14 tháng 12, 2011

LÂM THỊ MỸ DẠ - "CHO ANH TỰA VÀO EM"...

Vợ chồng Nhà văn - thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường và Lâm Thị Mỹ Dạ
Mai Thanh Hải - Mình đi qua miền Trung đúng dịp mùa mưa. Thế nhưng đến Huế, trời trong veo, chẳng thấy mưa gió gì cả. Ngồi trên tầng 2 quán nhỏ cạnh cầu Tràng Tiền, nhìn xuống sông Hương đục ngầu màu đất, cuồn cuộn nước từ trên rừng chảy ra cửa Thuận An, bác Minh Tự (Trưởng Đại diện Báo Tuổi trẻ TP. Hồ Chí Minh tại TP. Huế) cứ thắc mắc: "Hay hè!. Mấy hôm trước mưa gió mịt mù, hôm ni lại tạnh mưa, ngớt gió. Hay hè!".

Ngồi với nhau cả buổi tối, nói chuyện linh tinh lang tang, cả những kỷ niệm của mình với bác Minh Tự và những người anh, người bạn ở Huế từ hồi mới biết, chơi với nhau, gần chục năm trước, gian khó vất vả nhưng giàu ú hụ tình cảm, sẻ chia.

Uống bên sông Hương chưa đủ, bác Minh Tự lại cùng mình lang thang quán bia hè phố khu Tây, ồn ào giữa lòng Cố Đô bình lặng và mặc trầm. Lặng lẽ giữa ồn ào, giữa vùng trầm mặc, cứ nhẩn nha nhớ lại những kỷ niệm về Huế, của một thời làm báo lăn lộn nhưng say nghề.
Ngày cưới anh Tường chị Dạ

Càng kỷ niệm, càng nhắc nhiều đến những con người Huế. Câu chuyện của mình với bác Minh Tự, kéo dài tưởng như hết đêm nhưng cứ thấy thiêu thiếu cái gì đó. Trời ạ!.. Đó là qua thăm 2 Nhà văn - Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường và Lâm Thị Mỹ Dạ. Bác Minh Tự cũng giật mình: "Ngày mai phải qua thăm anh chị!".

Thế là sáng hôm sau, tụi mình lếch thếch đến thăm 2 người nổi tiếng, mà có lẽ chỉ cần nhắc đến họ, trong lòng rất nhiều người sẽ dâng lên niềm xúc cảm rưng rưng.

Mà không rưng rưng sao được, bởi với mình, cả một thời học sinh - sinh viên cho đến khi đi làm, cứ đọc những câu của 2 anh chị, tự dưng thấy lòng mình ấm lại, mọi suy ngẫm mềm đi và thấy yêu thương cuộc sống, hoài niệm Cố Đô và tin vào những rung cảm rất thật trong sâu thẳm con người, mà người ta hay gọi là Tình yêu...

Một chuyến thăm anh chị, chẳng thể viết được gì nên đăng lại bài đã đăng trên Trang của bác Ngô Minh, để nhớ 1 buổi sáng yên lành, thăm 2 người yêu nhau, yêu đến bây giờ già cả, bệnh tật nhưng tình yêu dành cho nhau, vẫn không bao giờ vơi cạn...
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
LÂM THỊ MỸ DẠ - CHO ANH TỰA VÀO EM

Đến năm 2011 này, đã 13 năm nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ vừa sáng tác thơ, nhạc, vừa chăm nuôi người chồng, một nhà văn lớn,  bị bạo bệnh phải nằm một chỗ, vất vả nhọc nhằn hơn nuôi con mọn.

Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường trong chuyến  đi dạy “cua” về Văn hóa Huế ở Đại học Duy Tân, Đà Nẵng, bị tai biến mạch máu não tại khách sạn Faifô đêm 14/6/1998, hôn mê hai tháng liền.

Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ , lúc đó đang ở Hà Nội,  chuẩn bị bay đi Mỹ, dự hội thảo văn học do Trung tâm William Joiner ở thành phố Boston, Mỹ mời. Nghe tin chồng bị nạn đang cấp cứu ở Bệnh viện Đà Nẵng, chị quyết định  bỏ chuyến đi Mỹ,  tức tốc bay về Đà Nẵng, và bên chồng như một “điều dưỡng viên” từ ấy tới giờ.

Nữ thi sĩ vừa là người vợ tần tảo, vừa là “Người Mẹ” bao dung, săn sóc, đút mớm cơm cháo, thuốc men, xoa bóp, tắm rửa cho chồng. Trăm thứ việc nặng nhọc không tên đổ lên đôi vai mỏng mảnh của Dạ.
Nhà thơ LTMD hồi trẻ

Trong tập thơ mới nhất "Hồn đầy hoa cúc dại", xuất bản 2007, có một bài thơ rất cảm động thể hiện bản lĩnh và sức mạnh tình yêu của người phụ nữ: "Cho anh tựa vào em".

Người ta hay nói chị em nữ là “phái yếu”. Nhưng ở đây nữ thi sĩ xinh đẹp của chúng ta đang hoá thành “kẻ mạnh” để cho chồng “tựa vào” : "Bàn tay nâng em thành bảo mẫu/ Nước mắt lặn vào trong cho anh thấy nụ cười/ Bệnh tật lo toan giấu vào đêm trắng/ Giữa tháng ngày trĩu nặng/ Em đứng thẳng người/ Cho anh tựa vào em...'.

Mỹ Dạ kể rằng: Năm 1972, Anh Tường đang là cán bộ của Thành ủy Huế, được  trên điều động ra Quảng Trị để lập tham gia bộ máy của tỉnh Quảng Trị  vừa mới giải phóng đến sông Thạch Hãn. Anh giữ  chức Trưởng ty Văn hóa. Đầu năm 1973, vì ham  vui, Hoàng Phủ Ngọc Tường theo xe của đạo diễn Hoàng Tích Chỉ vào làm phim chiến tranh Quảng Trị, để ra thăm miền Bắc. Đến Đồng Hới, hai anh em ghé thăm Hội Văn nghệ Quảng Bình sơ tán ở Phú Vinh.
HPNT (đứng giữa) trong phong trào HSSV Huế

Tại đây người trí thức Huế, giáo sư siêu hình học Trường Khải Định (tức Trường Quốc học) 36 tuổi Hoàng Phủ Ngọc Tường nổi tiếng “xuống đường” ấy đã bị nữ nhà thơ trẻ xinh đẹp Lâm Thị Mỹ Dạ hớp hồn.

Dạ lúc đó mới 24 tuổi, mới được Hội Văn Nghệ Quảng Bình gọi từ Lộc Thủy, Lệ Thủy  về vừa làm văn thư, vừa để bồi dưỡng tài năng sáng tác thơ.

Hoàng Phủ nhớ lại: “Hồi ấy ở Hội Quảng Bình, nhà văn Trần Công Tấn (gốc Quảng Trị, tập kết ra Đồng Hới, là người viết rất nhiều sách về Lào, do thành tích cứu Hoàng thân Xuphanuvông được công nhận là thành viên của Hoàng Gia Lào), là “ông mối” nhiệt tình nhất. Chúng mình thư từ qua về, 6 tháng sau là cưới”.

Tôi hỏi :”Lúc ấy, anh đọc thơ Mỹ Dạ chưa?”. Tường cười :“Ở chiến khu mình có đọc vài bài thơ Dạ trên báo nhưng không để ý mấy. Ra đây nghe các anh giới thiệu, mới biết Dạ vừa giành được giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm ngoái, khi mới 23 tuổi. Nhưng thơ không quan trọng. Mình “bị sốc” vì Dạ quá hiền dịu và rất dễ thương”.
Từ trái sang: HPNT, Nguyễn Trọng Tạo
Lại hỏi Dạ : “Lúc ấy đã đọc gì của anh Tường?”. “Dạ biết anh Tường là nhân sĩ trí thức yêu nước nổi tiếng ở Huế, không ngờ anh lại trẻ thế. Còn sách thì chưa được đọc cuốn nào của anh ấy!”. Nghĩa là trước khi đến với nhau, họ đều là những người cầm bút đang bước những bước đầu tiên trên con đường văn chương thăm thẳm.
            
Đám cưới Tường Dạ hoàn toàn do bạn bè văn nghệ người Huế ở Hà Nội chung tay lo liệu.

Nữ nhà văn Ngọc Trai (chị tên thật là Công Tằng Tôn Nữ Ngọc Trai, nhưng ra Bắc, sợ bị quy lý lịch là “ Nhà Nguyễn bán nước" , nên phải đổi là Nguyễn Ngọc Trai), lo xoong nồi chén bát, chỉ huy nấu nướng món Huế. Chị Trai nhớ lại: Lúc đó “Tường thì lơ ngơ, còn Dạ lại như con nai vàng, thương lắm”.

Nhà văn Trần Nguyên Vấn lo in thiệp cưới, rồi đạp xe đi mời từng người.

Trần Công Tấn từ Đồng Hới chèo đò 20 cây số lên Lệ Thủy chở Bà Lý Thị Đấu, mẹ Dạ về Đồng Hới rồi đưa ra Hà Nội dự đám cưới con gái.

Thời đó Hà Nội không có cửa hàng cho thuê áo dài cưới như bây giờ. Nên Nghệ sĩ Thanh Vy, Đoàn Cải lương Trần Hữu Trang Nam Bộ, vì phục tài  anh Tường, đã  dẫn Dạ về đoàn để mượn áo dài là trang phục diễn viên. Dạ – Tường chọn cả buổi mới được một bộ vừa ý.

Ngày 27/10/1973, bạn bè văn chương Thủ đô đến chật khu nhà 51- Trần Hưng Đạo mừng tân hôn hai người. Gia đình Hoàng Phủ ở Huế không ai biết con trai cưới vợ. Thay mặt gia đình bên trai là bà Hoàng Thị Ái, người cô họ của Tường, lúc đó là Chủ tịch Hội phụ nữ Việt Nam.

Dự đám cưới Tường -Dạ có đông đủ  các cây đa cây đề của làng văn Việt Nam như Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân, Tế Hanh...

Những ngày đông Hà Nội đó, Hoàng Phủ làm thơ tặng Mỹ Dạ: “Em, chắc em sẽ không quên/ Gốc sấu già đổ bóng dài trên mặt cỏ/ Anh đứng chờ em ở đó… Mai giã từ Hà Nội/ Ta về miền nắng chói/ Nhưng có bóng im nào che đời ta mát hơn/ Một không gian xanh biếc giữa tâm hồn”. Đó là ngày mà số phận và văn chương hai người mãi đồng hành với tình yêu nồng cháy .
Từ trái: Trịnh Công Sơn, Bửu Ý, Nguyễn Trọng Tạo, HPNT
        
Thời bao cấp, cán bộ đã khổ, vợ chồng nghệ sĩ như Tường – Dạ càng khổ hơn. Tường là người đàn ông “ham chơi”. Lương bổng hai người chưa đến 120 đồng, không đủ nuôi hai đứa con, mẹ già chồng, thế mà hễ bạn bè đến nhà là Tường gọi: “Dạ ơi, cho anh mấy chai bia!”.

Nhưng không chơi, không đàm đạo văn chương thì không thể viết được. Dạ hiểu điều đó. Tường đi lang thang suốt Cà Mau, Quảng Nam, Quảng Trị, Sài Gòn… Dạ đều âm thầm chuẩn bị lộ phí cho chồng. Những tháng ngày ấy, bạn bè đến nhà không hề biết hai vợ chồng đã có lúc “hục hặc” vì thiếu tiền.

Gia đình anh Tường mấy đời ở Huế, Dạ thì gốc gác chân đất Quảng Bình, nên từ chuyện nấu  món ăn Huế, đến cách ăn mặc, dáng điệu đi đứng không ít lần mẹ chồng, bà con bên chồng và nàng dâu không hiểu nhau…Nhưng nhờ bản tính dịu dàng, dần dần Dạ đã được mọi người nhà chồng yêu mến.

Năm 1979, chiến tranh biên giới ác liệt. Tường nói với vợ: “Anh phải lên biên giới thôi, đất nước nguy nan!. Em còn tiền không?”.

Thời đó, gia đình nào cũng sống bằng đồng lương, tem phiếu, làm gì có tiền dự trữ. Dạ lẳng lặng đi bán bộ quần áo dài mà mẹ Tường máy bằng nhiễu đỏ, dành tặng cho con dâu từ miền Bắc vào, bộ quần áo ấy Dạ cất  kỹ bây lâu nay, như của gia bảo. Bí quá, Dạ phải bán. Rồi  Dạ ứng tháng lương để có tiền cho chồng đi biên giới.

Chuyến đi ấy, Hoàng Phủ đã viết bút ký nổi tiếng “Rừng Hồi”. Chuyến đi nào Tường viết được cái gì hay, Dạ đều rất phấn chấn.

Rất nhiều ánh lửa (1979), Ai đã đặt tên cho dòng sông (1984) là hai tập bút ký xuất sắc khẳng định vị trí của Hoàng Phủ trên văn đàn. Bậc thầy về ký Nguyễn Tuân phải thốt lên: “Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường rất nhiều ánh lửa”.

Đi học Trường viết văn Nguyễn Du 3 năm, Mỹ Dạ mang theo cô gái út Bê Lim mới chưa đầy tuổi đi theo. Hai mẹ con ăn một suất cơm. Hàng ngày lên lớp, con bé theo mẹ như một chú mèo con.

Phải sang: Nguyễn Trọng Tạo, HPNT, Nguyễn Quang Lập (Bọ Lập)
Có lần vào cửa hàng, con bé thấy sữa, nằng nặc đòi mẹ mua. “Con thèm sữa như cái lò xo hắn đã bật đến mức cuối cùng rồi!”. Chị thương con trào nước mắt. Thời gian đi thực tập, Dạ đưa con về cho Ông Tường (chữ Dạ hay dùng) chăm.

Đàn ông Huế xưa nay không ai lo việc bếp núc gia đình bao giờ. Thế mà Hoàng Phủ nuôi hai con nhỏ cả năm trời. Khi nấu ăn cho con Tường phải mở sách dạy món Huế. Mải đọc sách để tra cách nấu, ngoảnh lại thì đĩa xào đã bốc khói.

Cơm Tường nấu bao giờ cũng bị khê cháy vàng. Hai đứa nhỏ ăn quen đến độ, năm sau khi mẹ về nấu cơm chín trắng, chúng bảo: “Ba nấu cơm màu vàng, thơm hơn!”.
           
Ông Tường có lần  ngọng nghịu nói với tôi : "Mỹ  Dạ không chỉ là vợ mà là ân nhân của mình !”. Cuộc đời ông Tường đã cấp  cứu ở bệnh viện  năm bảy lần. Lần nào cũng thập tử nhất sinh.

Bây giờ, Ông Tường bị liệt nửa người, nằm một chỗ, muốn ngồi dậy Mỹ Dạ phải đỡ. Mỹ Dạ “bồng” Tường lên xuống xe lăn, đọc sách, báo, thư từ cho anh Tường nghe. Khi bạn bè đến thăm, ông Tường mừng quýnh , giục Dạ cho lên xe lăn. Những lúc đó anh nói ngọng không rõ tiếng, Mỹ Dạ phải làm “phiên dịch”.

Điện thoại của bạn bè như Lê Huy Cận, Đặng Tiến, Thái Kim Lan , Đinh Cường… từ Pháp, Đức, Mỹ hay Hà Nội, Sài Gòn… cho ông Tường, Mỹ Dạ đều phải dịch lại. Mỹ Dạ đi đâu xa một vài ngày là Ông Tường không ổn.

Có lần chị được Đài Truyền hình Huế mời ra Đông Hới để quay bộ phim tài liệu về chị do tôi viết kịch bản. Chiều tối chị  năn nỉ nhờ xe của tỉnh chở vô Huế ngay trong đêm “kẻo không ai chăm sóc ông Tường”. Trăm nghìn thứ việc chưa từng có ập xuống đời người phụ nữ làm thơ nổi tiếng ấy.

Tuổi ngày càng cao, Mỹ Dạ càng bị nhiều thứ bệnh tật hành hạ, viêm khớp, viêm xoang, nhức đầu, tim... Ngày nào cũng một  bì thuốc Tây với hàng chục thứ khác nhau. Có lần đưa chồng vào toilet, Dạ ngã ngay bậc cửa. Thế mà chị vẫn  hàng ngày dịu dàng bên chồng. Chồng ngủ rồi chị lại thức làm thơ.
Trái qua: Nguyễn Trọng Tạo, Phùng Quán, HPNT

Gần đây chị  lại viết ca khúc. Đến nay chị đã sáng tác được 12 ca khúc, trong đó bài hát  về làng quê mình bên sông Kiến Giang, về Tây Nguyễn rất  hay. Năm 2010, Mỹ Dạ đã cho ra mắt  một Album nhạc của mình.

Khát khao cháy bỏng của Mỹ Dạ là làm sao chữa cho Ông Tường đi lại được. Có lần, có ông thầy  từ Hà Nội vào, tìm đến nhà Dạ, xưng tên và  tự quảng cáo: "Tôi là người đã từng chữa bệnh cho các ông “Trung ương”. Nay nghe tin  anh Tường, nhà  văn lớn bị liệt, tôi xin nguyện chữa bệnh không mất tiền!”.

Thế là Dạ xúc động. Ông thầy thuốc xoa bóp chân cho ông Tường 3 buổi , rồi bảo Mỹ Dạ: "Thế là  sắp ổn rồi đấy. Bây giờ chị  mua cho anh Tường một lạng cao hổ cốt này, ngâm cho anh uống một tuần là khỏi!”. Lạng cao gần hai chục triệu đồng (năm 2008). Dạ không đủ tiền, phải điện vay Ngô Minh . Uống  xong mà bệnh vẫn không thuyên giảm. Hay là “cao lừa?”.

Nghe ai nói có thuốc gì hay, thầy nào giỏi, dù xa xôi, tốn kém đến mấy, Dạ cũng tìm bằng được. Nhưng những lần Dạ đưa chồng đi “tìm thầy”, cũng đa đoan lắm, vì thầy thuốc giỏi thực thì hiếm, mà “thầy thuốc “một tấc đến trời” thì nhiều.

Mỹ Dạ đi lùng mua mấy cái máy lắc chân cắm điện, để ông Tường lắc chân hàng ngày, sợ bị teo cơ do nằm một chỗ.
       
Năm 1999, nghe tin ở Bắc Giang có ông thầy  hay lắm, người nằm liệt giường không đi được, uống mấy thang của Thầy là  chạy nhảy được liền. Mỹ Dạ mừng quýnh, liền đi Hà Nội tìm thầy, năn nỉ mời thầy chữa bệnh cho chồng.

Thầy bảo phải đưa bệnh nhân ra Hà Nội để thầy bắt mạch, bốc thuốc trực tiếp. Đó là chuyến đầu tiên Mỹ Dạ “cõng” chồng đi chữa bệnh ở Hà Nội.

Mỗi lần đưa được ông Tường ra Hà Nội (hay đi đâu) quả là kỳ công, có trăm việc phải lo liệu, bố trí từ mấy hôm trước. Phải có mấy người “cõng” ông Tường từ trên lầu Khu chung cư Nguyễn Tường Tộ xuống phố. Đặt ông vào xe taxi. Tàu tới Ga Huế chỉ dừng 5 phút,  phải có hai người thật nhanh, thật khỏe mới kịp cõng ông Tường lên tàu. Lại phải có mấy người khác thúc hối nhau chuyển bao, gói lên tàu.

Nói Mỹ Dạ “cõng” chồng là nói "cõng” trên việc trù tính. Còn trực tiếp “bồng” Tường xuống lầu, lên tàu nhiều lần, tôi thấy thường có Võ sư huyền đai đệ thập đẳng karate Nguyễn Văn Dũng cùng các đệ tử, hay nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch.

Đó là chưa kể hàng chục bao gói túi xách  áo quần, chăn màn, sách vở, soong nồi, bát đũa, bếp ga, nồi cơm điện, phích nước... đi kèm theo, y như một chuyến chuyển nhà. Phải vài ba xe xích lô mới chở hết.

Ra đến Hà Nội , lại phải có người cõng ông Tường xuống tàu, lên xe con. Ở Hà Nội, nhà thơ Hữu Thỉnh và anh chị em ở Văn phòng Hội Nhà văn đã nhiệt tình bố trí chỗ ở cho ông Tường suốt ba tháng liền. Ba tháng điều trị, tính ra gần cả trăm tháng thuốc, Hoàng Phủ không  khỏi bệnh.
        
Năm 2000, nghe đồn ông thầy lang ở Đà Nẵng “bấm huyệt” chữa bệnh trăm người đều lành. Mỹ Dạ lại sốt sắng “cõng” ông Tường đi tàu hỏa vô Đà Nẵng. May mà ở Đà Nẵng đã có tốp bạn bè chí cốt như Lê Diễn, Vĩnh Quyền, Đà Linh,  Hoàng Trọng Dũng… lo cho chỗ nghỉ, không thì không biết tiền đâu chịu thấu.

Có lẽ thầy chưa hiểu bệnh của ông Tường là rất nặng, lại muốn ông Tường lành bệnh thật nhanh, nên thầy đã xoa bóp, mat-xa quá mạnh. Thầy bấm huyệt thật mạnh, vỗ thùm thụp vào lưng vào vai. Ông Tường đau nhừ người mà không dám kêu.

Mười ngày "đấm bóp”, ông Tường không thấy trong người tiến triển gì, nên “xin” Mỹ Dạ cho ra Huế. Rồi Lâm Thị Mỹ Dạ “cõng" Tường đi Sài Gòn , Hà Tây… Vất vả mấy cũng chịu đựng, chỉ mong mỏi  Hoàng Phủ lành bệnh.

Cuối năm 2002, Lâm Thị Mỹ Dạ nghe tin đồn ở vùng núi Khe Sanh, Quảng Trị có một “thầy” chữa lành rất nhiều người bị liệt không đi được, chỉ trong một thời gian ngắn. Dạ mừng quýnh, mấy lần nhờ bạn bè lên Khe Sanh thăm dò. Quả có một  “thầy"  như thế thật. Thế là Mỹ  Dạ lại “cõng” ông Tường đi chữa bệnh lần thứ tư.

Lại một chuyến vất vả “ chuyển nhà lên Khe Sanh”. May mà có ở Văn hóa - Thông tin Quảng Trị đưa xe vào  Huế chở cả nhà và UBND huyện Hướng Hóa dành một phòng ở nhà khách của Huyện cho ông Tường nằm chữa bệnh, không thì không biết tá túc ở đâu ở thị trấn miền núi ấy.

Tôi lên Khe Sanh thăm ông Tường và được mục  kích “thầy “đang chữa bệnh. “Thầy” tên là Phạm Thị Gái, 50 tuổi, có 11 đứa con, khuôn mặt dễ thương, sáng sủa.

Điều lạ lùng là “Thầy" Gái không biết một chữ bẻ đôi, làm nghề quét rác chợ Khe Sanh, lại đi chữa bệnh cho “một bồ sách khổng lồ” như Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Nghe nói bà Gái đã chữa cho rất nhiều bà con người dân tộc Vân Kiều liệt 3 năm rồi vẫn lành, đi lại được, có người chết rồi lại sống lại. Tôi hỏi “ Răng mà tài rứa?”. “Thầy” Gái cười, bảo :” Em mù chữ không biết thuốc men chi mô, đây là làm theo “lệnh trên", “trên” phù hộ là được!”. “Trên” ở đây có nghĩa là thần linh.

Bà Gái chữa bệnh theo kiểu dân gian: Chích, lễ và xông giác. Ba giờ chiều là chích lễ, giác. Những mảnh thủy tinh đập vỡ ra từ bóng đèn Hoa kỳ, được nhúng rượu “quốc lủi“ Khe Sanh thay cho cồn, rạch vào da huyệt, đốt giấy bỏ vào ống giác rồi úp lên chỗ rạch. Dân gian gọi đó là "bầu giác”. Máu màu đen tức là “máu độc”, cần phải  hút cho hết. Ông Tường toàn máu màu đen.

Thầy Gái giác hút khắp người đến hai tháng vẫn chưa hết. “Thầy” Gái còn chích lễ ở đầu lưỡi ông Tường. Ông Tường bảo đau lắm, nhưng phải chịu đựng. Hai đứa con gái Bê Líp, Bê Lim và Mệ, ai cũng hoảng sợ khi biết “thầy” châm mũi thủy tinh vào lưỡi ông Tường, mà chẳng có sự bảo hiểm nào...

Sau chích là xông. Khi xông, Thầy Gái cùng chui vào chăn để... “ bấm huyệt chân” cho ông Tường.

Tôi theo dõi, một lần xông 30 phút.” “Trò Tường” mặc quần đùi, mồ hôi ròng ròng. “Thầy Gái” mặc đồ bộ, ướt như tắm. Chữa bệnh dân gian đơn giản thế, mà theo ông Tường thì rất hiệu quả.

Ông Tường kể : “Toàn thân bên trái của mình trước đây nặng lắm. Bây giờ thì nhẹ nhõm hẳn. Có cảm giác như một khối bê tông bị đập bể!”.

Quả thực, ông Tường sau 5 tháng "Thầy" Gái ở Khe Sanh chữa chạy, giọng nói đỡ ngọng hơn, mặt mũi bình thường lại, lại có thể tự mình lật ngồi dậy trên giường, hoặc đứng bằng hai chân trên sân tới năm phút, lại có thể vung tay đến năm bảy lần khi Mỹ Dạ hô…

Và ông Tường lại làm thơ về Khe Sanh, về người Vân Kiều : "Tâm hồn Vân Kiều vốn thế/ Giúp đời chẳng quản công lênh...”. Đặc biệt , sau chuyến “thượng sơn” gặp "Thầy" Gái ấy, Ông Tường viết rất khỏe và đã tự  ngồi xe lăn viết viết thư cho con gái,  không nằm đọc cho Dạ, hay Mệ chép như trước nữa.

Mới tháng 10 dương lịch mà Ông Tường đã viết tới 10 bài báo Tết Giáp Thân theo đơn đặt hàng. Đây  là chuyến Mỹ Dạ đưa ông Tường đi tìm thầy thành công nhất. Nhưng rồi bệnh đâu hoàn đây, anh Tường không thể tự đứng lên được.

Cuối năm 2004, Lâm Thị Mỹ Dạ nghe báo chí viết về khu vườn lạ kỳ, chữa được bệnh ở Long An, chị đã tức tốc  vào Sài Gòn, rồi tìm đến tận Khu vườn ở ấp Đức Lập Thượng, Long An để khảo sát. Nữ thi sĩ của chúng ta đã chứng kiến rất nhiều người, kể cả cố Đại tướng Mai Chí Thọ, nhờ khu vườn mà khỏi hoặc thuyên giảm bệnh.

Mấy ngày sau, một chuyến đi Long An cho Hoàng Phủ Ngọc Tường được tổ chức. Tại ga Huế,  tôi và nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch, võ sư  Nguyễn Văn Dũng, nhà văn Trần Thùy Mai... tiễn đưa ông Tường, chụp ảnh chung với ông Tường và Dạ bên chiếc xe lăn để kỷ niệm, với hy vọng ông Tường sẽ không bao giờ ngồi xe lăn nữa.

Ở vườn  Đức Lập Thượng lạ kỳ đó gần ba tháng, Hoàng Phủ đã hàng chục lần tự đứng một mình không vịn đến năm phút.

Lâm Thị Mỹ Dạ mừng quýnh. Chị tin rằng, nếu  ở đây  một thời gian nữa chắc Hoàng Phủ Ngọc Tường sẽ chống gậy đi được.

Nhưng rồi  chính quyền địa phương có lệnh giải tỏa vì cho là “mê tín dị đoan”. Mỹ Dạ đã chạy khắp nơi, gõ cửa những người có quyền thế để kêu cứu cho chồng mình được tiếp tục chữa bệnh ở  Khu vườn Đức Lập Thượng ấy, nhưng  vô hiệu. Thế là ước mơ được đi đứng của ông Tường không thực hiện được.

Năm Tân Mão này, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tuổi 75. Có lẽ Tường không bao giờ  tự mình đứng ngồi, đi lại được nữa.

Hiện nay, hai con gái, cô lớn làm việc ở Sài Gòn, cô út nhà thơ lấy chồng định cư ở Mỹ. Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ vẫn hàng ngày chăm sóc chồng , như chăm một đứa trẻ…

Dù tuổi cao, nhiều bệnh tật xuất hiện, Mỹ Dạ vẫn đứng vững để cho "anh tựa vào em". Vâng!. Duyên là phận. Hai trái tim thơ biết đùm bọc nhau vượt qua tai ương cuộc đời, âu đó cũng là một bằng chứng của tình yêu, hạnh phúc giữa cõi đời cay cực này...
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
NHÀ VĂN HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG VÀ NHÀ THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ (12/2011)

2 vợ chồng Nhà văn

Nghe Nhà văn kể chuyện ngày xưa


 Tuyển tập mới của Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ


Nhà báo Minh Tự, Trưởng Đại diện Báo Tuổi trẻ TP bên Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường


Ngẩn ngơ nghe Nhà thơ kể chuyện ngày... chưa xưa



Nhà thơ viết lưu bút, tặng sách cho MTH

Lưu bút

Vất vả, lo toan nhưng vẫn không xóa nổi nét duyên của Huế - Xin cảm ơn Nhà thơ

SỰ ÍCH KỶ CỦA LÀNG BÁO.

Nguyễn Quang Lập - Mình rất cảm kích bài viết "Vì sao CA TP.HCM chưa bắt Hoàng Khương?" của Phan Lợi (Cũng không rõ là Phan Lợi hay Phan Muôn), nói về trường hợp thu Thẻ Nhà báo và đình chỉ công tác Nhà báo Hoàng Khương: “Xung quanh việc này Báo CAND và ANTG đăng nhiều bài chỉ trích cách thức tác nghiệp của Hoàng Khương, đồng thời đề nghị xử lý nghiêm hành vi gài bẫy CSGT của Nhà báo này, cho rằng đã cấu thành tội đưa hối lộ.”

Mình rất nhất trí với phân tích của Phan Lợi là, "Theo cách “lên tiếng” này, khả năng sau khi được Báo CAND “dọn đường”, Cơ quan CSĐT Công an TP. HCM sẽ khởi tố bị can (và có thể bắt) Nhà báo”.

Trước tình hình khẩn cấp như vậy, đáng lẽ Hội Nhà báo và Báo Tuổi trẻ phải ra sức tìm hiểu thực hư trước khi quyết định thu hồi Thẻ Nhà báo và đình chỉ công tác Hòang Khương, thì họ đã làm rất nhanh, dường như ngay tức thì đẩy Hoàng Khương đến chỗ mất việc mất nghề. Nói như Phan Lợi là đã "rất nhanh ghi bàn”, thảm hại thay.
Mình không quen Hoàng Khương, chưa gặp anh lần nào, cũng ít khi đọc bài của anh viết. Nhưng vì cùng hành nghề với nhau mình thấy xót xa quá.

Cái ông Phó Chủ tịch Hội Nhà báo bảo rằng: “Khi anh phát hiện ra có hành vi đưa, nhận hối lộ giữa người thi hành công vụ và người vi phạm, thì cách tốt nhất là anh nên trình báo cơ quan có thẩm quyền, để bắt quả tang và xử lý cả người đưa và nhận hối lộ”... Hi!. Hi!. Thế thì còn gì là Nhà báo?.

Ông này có lẽ chưa bao giờ đi viết bài chống tiêu cực. Cái điều mà ông nói là nghĩa vụ của một công dân.

Nhà báo ngoài nghĩa vụ công dân còn là nghĩa vụ của Nhà báo, họ phải bí mật đến phút cuối cùng trước khi bài báo được tung ra.

Nếu Nhà báo biết việc tiêu cực mà đi trình báo với  cơ quan có thẩm quyền, thì đảm bảo đến 99% phần trăm không bao giờ bài báo được tung ra nữa.

Đó là một sự thật mà bất kì ai hành nghề báo đều biết, ở ta hay thế giới đều thế cả. Người ta bí mật cho đến khi bài báo được tung ra, là để thực hiện đồng thời cả hai nghĩa vụ: Công dân và Nhà báo.

Về nghĩa vụ công dân, nói như  Phan Lợi rất đúng: “Tố giác của công dân” và “Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng”, có giá trị pháp lý ngang nhau, không cái nào “to” hơn cái nào”. 

Hơn nữa, tố giác công dân trên báo chí, bao giờ cũng hiệu quả gấp nhiều lần tố giác cho ai đó, ở nơi nào đó.

Bởi vì đó là sự tố giác công khai và minh bạch nhất. Không một Nhà báo nào ngu xuẩn đến nỗi, thấy tiêu cực lại đi tố giác kiểu như ông Phó Chủ tịch Hội Nhà báo đã nói cả, ngoài trừ đây là việc nhỏ không đáng viết một bài báo.

Đối với các Nhà báo đi chống tiêu cực, thì vấn đề là mục đích chứ không phải hành vi.

Để tóm gọn được một vụ tiêu cực, rất nhiều khi Nhà báo phải "bạn bè, cảnh hẩu”, phải ăn nhậu chơi bời, thậm chí có thể tham gia vào những việc tiêu cực kia, kể cả việc nhận và đưa hối lộ.

Đấy là việc nguy hiểm nhưng vì mục đích trong sáng người ta dám làm và dám chịu trách nhiệm. Cũng như hoạt động Tình báo vậy, nếu không ăn nằm với địch, không khen địch chửi ta, thì làm sao có thể có được những nguồn tin quí giá?..
Thực hư việc Hoàng Khương là thế nào, anh ta chống tiêu cực hay lợi dụng việc chống tiêu cực để trục lợi, cần phải xem xét một cách hết sức cẩn trọng, bởi vì nó hệ lụy đến sinh mạng chính trị và cuộc sống của một nhà báo.

Cái cách "sút tung lưới" đồng nghiệp quá nhanh, của Báo Tuổi trẻ TP.HCM và Hội Nhà báo khiến người ta nghi ngờ: Không biết mấy ông này làm báo hay làm bồi bút, bảo vệ đồng nghiệp hay bảo vệ cái ghế của mình?. Và các Nhà báo nữa, hơn 2.000 Nhà báo mà chỉ có vài người lên tiếng thôi sao?..

"Để khác với con vật, con người không thể im lặng chỉ vì miếng ăn” - Hôm nay, Nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã nói với mình như thế.
---------------------------------------------------------------------------------------------------------
* Hình ảnh trong bài chỉ có tính chất minh họa, không liên quan đến nội dung bài viết của tác giả NQL

13 tháng 12, 2011

TÀU CÓ DÂN TỘC "CHOANG", MÌNH CÓ DÂN TỘC... "KHIẾP"!..

Mai Tiến Nghị - Trung đội mình có hai tay người dân tộc Tày Cao Bằng tên là Hà Văn Tiết và Ma Văn Thắng.

Các hắn rất ít chuyện trò với bọn mình, nhưng được cái nết hiền lành chịu khó. Anh em mang nặng thì sẵn sàng giúp đỡ, ốm đau thì cơm cháo tận tâm. Những khi chỉ mình hai hắn với nhau, thì nói chuyện với nhau cả ngày không biết chán, líu lo như chim, nghe cũng vui vui.

Đặc biệt Hà Văn Tiết còn biết tiếng Lào. Chả biết hắn học bao giờ.

Hôm tiếp xúc với dân Lào ở Binh trạm 34, chàng Tiết nhà ta còn hung hăng lên phiên dịch. Chả biết hắn dịch tiếng Việt ra tiếng Lào như... thế nào, nhưng đến khi ông người Lào nói, thì hắn dịch ra tiếng Việt như sau: “Ló bảo thế lày: Kính thưa thằng Thủ tướng bộ đội...”, làm bọn mình cười vãi nước mắt nước mũi, Tiết không giận, cũng đứng nhe răng cười.

Còn Ma Văn Thắng thì cứ khăng khăng nói với mình: “Họ tao là họ Mai!”. Mình bảo: "Họ tao làm gì có thằng... ma như mày!".

Một lần, hắn hỏi mình: “Viết thư bằng bút bi đỏ có được không?”. Mình bảo: “Được chứ sao không!. Trông càng đẹp, tình cảm càng dạt dào!”.

Lạy giời!. Vậy mà hắn viết thư cho vợ bằng mực đỏ thật. Hì hục gần buổi sáng thì viết xong thư cho vợ, hắn đưa lên ngắm nghía rồi gọi mình đến: “Đẹp thật mày ạ!. Trước tao không biết, cứ đi viết bằng mực xanh!”.

Mình hoảng hồn vội bảo: “Tao nói đùa đấy!”. Hắn đỏ mặt, xé ngay cái thư rồi hằm hằm bỏ đi.

Hôm sau hắn chửi mình: “Mày tưởng mày là người Kinh mà khôn à?. Mày chê tao người dân tộc à?. Tao nói cho mà biết nhá!. Bác Hồ bảo Dân tộc anh hùng, chứ có bảo... người Kinh chúng mày anh hùng đâu à!”.

Mình xanh mặt, xin lỗi hắn rối rít. Nghe xong, hắn hì hì cười đắc ý lắm, còn móc thuốc rê cho hút.

Cả Tiết và Thắng đều rất thích văn nghệ. Mình được các hắn quý, vì hát cũng tạm và rất hay hát.

Những ngày giời mưa ở Hậu cứ, hai tay Tiết và Thắng đứng ở hai đầu lán Trung đội è è thổi kèn lá “giao duyên”.

Buồn đến nẫu ruột mà không ai dám nói gì, vì sợ các hắn giận.

Đánh nhau thì thôi, ở Hậu cứ thì một tuần, có một tối sinh hoạt văn nghệ Đại đội.

Lính mấy chục người, quanh đi quẩn lại cũng mấy bài, hát đi hát lại.

Chính trị viên Mạo, dân Bắc Ninh thì lần nào cũng chỉ có bài Quan họ theo điệu “Gió đưa cây cải”. Sau thành quen, cánh mình cứ thấy Chính trị viên tham gia sinh hoạt, thì đề nghị: Thủ trưởng hát bài “Gió đưa cây cải vào soong”...

Còn tay Sửu người Nghệ An, lần nào cũng khoe giọng tiếng Tàu qua bài “Ra khơi nhờ tay lái vững”:

“Tá hải giang xing kháo tua sâu
Oản ù sâng tì quó thi thai dang
Uy li chứ xeng ủ mèo choàng
Càn cưa ming tâu chư mao trửa tung ti sư xẻng
Uy pu lì a lua ti quo thi hải giang
Cưa ming xỉn trung li pú khải cung sán tảng
Mao trửa tung ti sư xeng sừ púa lúa thi thai dang”.

Hắn hát nhiều đến nỗi, trong Đại đội thằng nào còn... sống đến hôm nay, chắc cũng còn thuộc.

Lần nào mình cũng phải hát. Ít nhất là 2 bài. Anh em thích lắm. Nhiều lúc mình cũng thấy râm ran, mũi phồng như cà chua.

Trong một lần, trái với thường lệ, anh em giới thiệu mình hát trước. Mình đứng lên, cố tìm trong đầu xem còn bài nào mới thì hát, chứ hát lại thì chán lắm. Nhớ mãi mới ra, mình hát điệu chèo “Quân tử vu dịch”, trước khi hát còn giới thiệu đây là đoạn Dương Lễ tiễn Châu Long trong vở chèo "Lưu Bình Dương Lễ":

"Thiếp đâu dám quên tình đôi lứa
Tưởng những lúc mặn nồng hương lửa
Nhớ những lúc môi kề má tựa
Ngao ngán thay cảnh vợ xa chồng
Gió lạnh đêm đông, lẻ loi cô phòng
Ngày xanh mòn mỏi, vào ngóng ra trông
Trăm năm chút nghĩ đèo bòng
Xa nhau ai có thấu lòng cho ai”

Cả Đại đội lặng nghe, nhìn Thắng thấy hắn rơm rớm mắt…

Tất cả vỗ tay rầm rầm khi mình hát xong, rồi gào lên: “Hay lắm! Hay lắm!… Hát lại!. Hát lại đi!…”.

Mình đang định hát lại, thì Chính trị viên xua tay: “Thôi!. Bây giờ người khác hát!”..

Sửu ta lại lên: “Tá hải giang xing kháo tua sâu, oản u sâng…

Chính trị viên vỗ tay, rồi còn bảo: “Vỗ tay! Vỗ tay đi các đồng chí!. Hát hay lắm!”. Nhưng lính nghe đến thuộc rồi, nên chỉ vỗ tay vài cái chiếu lệ.

Sinh hoạt văn nghệ xong, thấy có lệnh triệu tập cán bộ Trung đội lên hội ý gấp. Mình đã mắc võng ngủ, thì thấy Trung đội trưởng lay dậy. Đành mắt nhắm mắt mở, theo anh ta ra ngoài.

Trung đội trưởng hỏi: - Tối nay cậu hát cái bài ấy là có ý đồ gì?.

Mình ngớ người: - Bài hát chèo, văn công với đài Hà Nội vẫn hát. Ý đồ gì đâu!.

Trung đội trưởng bảo:

- Cậu phải cẩn thận đấy nhá!. Phải xác định lại lập trường tư tưởng!..

Mình chả hiểu tại sao lại “phải xác định lại lập trường tư tưởng”, nhưng không dám hỏi thêm.

Ngày hôm sau cứ canh cánh lo. Đợi trưa vắng người, khều thằng liên lạc Đại đội ra hỏi. Thằng này bảo:

- Tối qua Chính trị viên triệu tập họp Ban Chỉ huy vì chuyện của mày đấy!.

- Chuyện tao làm sao?.

- Mày ngu!. Chính trị viên bảo xem lại tư tưởng của mày, rất có thể đã dao động tư tưởng, để kẻ địch lợi dụng. Hát như thằng phản động “ngao ngán thay cảnh vợ xa chồng”, làm mất ý chí chiến sĩ!.

Mình vã mồ hôi hột. Tay liên lạc còn bồi tiếp:

- Ông ấy bảo cái bài hát... "Quân tử mắc dịch" là bài hát phản động. Chiến sĩ phải hát như thằng Sửu mới hoành tráng, mới khí thế chói lọi!. Ông ấy giao cho Trung đội theo dõi mày đấy!. Cẩn thận nhá!..

Lại được nhắc “phải cẩn thận”. Ối giời ơi!..

Tuần sau, trước khi sinh hoạt văn nghệ, Ma Văn Thắng bảo mình: - Tối nay mày lại hát cái bài… cái bài gì mà có "i hi hi" ấy nhá. Tao nghe hay lắm!. Tao thích lắm!..

Mình bảo: - Không dám hát nữa đâu!. Vì sợ cấp trên lại bảo "dao động tư tưởng"!.

Thắng chửi luôn: - Tư tưởng cái con củ cặc!. Sợ đếch gì!. Cứ hát nhá!…

Mình lắc đầu: - Khiếp rồi!..

Thắng ta bĩu môi: - Mày á?. Mày đếch phải dân tộc Kinh. Mày là thằng dân tộc... Khiếp!.

Ôi!. Vậy mình bị gán là thuộc "dân tộc Khiếp”.

Tối mai (14/12), thấy bảo có chương trình Văn nghệ “Láng giềng gần” Tàu Ta phối hợp trên ti vi. Nếu vậy, thế nào cũng có Tàu hát tiếng ta, ta hát tiếng Tàu.

Vậy là nhớ thằng Sửu hát tiếng Tàu, bài “Ra khơi nhờ tay lái vững” của Tàu. Và rợn người nhớ câu hát:

“Ta hải giang xing kháo tua sâu…

Rồi lại nhớ đến cái câu Ma Văn Thắng, gán cho riêng mình...

Ấy cứ lan man lằng nhằng thế. Mà sao bên Tàu, nó có cả dân tộc “Choang”…
--------------------------------------------------------------------------------------------------
* Hình ảnh chỉ có tính chất minh họa, không liên quan đến nội dung bài viết của tác giả MTN

TRẮNG ƠI LÀ TRẮNG

Buổi chiều, rất mệt mỏi và đau đầu, nhức mắt nhưng vẫn ngồi cười 1 mình khi nhìn thấy tấm hình quảng cáo kem đánh răng, mới được post lên Kho hình bác Mạnh Hải. Tấm hình này được chụp những năm 1967-1968, trên đường từ Sài Gòn xuống Biên Hòa. Thế mới biết, việc quảng cáo tấm lớn, chả phải bây giờ mới có. Nhìn ngộ quá, hén!. Bác nào đã sống Sài Gòn thời kỳ này, chỉ cho cả nhà biết chỗ nào, bây giờ với?..

VÌ SAO CÔNG AN TP.HỒ CHÍ MINH CHƯA BẮT HOÀNG KHƯƠNG?..

PV Hoàng Khương (giữa), nhận giải Báo chí TP.HCM 2010
Phan Lợi - Ngày 28/11, Công an TP.HCM có văn bản đề nghị “kiểm điểm và thu hồi thẻ nhà báo của phóng viên Nguyễn Văn Khương” (tức PV Hoàng Khương), người thực hiện bài “CSGT giải cứu xe đua trái phép”.

Hiện Ban Biên tập báo Tuổi Trẻ TP.HCM đã ra quyết định tạm đình chỉ công tác đối với phóng viên Hoàng Khương, đồng thời ngày 3/12 thông báo trên mặt Báo về việc này.

Trước đó, ngày 18/11, Công an TP.HCM khởi tố, bắt tạm giam cựu CSGT Huỳnh Minh Đức về tội nhận hối lộ và một cá nhân tên Hòa về tội môi giới hối lộ.

Được biết, kết quả trên xuất phát từ các bài viết trên Tuổi Trẻ (thứ Ba 5/7/2011, bài “Đồng tiền xóa sạch hồ sơ” và Chủ Nhật, 10/07/2011, bài “CSGT giải cứu xe đua trái phép”) của Hoàng Khương.
CSGT Huỳnh Minh Đức (phải) nhận 10 triệu

Theo nội dung bài viết ngày 5/7, 23g15 ngày 23/6, một xe đầu kéo va chạm với xe du lịch dẫn đến cả hai xe bị tạm giữ.

Hai cán bộ của Đội CSGT Bình Thạnh (trong đó có Huỳnh Minh Đức) được cử khám dấu vết.

Bài báo nêu rõ quá trình giải quyết vụ việc ông Đức hù phải phạt tài xế, giam bằng 2 tháng. Sau khi được “năn nỉ” ông Đức nói sẽ “nghiên cứu” lỗi nhẹ để không bị tước GPLX, không giam xe với giá: “Ba chai (3 triệu đồng: sếp chai, em chai, Lộc chai”).

Sau khi nhận tiền, ông Đức cười an ủi: “Coi như thua trận banh chứ có gì đâu”.

Còn theo bài viết ngày 10/7, ngày 23/4 Đội CSGT Bình Thạnh lập biên bản vi phạm đối với Hòa do điều khiển xe máy “độ” với các lỗi: điều khiển xe máy lạng lách đánh võng, gây rối trật tự… Ngay tại thời điểm bị lập biên bản, Hòa không xuất trình được giấy tờ xe, giấy tờ tùy thân.

Sau đó đương sự nhờ người móc nối Thượng úy Huỳnh Minh Đức và bị ông Đức hù: “Lỗi này phải đưa ra kiểm điểm trước Tổ Dân phố. Muốn “binh” phải đi đúng đường. Đưa biên bản coi rồi báo giá. Đưa tiền là lấy xe”.
Người móc nối nói đưa trước 10 “chai” (triệu) cho ông Đức và đếm tiền đặt trên bàn, ông Đức xếp lại ngay ngắn rồi đút túi và nói “chủ nhật đưa giấy tờ xe, khoảng thứ năm, thứ sáu lấy xe, khỏi ra Phường kiểm điểm”.

Đến 3/7 (Chủ nhật), ông Đức trả xe tại quán cà phê. Bài viết đăng kèm tấm hình ông Đức đang nhận tiền từ người môi giới (do Hoàng Khương chụp) và khẳng định việc trả xe là sai quy trình.

Đáng chú ý, tại quyết định khởi tố bị can Hòa, cơ quan điều tra nhận định: Hòa đã có hành vi móc nối nhận tiền của Tuấn và Nguyễn Văn Khương (Nhà báo Hoàng Khương), đưa cho Đức giải quyết trái quy định đối với xe vi phạm giao thông và đua xe trái phép.

Xung quanh việc này Báo CAND và ANTG đăng nhiều bài chỉ trích cách thức tác nghiệp của Hoàng Khương, đồng thời đề nghị xử lý nghiêm hành vi gài bẫy CSGT của nhà báo này, cho rằng đã cấu thành tội đưa hối lộ.

Theo cách “lên tiếng” này, khả năng sau khi được Báo CAND “dọn đường”, cơ quan CSĐT CA TP HCM sẽ khởi tố bị can (và có thể bắt) nhà báo.

Dĩ nhiên, khi cơ quan điều tra thực thi công vụ thì không ai có thể cản, bởi theo BLTTHS hoạt động của họ là độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

Tuy nhiên điều khó hiểu là tại sao cơ quan điều tra không thực thi luôn quyết định tố tụng với Hoàng Khương, sau đó thông báo đến Ban Biên tập Tuổi Trẻ và Cục Báo chí về quyết định của mình, để hai nơi này automatic đình chỉ công tác và thu hồi thẻ nhà báo (theo Luật) mà lại làm động tác “chuyền bóng” để các cơ quan kia “sút” trước?..

Thật hay là Ban Biên tập Tuổi Trẻ đã rất nhanh “ghi bàn”…
Tuy nhiên điều rất đáng quan tâm là ý kiến của một Phó Chủ tịch Hội Nhà báo VN (đăng trên báo CAND hôm 6/12).

Theo ý kiến vị này thì Hoàng Khương biết việc CSGT (Huỳnh Minh Đức) tiêu cực mà lại không thực hiện nghĩa vụ công dân tố giác đến cơ quan điều tra là không công bằng, công tâm.

Cách vị này nói “Khi anh phát hiện ra có hành vi đưa, nhận hối lộ giữa người thi hành công vụ và người vi phạm thì cách tốt nhất là anh nên trình báo cơ quan có thẩm quyền để bắt quả tang và xử lý cả người đưa và nhận hối lộ”, có lẽ cũng giống như quan điểm nhiều cán bộ Công an, khi trao đổi với các phóng viên trẻ và phần nào cũng thuyết phục được một số người.

Hơn thế ý kiến của một vị Lãnh đạo Hội nghề nghiệp còn có thể tác động rất lớn đến suy nghĩ, cách thức hành nghề của nhiều Hội viên…

Thế nhưng xét kỹ quan điểm này là không chính xác, bởi khi Hoàng Khương đăng tải hành vi nhận hối lộ của Đức lên mặt báo nghĩa là Khương đã thực hiện việc báo tin tội phạm theo quy định tại Điều 100 BLTTHS.

Theo điều luật này thì “tố giác của công dân” và “tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng” có giá trị pháp lý ngang nhau, không cái nào “to” hơn cái nào. Hoàng Khương là nhà báo và vị này đã báo tin tội phạm thông qua việc thực hiện nhiệm vụ của mình, nên không thể phê phán anh ta.

Và có lẽ vì lý do này chính cơ quan điều tra còn lưỡng lự trước khi thực thi quyết định tố tụng?..

Nguồn: Quê Choa
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
* Hình ảnh CSGT Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Quảng Bình nhận hối lộ, do PV Hoàng Khương ghi lại.

"THẰNG THUẾ NÓI GÌ CHẢ ĐÚNG!"...

Đinh Vũ Hoàng Nguyên - Có thằng bạn học Đại học Mỹ thuật Công nghiệp cùng mình, giờ chuyển sang đi buôn ở Lạng Sơn.

Nó mời gã Trưởng phòng ở Cục Thuế của một tỉnh mà Công ty nó hay vận chuyển hàng qua, đi nhậu.

Trong cuộc nhậu, gã Trưởng phòng này kể ở tỉnh lão có đền thờ ông Lý Thường Kiệt ba lần đánh quân Nguyên, ai đi buôn thì nên về đấy thắp hương.

Thằng bạn mình nói:

-Trần Quốc Tuấn mới đánh quân Nguyên chứ!.

Gã Trưởng phòng Cục Thuế nói:
- Mày nhầm rồi!. Là Lý Thường Kiệt. Lịch sử mày hiểu thế đéo nào bằng anh!.

Thằng bạn mình có tí rượu vào, mặt sưng lên, vẻ muốn cãi lắm.

Mình mới góp mồm:

- Anh nói đúng rồi!. Lý Thường Kiệt sai Tư Mã Ý đánh Thoát Hoan, Thoát Hoan còn phải chui vào ống đồng chạy!.

Gã Trưởng phòng Cục Thuế nhìn thằng bạn mình, đắc thắng:

- Đấy!. Thấy chưa?. Mày hiểu thế đéo nào bằng anh về Sử!...

Lúc đi đái, thằng bạn mình nói với mình:

- May mày chen vào, chứ tao cãi.

Mà nhỡ thằng ấy thù vặt, thì có ngày mình ôm mồm vì ông Lý Thường Kiệt!.

Cái loại mình đi buôn, thằng Thuế nói đéo gì chả đúng!..
---------------------------------------
* Hình ảnh trong bài viết chỉ có tính chất minh họa, không liên quan đến nội dung bài viết của tác giả ĐVHN.

* Hình ảnh sưu tầm trên mạng.