13 tháng 3, 2012

"ĐÀNH CHỈ ĐƯỢC CHẾT VÌ ĐẢO. ĐÀNH CHO LÃNG QUÊN MẤY MƯƠI NĂM..."

Mai Thanh Hải -  "... Anh yêu biển mà đứng trên bờ/ Anh yêu nước mà không biết bơi/ Làm sao anh hiểu?/ Có những người lính đảo/ Trần lưng trước mưa đạn quân thù/ “Chỉ được xáp lá cà bằng lê”/ Nhưng với khoảng cách này là không thể/ Đành chỉ được chết vì đảo/ Đành cho lãng quên vùi mấy mươi năm..." - Những câu thơ thật đến tận cùng trần trụi và đau đến tột cùng tuyệt vòng, viết về những người lính Trường Sa, ngã xuống trong ngày 14/3/1988, trong khi giữ đảo, của Nhà thơ Thanh Thảo.

Mình đọc xong, cứ rưng rưng: 24 năm đã trôi qua. Ngày mai, 64 bát hương trong 64 gia đình lại cháy đỏ ngày giỗ các anh. Liệu dưới đường ồn ào xe cộ, tấp nập người đi kia, có bao người biết đến vùng biển ấy, ngày tháng ấy, sự kiện ấy và nhớ đến 64 người chết trẻ, linh thiêng, hầu hết vẫn đang vùi xác trong lòng biển Gạc Ma - Cô Lin, ngoài vùng biển Trường Sa?..
                       
Trân trọng giới thiệu trích đoạn "Chân sóng", trong "Trường ca Chân đất" của Nhà thơ Thanh Thảo, vừa gửi từ Quảng Ngãi cho MTH. Xin cảm ơn Nhà thơ Thanh Thảo đã lưu lại sự kiện, con người Hoàng Sa - Trường Sa và nỗi niềm về ngày này, trong những vần thơ dành cho hậu thế.
-------------------------------------------------
CHÂN SÓNG
(trích "Trường ca chân đất")
…..
                                        
Con nào biết mẹ bạc đầu vì biển
mỗi làn sóng như một dải khăn tang
con nào biết mẹ đau vì biển
đau vì thiếu biển
đau vì thừa biển
đau vì biển thiếu con mình
đau vì biển thừa hy sinh.
Những mộ gió những hình nhân phơ phất
những hải trình dài suốt mấy trăm năm
những Bãi Cát Vàng san hô mê hoặc
những phận người bó chiếu giữa mông mênh.

Chỉ thế thôi nhưng mẹ ơi còn biển
là còn những chuyến đi không hẹn ngày về
nhưng mẹ ơi còn con trai trong bụng
là mẹ đẻ hết ra cho chúng giong khơi.

Người quê tôi không quen lời bay bướm
giọng nói nặng dây buồm
con trai biết bơi từ trong bụng mẹ
biết lắc thúng từ khi chưa biết chu vi hình tròn
biết tính cá bằng khoang
ăn sóng và nói gió
lặn sâu mấy chục sải
ngậm vật vờ ống thở
bơi bên cạnh hải sâm
như một chiếc tàu ngầm
tỉ tê cùng đáy biển
như một người bạn thân.

Lặn biển Hoàng Sa liệt nửa người
giờ ngồi xe chó kéo
người bé trên đảo Bé
mỗi khi nhìn thấy biển mắt rực cháy
“biển ơi biển ơi biển ơi”
thế thôi

Lặng im như đá mồ côi
họ dạy anh tình yêu
không lời
anh yêu biển mà đứng trên bờ
anh yêu nước mà không biết bơi

Mai Phụng Lưu
mỗi bận xuống thuyền lại trực chỉ Hoàng Sa
như có ai dẫn
nỗi nhớ là hải bàn
mãi quay về một hướng
mỗi lần bị bắt mỗi lần bị đánh
lại tay trắng trở về dành dụm ra khơi
không thể sống thiếu Hoàng Sa
không thể sống thiếu biển

Anh yêu biển mà đứng trên bờ
anh yêu nước mà không biết bơi
làm sao anh hiểu?..
có những người lính đảo
trần lưng trước mưa đạn quân thù
“chỉ được xáp lá cà bằng lê”
nhưng với khoảng cách này là không thể
đành chỉ được chết vì đảo
đành cho lãng quên vùi mấy mươi năm.

Gạc Ma!. Gạc Ma!..
hãy kể cho con cháu anh điều này:

Có những người lính đảo
đã chết theo vòng tròn
tay họ giăng ra và siết chặt tay nhau
như một tràng hoa biển.

Không quỉ ma nào xé nổi
tràng hoa biển ấy.

Hãy kể cho con cháu anh
rằng từ Hoàng Sa từ Gạc Ma
những tràng hoa biển ấy
dạt trôi
về ôm chặt Mẹ.

Chân sóng
bắt đầu từ đó...

2011




TẦM NHÌN GIÁP VĂN CƯƠNG TRONG CHIẾN DỊCH CQ-88

Mai Thanh Hải - Giáp Văn Cương sinh ngày 13/9/1921 tại xã Bảo Đài (huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang), mất ngày 23/3/1990 tại Hà Nội.

Tham gia cách mạng chống Pháp, Nhật từ trước năm 1945 và trưởng thành từ Lục quân, tuy nhiên bây giờ khi nhắc đến ông, người ta chỉ biết đến vai trò Đô đốc Hải quân - Tư lệnh của Quần đảo Trường Sa, đặc biệt là trong Chiến dịch CQ-88 (Bảo vệ Chủ quyền năm 1988).

Trong kháng chiến chống Pháp, ông đã từng giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 19 (Trung đoàn 96, Liên khu V) và tham gia trận ĐăkPơ (tháng 6 năm 1954).

Năm 1965, ông được cử làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3 Quân khu V. Thời gian tiếp theo, ông tham gia Thường vụ Đặc khu uỷ, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng mặt trận 44.

Năm 1974, ông được phong hàm Thiếu tướng, chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Năm 1977, được phong làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân và giữ chức vụ này đến năm 1980.

Năm 1984, ông một lần nữa lại được giao nhiệm vụ làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân.

Năm 1988, ông được phong làm Đô đốc đầu tiên và cũng là duy nhất của Hải quân Việt Nam cho đến năm 2011 (người thứ hai nhận vinh dự này sau ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Văn Hiến). Theo Luật Sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam (1999) thì Phó Đô đốc là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân, giữ chức vụ Tư lệnh Quân chủng Hải quân.

Ngày 07/05/2010, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Trong cuốn "Đảo Chìm" của Nhà thơ Trần Đăng Khoa - người lính đã nhiều năm đóng quân ở Trường Sa, hình ảnh Tư lệnh Giáp Văn Cương được khắc họa rất chân thực, không một chút hư cấu bịa đặt:
Tướng GVC thăm bộ đội nhà giàn DK1, vài tháng sau ông mất

“... Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương đã đến đây, đã ngủ một đêm trên hòn đảo này trong một chuyến đi tuần biển.


- Vất vả không, các cậu?.


Tư lệnh hỏi một cậu lính trẻ, tóc đỏ quạch như tôm luộc, da đen cháy, người chắc nịch như một thỏi sắt đã tôi qua lửa. Cậu lính trẻ cười khì khì:


- Báo cáo bố, cũng tàm tạm thôi ạ!.


- Ở đây thì mọi thứ đều thiếu thốn rồi - giọng Tư lệnh bùi ngùi: Nhưng cái gì cần nhất cấp thiết nhất các cậu cứ nói thẳng với mình. Bộ Tư lệnh sẽ tạo mọi điều kiện giúp đỡ các cậu!...


Ngồi bên Tư lệnh trên mặt cát nóng bỏng như rang, mặc dù mặt trời đã lặn xuống biển lâu rồi, anh lính trẻ quê xứ Nghệ thật sự coi ông như một đồng đội thân thiết. Anh lắc lắc đầu gối tư lệnh:
Tướng GVC thăm bộ đội Công binh Hải quân đang xây dựng đảo

- Bố thấy vương quốc của chúng con thế nào?.


Tư lệnh đưa mắt nhìn suốt rẻo cát trống trơn, rồi lại nhìn cái lều bạt dã chiến cứ hộc lên trong gió tựa hồ một con ngựa bất kham, đang lồng lộn như muốn rứt tung mấy sợi xích sắt căng ghì xuống đảo mà phóng đi cùng bầy gió hoang dã.


- Đẹp, nền nếp. Đúng quân phong quân kỷ. Ở đây mà giữ được như thế này là tốt lắm rồi - Giọng Tư lệnh bỗng bùi ngùi - Tất nhiên là vất vả! Chúng mày rất vất vả! Tao biết! Nhưng khổ nỗi đây lại là Tổ quốc, là đất đai hương hỏa của ông cha, dù chỉ có đá sỏi gió cát thế này ta cũng phải canh giữ, một tấc không đi, một li không rời, dẫu có phải đổi bằng xương máu...

- Vâng, con hiểu! Con hiểu, bố ạ!...”.
Kiểm tra từ hộp tiếp đạn

"Nếu không có tầm nhìn và sự quyết đoán trong hành động của đô đốc Giáp Văn Cương, Trường Sa có thể khó khăn hơn bây giờ, không toàn vẹn như vậy giờ" -Thiếu tướng Lê Kế Lâm (nguyên Tham mưu phó Tác chiến Quân chủng Hải quân) đã khẳng định như vậy.

Nếu như những người lính trẻ đóng quân ở Trường Sa và DK1 những năm cuối Thập kỷ 80 của Thế kỷ trước không thể quên hình ảnh vị Tướng già mặc quần đùi đu lên nhà giàn quá đơn sơ lúc ấy, để kiểm tra độ an toàn cho chiến sĩ, sẽ nhớ mãi vị Tư lệnh 68 tuổi chào cờ cùng anh em và xắn quần lặn lội để kiểm tra việc gia cố cho đảo chìm... thì những cán bộ cấp cao lại nhớ đến những quyết định táo bạo của Tướng Giáp Văn Cương và phong ông là “vị tướng của Trường Sa” hay “Tư lệnh Trường Sa 1988”.

Năm 1984, do tình hình biển Đông có nhiều “diễn biến lạ”, Tướng Giáp Văn Cương được Bộ Quốc phòng điều động về làm Tư lệnh Hải quân lần thứ hai (lần đầu từ năm 1977-1980).
Trên cương vị mới, ông dự báo: “Trong tương lai gần, vùng biển khu vực Trường Sa không được bình yên và sẽ là chiến trường chính của Hải quân Việt Nam”.

Do vậy, trong 2 năm 1986-1987, một mặt ông yêu cầu bộ phận Tác chiến soạn thảo gấp kế hoạch và phương án phòng thủ Trường Sa, mặt khác ông chủ động và kiên trì đề xuất với Bộ Chính trị và Đảng ủy Quân sự Trung ương, chấp thuận kế hoạch bảo vệ chủ quyền Việt Nam ở Trường Sa và thềm lục địa phía Nam.

Kế hoạch đó được chấp thuận.

Ông ra lệnh: "Nhanh chóng dốc toàn lực, đặc biệt là Công binh, ra Trường Sa để tăng cường, củng cố tất cả đảo nổi đảo chìm mà quân dân Việt Nam đang đồn trú và sinh sống bao đời nay".
Tướng GVC dẫn đầu đoàn HQVN thăm HQ Liên Xô tại C.Ranh

Đối với những đảo chìm thuộc chủ quyền Việt Nam, nhưng chưa có quân đồn trú, ông yêu cầu “Kiên quyết đóng nhanh, đóng đồng thời tất cả các đảo, nếu cần có thể dùng mọi loại tàu để ủi bãi”.

Giải thích khái niệm "ủi bãi". Đại tá Hải quân Nguyễn Trương giải thích: “Là cho tàu mở hết tốc lực lao thẳng lên cạn ở điểm đảo đó để khẳng định chủ quyền và chờ quân ra tiếp viện. Đó là một quyết định táo bạo vì một con tàu vào những năm khó khăn ấy là một tài sản lớn. Để tàu chìm là bị kỷ luật nặng, nhưng ông dám làm vậy vì ông coi chủ quyền lớn hơn tất cả. Mọi sự chậm trễ là có tội với tổ tiên và con cháu sau này”.

Và chính từ mệnh lệnh này, sáng 14/3/1988, con tàu HQ-505 anh hùng đã lao nhanh giữa những làn đạn đại bác, ủi thẳng lên đảo Cô Lin, khẳng định chủ quyền Việt Nam, trước khi lính Trung Quốc đổ bộ chiếm đảo.

Box:

... "Cuối năm 1986, Quân chủng Hải quân cùng toàn quân xây dựng chính quy, từng bước hiện đại theo đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, thì tình hình Biển Đông, đặc biệt là khu vực quần đảo Trường Sa có nhiều diễn biến phức tạp do các hoạt động do thám, khiêu khích, quấy phá, chiếm đóng một số đảo thuộc quần đảo lãnh thổ của Việt Nam, của các thế lực thù địch.
 Nhận định, đánh giá tình hình đề xuất của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Hải quân đã được cấp trên chấp thuận.

Bộ Chính trị, Thường vụ Đảng ủy Quân sự T.Ư ra nghị quyết và Bộ trưởng Quốc phòng có chỉ thị, Đảng ủy Quân chủng lãnh đạo toàn Quân chủng kịp thời điều chỉnh tổ chức, cơ động triển khai lực lượng, nhanh chóng đóng giữ các đảo, các bãi đá ngầm.

Đề phòng xung đột quân sự nhỏ trên khu vực Trường Sa có thể bùng nổ thành một cuộc chiến tranh lớn trên biển, Tư lệnh Giáp Văn Cương ra lệnh: Hết sức bình tĩnh, kiềm chế, tự vệ là chính, không nổ súng trước, nhưng kiên quyết táo bạo, với phương châm "có người, có đảo; còn người, còn đảo".

Nhận được mệnh lệnh của Tư lệnh Giáp Văn Cương, cán bộ, chiến sĩ trên đảo mặc dù chỉ là những người lính công binh xây dựng, đã không sợ hy sinh, quyết chiến đẩy lùi các hành động xâm chiếm của các thế lực nước ngoài.
 
Kết quả trong 3 năm (1986 - 1989), Quân chủng Hải quân đã hoàn thành một khối lượng công việc bằng cả 10 năm trước cộng lại. Sức mạnh tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu của bộ đội trên quần đảo, DK1 đã nâng lên một bước.

Năm 1988, đồng chí Giáp Văn Cương được Nhà nước thăng cấp từ Phó Đô đốc lên Đô đốc Hải quân.

Ngày 5/7/1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra chỉ thị về việc xây dựng Cụm Kinh tế - khoa học - dịch vụ, tiếp tục khẳng định và công khai hóa chủ quyền của Việt Nam đối với khu vực thềm lục địa phía nam.

Tư lệnh Giáp Văn Cương đã lãnh đạo, chỉ huy các lực lượng hải quân vượt mọi khó khăn, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp toàn vẹn biển đảo, thềm lục địa của Tổ quốc, tổ chức lực lượng đóng quân tại các đảo, thực hiện sự có mặt của Việt Nam trên thềm lục địa 60.000 km2 thuộc chủ quyền tài phán của Việt Nam phù hợp Luật Biển quốc tế.
Kết quả này có ý nghĩa vô cùng to lớn, cả trước mắt và lâu dài, trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa và thềm lục địa phía nam của Tổ quốc.

Về chính trị, đã giữ được chủ quyền, kịp thời chặn đứng âm mưu, thủ đoạn thâm độc thôn tính Trường Sa và độc chiếm Biển Đông của nước ngoài; làm cho nhân dân trong nước hiểu rõ nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trên biên giới đất liền, vùng biển, hải đảo, thềm lục địa là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, không phải riêng của lực lượng vũ trang; tạo phong trào "Cả nước vì Trường Sa thân yêu".

Về quân sự, tạo thế phòng thủ bố trí chiến lược, ngăn chặn từ xa kẻ thù có ý định tiến công nước ta bằng đường biển và đường không; là đài quan sát phát hiện sớm âm mưu của địch trên khu vực Biển Đông, kịp thời ứng phó trước mọi tình huống.

Về kinh tế, nhờ bảo vệ được quần đảo Trường Sa và thềm lục địa phía nam, nước ta đã chủ động bảo vệ và khai thác tài nguyên biển, đặc biệt các mỏ dầu khí đem lại nguồn lợi to lớn cho Tổ quốc.

Về ngoại giao, khẳng định với thế giới lập trường, quan điểm trước sau như một: Quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa và thềm lục địa phía nam là chủ quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của Việt Nam; mọi hành động lấn chiếm của nước ngoài là trái phép, đều bị lên án; cuộc đấu tranh bảo vệ quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa và thềm lục địa phía nam là chính đáng và được nhân dân thế giới đồng tình ủng hộ.

Với thành tích đó, Quân chủng Hải quân đã được Kỳ họp thứ Ba, Quốc hội khóa VIII ghi nhận: "Nhiệt liệt biểu dương cán bộ, chiến sĩ đã gian khổ hy sinh anh dũng bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc". Và ngày 13-12-1989, Quân chủng Hải quân đã được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Thắng lợi trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa và thềm lục địa phía nam, trước hết, đó là kết quả lãnh đạo của Ban Chấp hành T.Ư Đảng, Bộ Chính trị, Đảng ủy Quân sự T.Ư và Bộ Quốc phòng, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân, của cán bộ, chiến sĩ toàn Quân chủng, sự động viên kịp thời của toàn dân, toàn quân "Tất cả vì Trường Sa thân yêu" cùng với sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới.
 
Trong thắng lợi đó, có phần đóng góp quan trọng của vị Tư lệnh Hải quân Đô đốc Giáp Văn Cương - Tấm gương Đô đốc Giáp Văn Cương đã nêu bật tinh thần mưu trí, táo bạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, quyết đánh và biết thắng cho toàn lực lượng Hải quân Việt Nam.

Ngày nay, tư tưởng ấy vẫn là phương châm chỉ đạo hành động cho toàn Quân chủng quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc"

(Nguồn: Báo Nhân dân)
---------------------------------------------------------------------------------------------
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ TƯỚNG GIÁP VĂN CƯƠNG
Tướng GVC kiểm tra sẵn sàng chiến đấu tại Trường Sa, tháng 5/1988
Kiểm tra vũ khí của Phân đội hỏa lực trên đảo chìm
Tham dự buổi chào cờ đầu tuần trên đảo, cùng bộ đội
Đọc quyết tâm thư, thề bảo vệ Trường Sa, ngày 7/5/1988 trên đảo Trường Sa Lớn
Đón Chỉ huy Hải quân Liên Xô (nay là LB Nga) thăm 1 đơn vị bộ đội tại Vùng 4, Hải quân
Đưa Đại tướng Lê Đức Anh (UVBCT, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) thăm đảo Trường Sa
Đưa TBT Lê Duẩn thăm Hạm đội tàu chiến đấu thuộc Quân chủng Hải quân
* Bài viết có sử dụng hình minh họa của Nhà báo Nguyễn Viết Thái (Nha Trang, Khánh Hòa).

SỰ KIỆN BÌNH AN KHỞI ĐẦU CHO TÌNH TRẠNG DOANH NGHIỆP VỠ NỢ?..

Đào Tuấn - Ngày 8/10/2007, dư luận "mắt tròn mắt dẹt" khi trực tiếp theo dõi cuộc đấu giá "vô tiền khoáng hậu" trong Phiên đấu giá bức tranh "Văn Miếu - Văn hóa Việt", ủng hộ Quỹ Vì người nghèo tại TP. Hồ Chí Minh.

Bà Diệu Hiền, Tổng Giám đốc Công ty Thuỷ sản Bình An trong lần xuất hiện đầu tiên trước ống kính truyền hình, đã trả 3 tỷ đồng cho bức tranh này. Các mức giá sau đó là 5 tỷ, 8 tỷ.

Nữ đại gia Miền Tây chỉ chịu thua khi một “nữ đại gia” khác trả với mức 10 tỷ đồng.

Tuy nhiên, bà nói, giản dị đến thản nhiên là: Sẽ ủng hộ 2 tỷ đồng cho Quỹ Vì người nghèo.

Suốt tuần qua, bên cạnh  thông tin “Bộ Thương mại Mỹ giảm thuế chống bán phá giá cá tra”, báo chí cũng ồ ạt nói về việc bà Diệu Hiền “nợ cả ngàn tỷ”.

Đến 3 tỷ tiền bảo hiểm của công nhân - số tiền đúng bằng mức giá đầu tiên bà đưa ra trong cuộc đấu giá tiền tỷ vô tiền khoáng hậu 5 năm trước, bây giờ bà cũng không có để trả.

Có thể cuộc đấu giá 5 năm trước là một hình thức PR “tiết kiệm”, nhưng mang lại hiệu quả cao trong việc thu hút nguồn vốn.

Nhưng cũng có thể số tiền 2 tỷ mà bà Hiền, đã rất dễ dãi cho đi, dù là ủng hộ người nghèo, cũng là một phần nhỏ của món nợ ngàn tỷ ngày hôm nay.

Số nợ thực sự của Bình An, của bà Diệu Hiền là bao nhiêu, còn phải chờ cơ quan chức năng kết luận.

Hiện giờ, con số tạm thời được Cần Thơ đưa ra là trên dưới 1.000 tỷ mà mỗi ngày, riêng tiền trả lãi cũng cả tỷ đồng.

Nợ đến nỗi, Tổng Giám đốc bất đắc dĩ của Bình An đã buộc phải tuyên bố “Tính đến phương án bán Nhà máy chế biến thủy sản cho một đối tác ở Cần Thơ với giá khoảng 80-90 triệu USD, bán xe Rolls-Royce Phantom trị giá hàng chục tỷ đồng cùng 2 Dự án nhà đất mà Công ty đang đầu tư để sớm trả nợ dứt điểm".

Trước khi “ra nước ngoài”, bà Diệu Hiền thừa nhận Bình An đang gặp khó khăn về vốn để tiếp tục kinh doanh xuất khẩu.

Hàng loạt Ngân hàng như VDB, ACB, BIDV, Vietinbank... đã ngưng cho Công ty vay vốn. "Thiếu vốn đồng nghĩa với Công ty bị Ngân hàng cắt đứt mạch máu lưu thông khiến việc sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn”.

Trong một dự báo, được đưa ra vài ngày trước đây, chính VASEP đã đưa ra một dự báo ảm đạm khi cho rằng, sẽ có ít nhất 20% Doanh nghiệp Thuỷ sản sẽ đóng cửa khi phải đối diện với hàng loạt khó khăn: Thiếu nguyên liệu, chi phí đầu vào cao, chất lượng con giống giảm sút...

Nhưng khó khăn lớn nhất đối với các Doanh nghiệp nói chung và Doanh nghiệp Thuỷ sản nói riêng là nguồn vốn, ở cả 2 khía cạnh: Thiếu nguồn vốn lớn. Và nếu có, thì đó là nguồn vốn với lãi suất... cắt cổ.

Với tình trạng nguồn vốn như hiện nay, 20% Doanh nghiệp ở vào “tình trạng Bình An” có lẽ còn là quá lạc quan.
Chính vì vậy, sẽ là rất nhẫn tâm khi coi quyết định của Bộ Thương mại Mỹ (DOC), giảm thuế (từ 0,56 USD/kg xuống còn 0,03 USD/kg đối với cá tra) là một “chiến thắng”.

Liệu có thể tin vào một "chiến thắng" từ trên trời rơi xuống?..

Cũng khó nói rằng đó là một “cơ hội”- Liệu các Doanh nghiệp còn “cơ hội”, khi Mỹ chỉ là thị trường chiếm 28% giá trị xuất khẩu cá tra?. Khi mà đối với nhiều Doanh nghiệp, sản lượng xuất khẩu sang 2 thị trường lớn khác là EU và Nhật Bản đã giảm tới 50%?..

Năm ngoái, 50.000 Doanh nghiệp đã phải giải thể, phá sản.

Ngay những ngày đầu năm nay, hàng loạt "đại gia" rơi vào cảnh nợ nần phải bán xe, bán nhà.

Có lẽ, Bình An chỉ nạn nhân đầu tiên trong vô số những Doanh nghiệp bị xiết tín dụng.

Sự kiện Bình An, có lẽ cũng chỉ là sự khởi đầu cho tình trạng vỡ nợ của các Doanh nghiệp...
---------------------------------------
* Hình ảnh đánh bắt, khai thác, nuôi trồng thủy - hải sản trong bài (nguồn: OF) chỉ có tính chất minh họa, không liên quan đến nội dung bài viết.

12 tháng 3, 2012

"NGÀY 19/2/1988, TRUNG QUỐC ĐÃ ĐỔ QUÂN LÊN BÃI CHÂU VIÊN (TRƯỜNG SA) VÀ SẴN SÀNG NỔ SÚNG NẾU MÌNH LÊN...".

Thiềm Thừ P2- Tháng 10/1987, Trung tá Nguyễn Văn Dân ra Trường Sa trực tiếp chỉ huy việc dựng nhà cao chân tại các đảo chìm, bãi đá ngầm. Chuyến đi gian khổ đó kéo dài tới 10 tháng, tháng 8/1988 ông mới về đến đất liền. Câu chuyện tiếp theo của ông nói về Chiến dịch CQ-88 của Hải quân Việt Nam (đọc Phần 1)
---------------------------------------
Trước năm 1987, mình đã xây nhà trên một số đảo chìm, tình hình chưa đến nỗi phức tạp lắm.

Nhưng từ giữa năm 1987, tình hình tại quần đảo Trường Sa diễn biến rất khẩn trương.

Khi đó tôi là Trung tá, Phó Tham mưu trưởng Vùng 4, trực tiếp chỉ huy khu vực 2 của Trường Sa.

Biết đối phương có ý đồ, cấp trên chỉ đạo Vùng 4 làm sẵn các khung nhà cao chân, tổ chức biên chế lực lượng để mang ra ráp tại các đảo chìm, bãi đá ngầm.

Tháng 10/1987, tôi trực tiếp cùng Trung tá Lưu Đình Lừng, Hải đội trưởng một Hải đội của Lữ đoàn 125 ra tăng cường cho Trường Sa.

Không ngờ, chuyến đi đó kéo dài tới 10 tháng, đến tháng 8/1988 tôi mới về đất liền.

Trên tàu HQ-617, chúng tôi mang 3 khung nhà cao chân và 3 khung lực lượng đóng giữ đảo, vừa nắm tình hình vừa dựng nhà trên đảo chìm. Trọng tâm là giữ bằng được đảo Đá Lớn.

Đảo Đá Lớn gần đất liền hơn so với nhiều đảo khác.

Đá Chữ Thập còn gần hơn, nhưng lúc đó mình quan niệm Chữ Thập nó nhỏ.

Đá Lớn là một bãi cạn dài hơn 20 km (tương đương với các đảo Thuyền Chài, Đá Đông), là những đảo loại to nhất ở Trường Sa, đều do ta đóng giữ.

Đảo Núi Thị cũng rất quan trọng, ở ngay phía Đông đảo Ba Bình đang bị Đài Loan chiếm giữ và không xa các đảo Thị Tứ, Loại Ta đang bị Philippines chiếm giữ.

Khoảng ngày 7-8/11/1987, có một cơn bão lớn, tàu HQ-617 bị mất toàn bộ hệ thống neo.

Trước đó, chúng tôi đã xác định được luồng vào hồ Đá Lớn và 3 điểm dựng nhà, nhưng do bão quá lớn, phải về đất liền tránh bão…

Ngày 20/1/1988, chuyến máy bay đầu tiên chở cán bộ của Bộ Tư lệnh Hải Quân do Chuẩn Đô đốc, Phó Tư lệnh trưởng Phạm Huấn dẫn đầu vào đến Cam Ranh.

Tại đây, ông Phạm Huấn phổ biến Nghị quyết của Quân chủng về nhiệm vụ đóng giữ các đảo chìm trong tình hình khẩn trương.
Đến tháng 2, Tư Lệnh Quân chủng Giáp Văn Cương cũng vào Cam Ranh, trực tiếp làm Tư lệnh Vùng 4, chỉ huy chiến dịch Chủ Quyền 88 (CQ-88).

Tôi được Vùng giao làm Phó Trưởng đoàn, phụ trách Chỉ huy đi biển của Đoàn công tác ra tiếp tục đóng giữ các đảo, bãi ngầm. Hướng chính là Đá Đông, Châu Viên, Đá Lát…

Tổ chức đóng giữ xong Đá Đông đã sát Tết, có thêm lực lượng ra, do Chỉ huy trưởng Vùng 4, Đại tá Lê Văn Thư trực tiếp chỉ huy...

Diễn biến ác liệt đầu tiên xảy ra là ở bãi Châu Viên. Sáng 18/2/1988, khi lực lượng mình đến, Trung Quốc đưa tàu khu trục, tàu pháo đến chặn, không cho mình lên đảo.

Chưa có bắn pháo, nhưng khi mình lên thì nó ngăn chặn. Hai bên hằm hè nhau...

Tối đó có dông lớn, cả nó cả mình đều bị trôi neo.

Tàu chúng tôi về Đá Đông, làm căn nhà cao chân đầu tiên ở mỏm Đông của Đá Đông, kéo cờ lên khẳng định chủ quyền.

Nhưng Trung Quốc cũng đổ bộ lên phía bên kia, mỏm Tây của Đá Đông.

Tàu HQ-661 của mình lao lên đó, bên kia thôi. HQ-661 lao lên đó, nhưng chỉ kẹt, không hỏng tàu, sau cứu ra được.

Tàu chiến của nó cứ quần liên tục ở bên ngoài. Ngày 19/2/1988, chúng tôi tiếp tục xây dựng 3 nhà trên đảo Đá Đông, lực lượng trú đóng hơn 80 người.

Nhưng phía bãi Châu Viên, mình không lên được nữa rồi. Trung Quốc đã đổ quân chiếm đóng, nó sẵn sàng nổ súng nếu mình lên…

Đêm 13/3/1988, tôi được lệnh lên tàu HQ-614, chỉ huy lực lượng hành quân ngay lên phía đảo Sinh Tồn...

(Còn tiếp)
-------------------------------------------------------------------------------------
Hình ảnh minh họa của Nhà báo Nguyễn Viết Thái (TP. Nha Trang, Khánh Hòa).

"ĐÁNH" NGƯỜI BỆNH TẬT LÀ KHÔNG CÓ TIM...

Mai Thanh Hải - Nhan đề của bài viết là "Một "người trong cuộc" bình bài trên Báo Thanh niên" trên Blog Thu Hồng (ở đây). Mình cũng có chung quan điểm như tác giả: "Đánh người vô cớ là vô đạo đức, đánh phụ nữ là vô học (không cớ nào), đánh người bệnh tật là không có tim".
---------------------------------------
1. Công ty Diệu Hiền đang rất khó khăn vì cả lý do khách quan, lẫn lý do chủ quan ở chính chị Diệu Hiền: Người phụ nữ này vừa đáng thương vừa đáng trách.

Cả THƯƠNG và TRÁCH đều rất lớn, rất to. Gào lên mới xứng đáng. Em biết khá rõ về gia đình này nên mới dám nói thế.

2. Tất cả những gì Thanh niên viết vừa đúng vừa sai: Đúng ở hiện tượng (đã được nêu ra một cách không đầy đủ - không biết là có ý chọn lọc hay vô ý không đủ thông tin) và không hoàn toàn đúng họăc sai về bản chất.

Cách làm này làm em liên tưởng đến câu châm ngôn: 1 nửa cái bánh mì vẫn là bánh mì, 1 nửa sự thật là sự dối trá.

Và kết quả là rõ: Công ty của Diệu Hiền hết cửa để làm ăn và phá sản là chắc chắn. Trước đây em dự báo tỷ lệ phá sản của công ty này là 50/50.

3. Đọc Thanh niên sẽ có 2 cảm nhận: A. Người không liên can thì nghĩ là Thanh niên đang “đánh” Công ty này. B. Chủ nợ sẽ nghĩ đến việc đi đòi nợ gấp. Không biết dụng ý tác giả là gì, nhưng hệ quả là như thế trong mắt người đọc. Và mọi Doanh nghiệp nếu bị đòi “tiền mặt trả ngay” đều có khả năng phá sản cao, dù đang rất lành mạnh.

4. Nhà giáo mà không có đạo đức sẽ làm hỏng con người, Nhà báo không có đạo đức sẽ làm hỏng nền tảng đạo đức xã hội.
Ngày xưa hồi còn học Đại học, có ông thầy dạy Chủ nghĩa Cộng sản khoa học nói với em rằng: Giai cấp vô sản công nghiệp là tiên tiến và họ mới thực hiện được cách mạng xây dựng Chủ nghĩa cộng sản.

Có một loại giai cấp vô sản khác gọi là giai cấp vô sản lưu manh, họ mà cướp chính quyền chỉ là cướp của và phá hoại.

5. Chị Hiền bị ung thư là chuyện em đã nghe hồi trước Tết, nay thành đề tài báo chí.

Chuyện đi chữa trị, sang Mỹ…có thể là bỏ trốn, có thể là chữa bệnh, không ai biết ngoài chính chị Hiền. Nhưng trong tất cả các loại tật xấu của phụ nữ, sợ hãi là tật xấu dễ tha thứ nhất.

Khi khai thác đề tài này có ai nghĩ nếu chị ấy bị bệnh thật thì sao (kể cả người ủng hộ lẫn đánh)?. Họ có một chút lương tâm nào không?..

Đánh người vô cớ là vô đạo đức, đánh phụ nữ là vô học (không cớ nào), đánh người bệnh tật là không có tim.

6. Đọc báo của nhà chị bây giờ chán lắm. Mỗi lần cầm lên đọc (theo thói quen của mấy chục năm nay không thể bỏ) lại thấy chán.
---------------------------------------
* Hình ảnh chỉ có tính chất minh họa, không liên quan đến nội dung bài viết.

TRƯỜNG SA, TRƯỚC NGÀY SÚNG NỔ 14/3/1988

Mai Thanh Hải - Tháng 4/1975, Hải quân Nhân dân Việt Nam giải phóng và tiếp quản các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa từ Hải quân Việt Nam Cộng hoà.

Tháng 2/1978, Philippines đưa quân chiếm đóng đảo Ponata, đảo Dừa.

Ngày 10/3/1978, quân ta đổ bộ lên đảo An Bang.

Ngày 15/3/1978, ta đóng giữ đảo Sinh Tồn Đông.

Ngày 30/3/1978, ta đóng giữ đảo Hòn Sập (Phan Vinh).

Ngày 4/4/1978, quân ta hoàn thành việc đóng giữ đảo Trường Sa Đông.

Cũng trong tháng 4/1978, 1 phân đội được đưa ra đóng giữ đảo Thuyền Chài, nhưng do điều kiện vật chất chưa bảo đảm nên tháng 5/1978 phân đội được rút về đất liền.

Tháng 12/1986 và tháng 1/1987, Malaysia chiếm đóng bãi Kỳ Vân và bãi Kiệu Ngựa.

Tháng 3/1987, ta trở lại đóng giữ đảo Thuyền Chài.

Tháng 6/1987, Trung Quốc diễn tập quân sự ở Nam biển Đông.

Tháng 10, tháng 11/1987, một số tàu chiến của Trung Quốc đi gần các đảo An Bang, Thuyền Chài, Trường Sa Đông, Trường Sa, Song Tử Tây.

Ngày 24/10/1987, Tư lệnh Quân chủng Hải quân ra lệnh Vùng IV chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu từ thường xuyên lên tăng cường.

Ngày 6/11/1987, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Mệnh lệnh bảo vệ quần đảo Trường Sa, giao cho Quân chủng Hải quân "Đưa lực lượng ra đóng giữ các bãi đá cạn chưa có người, không chờ chỉ thị cấp trên".

Ngày 2/12/1987, tàu HQ-604 thuộc Lữ đoàn 125 đưa bộ đội đến đảo Đá Tây.

Ngày 22/1/1988, Trung Quốc đưa 4 tàu hộ vệ tên lửa, tuần dương, tàu dầu, tàu đổ bộ và một số tàu khác đến chiếm đóng đảo Chữ Thập.

Ngày 27/1/1988, Đại tá Phạm Công Phán, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 chỉ huy 1 Đại đội công binh mang 2 khung nhà ra đóng giữ đảo Chữ Thập.

Do hỏng máy, sáng 30/1 tàu mới đến gần Chữ Thập, bị 4 tàu chiến Trung Quốc ngăn cản. Tàu ta đành phải quay về Trường Sa Đông, không thực hiện được việc đóng giữ đảo Chữ Thập.

Đảng ủy Quân chủng Hải quân xác định: "Lúc này, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và vinh quang nhất của Quân chủng Hải quân".

Ngày 5/2/1988, quân ta đóng giữ đảo Đá Lát.
Ngày 6/2/1988, quân ta đóng giữ đảo Đá Lớn.

Ngày 18/2/1988, Trung Quốc chiếm đảo Châu Viên

Ngày 26/2/1988, Trung Quốc chiếm đóng đảo Ga Ven.

Ngày 26/2/1988, quân ta đóng giữ đảo Tiên Nữ.

Ngày 27/2/1988, ta chốt giữ thêm đảo Tốc Tan.

Ngày 28/2/1988, Trung Quốc chiếm đảo Huy Gơ

Ngày 2/3/1988, ta đóng giữ thêm đảo Núi Le.

Ngày 23/3/1988, Trung Quốc chiếm đóng đảo Xu Bi.


Đầu tháng 3/1988, Trung Quốc huy động lực lượng của 2 Hạm đội xuống khu vực quần đảo Trường Sa, tăng số tàu hoạt động ở đây thường xuyên lên 9-12 tàu chiến (gồm: 1 tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo, 2 tàu đổ bộ, 3 tàu vận tải hỗ trợ LSM, tàu đo đạc, tàu kéo và 1 pông tông lớn).

Trước tình hình đó, Tư lệnh Hải quân Việt Nam lệnh cho Vùng 4, Lữ đoàn 125, Lữ đoàn 146, các Hải đội 131, 132, 134 của Lữ đoàn 172 chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao. Đồng thời lệnh cho Vùng 1, Vùng 3 và Lữ đoàn 125 ở Hải Phòng chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu tăng cường.

Bộ Tư lệnh Hải quân điều động 41 tàu thuyền và phương tiện nổi của Lữ đoàn 125, Cục Kinh tế, Vùng 1,3,5, Trường Sĩ quan Hải quân Việt Nam (nay là Học viện Hải quân Việt Nam), nhà máy Ba Son... đến phối thuộc khi cần thiết.

Lúc 19h ngày 11/3/1988 tàu HQ-604 rời cảng ra đảo Gạc Ma để thực hiện nhiệm vụ trong chiến dịch CQ-88 ("Chủ Quyền 88").

Ngày 12/3, tàu HQ-605 thuộc Lữ đoàn125 do thuyền trưởng Lê Lệnh Sơn chỉ huy được lệnh từ Đá Đông đến đóng giữ đảo Len Đao trước 6h ngày 14/3. Sau 29 tiếng hành quân, tàu 605 đến Len Đao lúc 5h ngày 14/3/1988 và cắm cờ Việt Nam trên đảo.

Thực hiện nhiệm vụ đóng giữ các đảo Gạc Ma và Cô Lin, 9h ngày 13/3/1988, tàu HQ-604 của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và tàu HQ-505 của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ được lệnh từ đảo Đá Lớn tiến về phía Gạc Ma, Cô Lin.

Phối hợp với 2 tàu HQ-505 và 604 có 2 Phân đội công binh (70 người) thuộc Trung đoàn Công binh 83, 4 Tổ chiến đấu (22 người) thuộc Lữ đoàn 146 do Trần Đức Thông Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy và 4 chiến sĩ đo đạc của Đoàn Đo đạc và biên vẽ bản đồ (thuộc Bộ Tổng tham mưu).

Sau khi 2 tàu của Việt Nam thả neo được 30 phút, tàu hộ vệ của Hải quân Trung Quốc từ Huy Gơ chạy về phía Gạc Ma, có lúc đôi bên chỉ cách nhau 500m.

17h ngày 13/3/1988, tàu Trung Quốc áp sát tàu HQ-604 và dùng loa gọi sang. Bị uy hiếp, 2 tàu HQ-604 và 505 kiên trì neo giữ quanh đảo.

Còn chiến hạm của Trung Quốc cùng 1 hộ vệ hạm, 2 hải vận hạm thay nhau cơ động, chạy quanh đảo Gạc Ma.

Trước tình hình căng thẳng do Hải quân Trung Quốc gây ra, lúc 21h ngày 13/3/1988, Bộ Tư lệnh Hải quân ra lệnh cho các Sĩ quan chỉ huy Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Vũ Phi Trừ chỉ huy bộ đội quyết giữ vững các đảo Gạc Ma, Cô Lin.

Tiếp đó Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ thị cho lực lượng Công binh khẩn trương dùng xuồng chuyển vật liệu xây dựng lên đảo ngay trong đêm 13/3/1988.
Thực hiện mệnh lệnh, tàu HQ-604 cùng lực lượng Công binh của Trung đoàn 83 chuyển vật liệu lên đảo Gạc Ma.

Tiếp đó lực lượng của Lữ đoàn 146 cắm cờ Việt Nam và triển khai 4 Tổ bảo vệ đảo.

Lúc này, Trung Quốc điều thêm 2 hộ vệ hạm trang bị pháo 100 mm đến hỗ trợ lực lượng đã đến từ trước, yêu cầu phía Việt Nam rút khỏi đảo Gạc Ma.

Ban Chỉ huy tàu HQ-604 họp nhận định: Trung Quốc có thể dùng vũ lực can thiệp và quyết định chỉ huy bộ đội bình tĩnh xử trí, thống nhất thực hiện theo phương án tác chiến đề ra, quyết tâm bảo vệ Gạc Ma.

Ngày 14/3/1988, chiến sự diễn ra tại khu vực các đảo Gạc Ma, Cô Lin, và Len Đao.

(Theo Lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam và một số tư liệu khác).
--------------------------------------------------------------------------
* Nguồn hình minh họa: Nhà báo Nguyễn Viết Thái (Khánh Hòa)

KHI GIẢI PHÓNG TRƯỜNG SA, CÓ RẤT NHIỀU "TÀU LẠ" Ở QUANH CÁC ĐẢO

Thiềm Thừ - Đại tá Nguyễn Văn Dân, sinh năm 1945 tại xã Bình Minh, Tĩnh Gia, Thanh Hoá, nhập ngũ năm 1964. Đại tá Dân có gần 20 năm (1975 - 1994) gắn bó với quần đảo Trường Sa, trước khi phụ trách Hệ đào tạo sau đại học của Học viện Hải quân, rồi nghỉ hưu năm 2000. Ông được coi là một trong những kho tư liệu sống về Trường Sa.

Những dòng dưới đây là lời kể của Đại tá Nguyễn Văn Dân về những sự việc đã diễn ra tại Trường Sa, trong thời điểm ông công tác thực tế. Tác giả Thiềm Thừ ghi lại, từ Nha Trang
----------------------------------------------------------------------
Năm 1975, tôi đang là Trung uý, Trợ lý Tham mưu của Khu vực 2 Sông Mã, Hải quân (Khu vực là cấp tổ chức Hải quân, tương đương Vùng hiện nay), thì được lệnh tham gia Đoàn Công tác tiếp quản căn cứ Cam Ranh.

Đoàn gồm 42 người, do Trung tá Hà Trung Hỷ, Chính uỷ K2 chỉ huy (tháng 9/1975, Lữ đoàn 126 Hải quân đánh bộ được thành lập, ông Hà Trung Hỷ là Chính uỷ Lữ đoàn), Đại uý Ngô Lai làm Tham mưu trưởng.

Đoàn đi tàu đến Đà Nẵng ngày 2/4/1975. Tại đây, chúng tôi được biết chủ trương của trên: Phải bí mật, nhanh chóng giải phóng các đảo ở quần đảo Trường Sa đang do quân Sài Gòn đóng giữ, kiên quyết không để lực lượng nào khác, nhân tình hình lúc đó để chiếm đóng.

Rồi tàu chúng tôi đi tiếp, đến Quân cảng Quy Nhơn tối 6/4/1975. Khi đó, ở cảng Quy Nhơn vẫn chưa hết tiếng súng. Từ Quy Nhơn, Đoàn đi ô tô, vào đến Nha Trang ngày 7/4.

Ở đây, chúng tôi được lệnh gấp rút ra tổ chức tăng cường cho lực lượng ở Trường Sa. Giữa tháng 4/1975,chúng tôi xuống 2 tàu do Bộ Tư lệnh Hải quân đưa từ Hải Phòng vào, giả dạng tàu cá số hiệu 679 – 680, ra Trường Sa.

Ngày 14/4, ta giải phóng đảo Song Tử Tây. Chúng tôi tiếp quản đảo Song Tử Tây từ đơn vị giải phóng đảo, tổ chức lại công tác bảo vệ và nắm thêm tình hình chung.
Sau đó, chúng tôi đến đảo Sơn Ca, một ngày sau khi đảo này được lực lượng ta trên tàu 641 giải phóng (25/4). Tại đây, Đoàn nhận 16 tù binh Sài Gòn để đưa về Cam Ranh trên tàu 641.

Anh Hùng người Hà Tây, chỉ huy đơn vị giải phóng đảo Sơn Ca cho biết: Hình như có 1-2 lính Sài Gòn bơi sang đảo Ba Bình bên cạnh, do Đài Loan chiếm đóng.

Sau đó, Đoàn tiếp tục đến đảo Nam Yết. Lúc đó ở gần Nam Yết có 1 tàu khu trục của Hải quân Sài Gòn, nhưng tàu này rút đi khi thấy tàu ta tới.

Đảo thứ tư Đoàn tới là đảo Sinh Tồn. Chúng tôi dừng tại đây lâu hơn. Khi đó, trên đảo còn ngôi mộ của một Thiếu uý Sài Gòn, bia ghi tên là Tính hay Tích gì đó, lâu rồi tôi không nhớ, ở Chợ Lớn, bị bệnh chết.

Tôi nói với anh em: "Dù ở bên nào, nhưng họ cũng là người Việt Nam, tham gia giữ chủ quyền cho Tổ quốc, nay chết ở đây, mình cũng nên giữ mộ cho họ!". Sau này ngôi mộ được di dời thế nào, tôi không rõ.

Từ đảo Sinh Tồn, chúng tôi đến đảo Trường Sa Lớn, ngày 2/5/1975. Đây là đảo chúng tôi ở lại lâu nhất để củng cố tổ chức, lực lượng, đảm bảo các hoạt động.

Nhìn chung, khi đó tổ chức phòng thủ của quân Sài Gòn tại Trường Sa còn sơ sài. Thực phẩm cho lính chỉ có gạo sấy và đồ hộp.

Các đảo còn hoang vu, ở Nam Yết cây mọc khá rậm rạp. Nhưng đảo này và đảo Sơn Ca hầu như không có chim, trong khi ở Song Tử Tây, Sinh Tồn và Trường Sa rất nhiều chim.

Có những bãi chim, chim bay ào ào trên đầu, còn dưới đất chim con nằm dày đặc, chúng tôi không dám bước chân…

Lúc đầu, chúng ta chưa xác định được cơ cấu tổ chức, trang bị, phương tiện, công tác phòng thủ tại các đảo.
Dần dần, các khâu này được hoàn chỉnh, việc bảo đảm đời sống cho anh em trên các đảo đi vào nề nếp. Năm 1978, ta bắt đầu làm sân bay ở Trường Sa…

Trong quá trình ra tiếp quản các đảo năm 1975, hầu như chúng tôi không thấy tàu Mỹ.

Nhưng có một số tàu của đối phương (nói thế anh hiểu đối phương là ai rồi) ở quanh các đảo. Khi thấy tàu ta đến, họ rút đi.

Ở các đảo Thị Tứ, Loại Ta chúng tôi thấy có tàu mang cờ Philippines …

Tranh chấp tại đảo An Bang năm 1978, tôi không trực tiếp tham gia. Có bạn thân của tôi là Lê Văn Sợi cùng tàu HQ 617 ra An Bang, đối đầu với lực lượng Malaysia.

Trung tuần tháng 5/1975, tôi về lại Nha Trang, được cử làm Cảng vụ trưởng ở căn cứ Cam Ranh. Khu vực Cam Ranh khi đó còn thường xuyên bị không quân Sài Gòn ném bom, nhiều nhất là ở cầu Trà Long trên Quốc lộ 1A (Mốc thời gian này có lẽ bị nhầm từ tháng 4 sang tháng 5, bởi Nha Trang được giải phóng ngày 2/4/1975-MTH).

Chỗ cảng còn rất nhiều tàu, sà lan chở dân tị nạn, cả xác lính Sài Gòn, xác dân. Dân di tản còn ở Cam Ranh khá nhiều. Thậm chí có mấy người lính Sài Gòn vẫn mặc quân phục cũ, đeo băng đạn, xin cách mạng cho bộ đồ Tô Châu để họ mặc, đứng ra giữ gìn trật tự…

Lúc đó, nghe tin còn lực lượng địch cố thủ trong căn cứ Cam Ranh, tôi được lệnh đưa một sĩ quan Sài Gòn đi kiểm tra. Đó là Trung uý Tuân ở căn cứ Lam Sơn (Dục Mỹ, Ninh Hoà, Khánh Hoà), nhà ở số 91 Nguyễn Trãi, Nha Trang. Ông Tuân có thời gian làm việc trong Cam Ranh nên ít nhiều biết các khu vực ở đây.
 Các điểm chúng tôi kiểm tra đều mới bị đào bới. Nghe nói, sau khi Mỹ rút khỏi Cam Ranh năm 1973, đã có các nhà thầu được vào đó tìm phế liệu…

Tháng 8/1978, tôi làm Hải đội phó Hải đội Cam Ranh.

Tháng 10/1978, Vùng 4 duyên hải được thành lập. Năm 1980, tôi là Đại uý Hải đội trưởng, được điều lên làm Trưởng Ban Huấn luyện của Vùng 4, rồi được cử đi học ở Liên Xô.

Năm 1983 về nước, tôi làm Phó Tham mưu trưởng Vùng, được giao nhiệm vụ chuyên giúp cho các đảo Trường Sa.

(Còn tiếp)
--------------------------------------------------------------------------
* Bài viết có sử dụng hình tư liệu của tác giả Nguyễn Viết Thái để minh họa đời sống bộ đội Trường Sa, năm 1988 và từ 1975-1990