giữ đất biên cương ... Sự quên lãng ấy, nguy hiểm lắm.

Sự nguy hiểm này còn đồng nghĩa với có tội, với bao người đã ngã xuống, hiến dâng tuổi xuân  trong trắng cho sự toàn vẹn lãnh thổ, cương vực bờ cõi cha ông.
Thi thể Thượng sĩ Lê Đình Chinh

Một trong những người như vậy là Liệt sĩ Lê Đình Chinh, anh ngã xuống khi tròn 18 tuổi và anh là "Người chiến sĩ đầu tiên của các Lực lượng Vũ trang chúng ta hy sinh ở tuyến Biên giới phía Bắc, kể từ khi nhà cầm quyền Trung Quốc gây ra các cuộc xung đột, tranh chấp biên giới từ năm 1974".
------------------------------------------------------
Cuốn "Các Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân", do Nhà Xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản, ghi rõ:
Lê Đình Chinh sinh năm 1960, quê ở xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Trú quán tại Nông trường Sông Âm (huyện Ngọc Lạc, tỉnh Thanh Hóa).

Khi hy sinh, đồng chí là Thượng sĩ, Tiểu đội trưởng, Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 12, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng), Đoàn viên Đoàn TNCSHCM).

Ở gia đình Lê Đình Chinh là người con ngoan, ở Trường Phổ thông Lê Đình Chinh là học sinh giỏi toàn diện, là đội viên tốt. Lê Đình Chinh luôn luôn gương mẫu, hăng hái phấn đấu, rèn luyện tốt, được mọi người rất quý mến. Được vào Lực lượng Công an nhân dân vũ trang, Lê Đình Chinh học tập, rèn luyện hăng say, luôn luôn nêu cao ý thức tổ chức kỷ luật, trưởng thành nhanh chóng và vững chắc.
Lính TQ (mũ vải) khiêu khích Bộ đội ta tại khu vực biên giới
Lê Đình Chinh đã tham gia chiến đấu nhiều trận chống quân Pôn Pốt-Iêng-xa-ri gây chiến tranh Biên giới Tây Nam. Đồng chí đã diệt và làm bị thương nhiều tên địch, góp phần tích cực bảo vệ vũng chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh Biên giới của Tổ quốc.

Ngày 25/8/1978, hàng chục tên côn đồ đã vượt biên giới sang đất ta hành hung cán bộ, phụ nữ và nhân dân địa phương. Lê Đình Chinh đã mưu trí tấn công địch, bằng tay không đánh gục hàng chục tên côn đồ góp phần tích cực cùng đơn vị và nhân dân biên giới giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực Biên phòng ải Bắc.

Lê Đình Chinh đã anh dũng hy sinh, nêu gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã kịp thời tuyên dương công trạng và truy tặng đồng chí Huy hiệu "Vì thế hệ trẻ"; phát động trong thế hệ trẻ Việt Nam phong trào "Sống, chiến đấu rực lửa Anh hùng như Lê Đình Chinh".
Lính TQ đe dọa phóng viên ghi hình hành động khiêu khích

Ngày 31/10/1978, Liệt sĩ Lê Đình Chinh được Chủ tịch nước CHXHCNVN truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân".

Cụ thể hơn về trường hợp hy sinh của Thượng sĩ Lê Đình Chinh, tài liệu từ BĐBP cho biết:

Ngày 12/7/1978, phía Trung Quốc đột ngột ra lệnh đóng Cửa khẩu. Từ đó, số người Hoa bị chặn lại ứ nghẽn ở các Cửa khẩu ngày càng đông (Bắc Luân hơn 1.000 người; Hữu Nghị hơn 4.000 người; Lào Cai 500 người). Họ sống trong cảnh "màn trời, chiếu đất" gây nhiều khó khăn cho ta trong việc giữ gìn an ninh trật tự xã hội. Vì vậy, vấn đề giải tỏa người Hoa ở các Cửa khẩu trở thành nhiệm vụ cấp bách.

Ngày 8/8/1978, ta thực hiện kế hoạch giải tỏa người Hoa ở Cửa khẩu Bắc Luân (Quảng Ninh).

Đúng 9 giờ 25 phút, Đội Công tác (gồm 25 chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang, 13 đồng chí Cảnh sát nhân dân, 6 cán bộ Y tế và các Phóng viên báo chí quay phim, nhiếp ảnh) lên cầu giải thích, vận động người Hoa quay trở lại sinh sống ở Việt Nam.
Biên phòng VN (phải) và Biên phòng TQ (trái) trong 1 buổi trao đổi
Khi đoàn công tác vừa bước chân lên tới đầu cầu, thì bị bọn côn đồ ném gạch đá tới tấp vào đoàn ta, làm cho một số đồng chí bị thương. Do có kế hoạch trước nên khi xảy ra xung đột, các lực lượng ta liền tập trung tấn công trấn áp những tên côn đồ đầu sỏ, đuổi chúng chạy dạt về bên kia biên giới.

Đến 10 giờ 10 phút, cả 700 người Hoa ùn tắc tại Cửa khẩu kéo nhau chạy về bên kia cầu. Tình hình khu vực cửa khẩu Bắc Luân được kiểm soát.

Tại khu vực Cửa khẩu Hữu Nghị, đến đầu tháng 8/1978, số người Hoa ùn lại đã lên tới trên 4.000 người. Họ dựng lán bừa bãi ở khu vực cấm, ăn ở rất mất vệ sinh. Bọn phản động trong số người Hoa chuẩn bị gây rối trật tự trị an ở khu vực cửa khẩu.

Kiên quyết không để tình trạng này kéo dài, dưới sự chỉ đạo của Trung ương, tỉnh Cao Lạng quyết tâm giải toả toàn bộ số người Hoa đang ùn lại Cửa khẩu.
Gián điệp TQ bị bắt giữ, 1978-1979

Ban "Giải toả người Hoa" được thành lập. Tỉnh ủy Cao Lạng huy động lực lượng Công an nhân dân vũ trang cùng các lực lượng khác ở địa phương phối hợp tham gia kế hoạch giải toả, lấy lực lượng Đồn Biên phòng Hữu Nghị và Trung đoàn 12 (Đoàn Thanh Xuyên) làm nòng cốt.

Thực hiện chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Đảng đoàn Bộ Nội vụ, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang cử đồng chí Đại tá Trịnh Trân, Tham mưu trưởng lên Lạng Sơn trực tiếp chỉ đạo giải tỏa ở khu vực Cửa khẩu Hữu Nghị.

Rút kinh nghiệm từ việc đấu tranh giải toả người Hoa ở Bắc Luân, ngày 25/8/1978, ta thực hiện kế hoạch giải toả Cửa khẩu Hữu Nghị (Lạng Sơn).
Thám báo TQ đột nhập qua biên giới, bị BĐBP bắt giữ
Đúng 8 giờ 30 phút sáng, đoàn cán bộ Mặt trận Tổ quốc tỉnh Cao Lạng, Quảng Ninh, TP. Hà Nội và Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Cao Lạng, các Y bác sĩ với sự bảo vệ của 25 cán bộ, chiến sĩ Đồn Hữu Nghị và 20 đồng chí của Đại đội 6, Trung đoàn 12 (được tăng cường bảo vệ tại kilômét số 0) đến thăm hỏi, động viên bà con người Hoa trở về nơi ở cũ làm ăn sinh sống bình thường. Thì bọn côn đồ lăm lăm gậy gộc, dao quắm, gạch đá trong tay và được sự chi viện của 500 Công an từ bên kia biên giới tràn sang kilômét số 0, chiếm lĩnh đồi Pò Cốc Phung, xông vào hành hung đoàn Cán bộ ta.

Lực lượng bảo vệ của ta do đồng chí Hứa Viết Pháy chỉ huy đã dũng cảm bảo vệ đoàn Cán bộ, quật ngã hàng chục tên côn đồ, chặn đường tiến công của chúng, tạo điều kiện cho các đồng chí của mình đưa đoàn Cán bộ Dân vận xuống chân đồi.

Từ bên kia biên giới, bọn côn đồ lại ùn ùn kéo sang. Trên đỉnh đồi, hàng trăm tên côn đồ và Công an H1 (?) vẫn đứng đông đặc.

Tình hình ngày càng trở nên căng thẳng, Ban Chỉ đạo "Giải toả người Hoa" quyết định điều thêm lực lượng của Đồn Hữu Nghị và Đại đội 6 Trung đoàn 12 lên chi viện.

Cuộc chiến đấu không cân sức diễn ra rất các liệt trên sườn đồi Pò Tèo Hào ở sát Cửa khẩu Hữu Nghị.

Một Tiểu đội thuộc Đại đội 6 Trung đoàn 12 do Tiểu đội trưởng Lê Đình Chinh chỉ huy, cùng các chiến sĩ lao thẳng lên đồi Pò Cốc Phung, bằng gậy gộc, gạch đá lấy được của địch, các chiến sĩ ta đánh gục hàng chục tên côn đồ hung hãn.

Đại đội trưởng Nguyên dẫn đầu một tổ, đánh dạt bọn côn đồ lên trận đỉnh đồi, đánh gục tên cầm loa làm cho hắn ngã lăn xuống tận sườn đồi bên kia.

Tiểu đội trưởng Lê Đình Chinh vượt qua trận mưa gạch đá, xông vào đánh gục 4 tên côn đồ, cứu được bà Thuận đang nằm ngất xỉu sau một tấm sạp.

Giữa vòng vây của đối phương, Lê Đình Chinh nghe tiếng kêu cứu của đồng đội Lê Xuân Tước, anh quay ngoắt lại, xông vào đánh gục 5 tên côn đồ đang vây chặt lấy Tước, cứu Tước thoát nạn.

Đang xông lên truy kích địch, Lê Đình Chinh bị một tên địch ném đá vào gáy, máu chảy đầm đìa nhưng Chinh vẫn xông lên tấn công bọn côn đồ. Bất ngờ, bọn côn đồ nấp sau một chiếc lán dùng gậy vụt ngang ống chân Lê Đình Chinh. Anh mất đà ngã sấp xuống.
Trao tặng chân dung và tiền úng hộ cho mẹ LS Lê Đình Chinh
 4 tên côn đồ lao tới dùng dao quắm chém tới tấp vào đầu, vào cổ anh. Lê Đình Chinh anh dũng hy sinh lúc 10 giờ 30 phút trên đồi Pò Cốc Phung.

Giữa trưa, Ban Chỉ đạo gồm các đồng chí: Trường Minh (Bí thư Tỉnh ủy Cao Lạng), Trung tướng Đàm Quang Trung (Tư lệnh Quân khu 1), Đại tá Trịnh Trân (Tham mưu trưởng Công an nhân dân vũ trang) đang họp thì nghe tin xảy ra xung đột lớn ở khu vực Cửa khẩu Hữu Nghị.

Đồng chí Trịnh Trân lập tức lên trực tiếp chỉ đạo đấu tranh và quyết định điều gấp Trung đoàn 12 lên chi viện, quyết chiếm lại điểm cao Pò Cốc Phung. Đúng 15 giờ, lực lượng chi viện của ta nhất loạt xông lên.

Tiếng hô "xung phong" vang dậy núi rừng biên cương. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1 dũng mãnh xông lên, đánh thẳng vào các điểm chốt đối phương, chiếm giữ trái phép trên các ngọn đồi.
Anh hùng - Liệt sĩ Lê Đình Chinh

Trước khí thế áp đảo của các chiến sĩ ta, bọn côn đồ kinh hồn bạt vía, chúng xô đẩy nhau, đạp lên nhau tháo chạy, trên 4.000 người Hoa bị ứ nghẽn tại đây cũng ùn ùn kéo nhau chạy theo về bên kia biên giới.

Ngay lập tức, cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang dàn thành một hàng ngang, dùng những vật liệu đã chuẩn bị sẵn như dây thép gai, gạch đá, chông, mìn rào chặt biên giới.

Lúc 17 giờ 25 phút, lá cờ đỏ sao vàng của Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 12 được kéo lên đỉnh đồi Pò Cốc Phung - nơi Lê Đình Chinh vừa mới hy sinh.
-----------------------------------------------------
* Đầu năm 2011, Báo Thanh niên đã có bài viết về Anh hùng Lê Đình Chinh, sau đó có trao cho mẹ anh Chinh (cụ Khương Thị Chu) bức ảnh của anh cùng số tiền 15 triệu đồng do bạn đọc quyên góp, gửi tặng. Khi đó, mẹ Chu mong các ngành, đặc biệt là Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng và tỉnh Lạng Sơn cho phép gia đình được đưa hài cốt của anh Chinh về an táng tại quê nhà. “Trong trường hợp, nơi chôn cất Chinh trước đây đạn, pháo cày xới nhiều lần, thân xác không còn, gia đình cũng yên lòng mang nắm đất nơi Chinh nằm xuống về chôn cất” - Mẹ Chu nói.

(Còn tiếp)