9 tháng 9, 2011

THÁNG 9 NÀY ĐỎ RỰC CỜ HOA

Tháng 9 này, đường đỏ rực cờ hoa
Mai Thanh Hải Blog -Cuối tháng 8, đầu tháng 9 này, mình chạy như ngựa: Hết miền Trung ruột thịt, lại về biển miền Bắc nước đục ngầu, mài dao cả năm đợi tháng chém đẹp và chuyến cuối (tính đến bây giờ) là phi lên Tây Bắc căn cứ địa kháng chiến với Điện Biên Phủ "nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng", Sơn La thủy điện cùng "Người Châu Yên em bắn máy bay", con cháu là các CSGT anh hùng Núp thời nay, tiếp nối truyền thống, bắn tốc độ rát rạt suốt QL6.

Dặm dài đất nước, cứ thấy quen quen cái gì đấy mà không thể cắt nghĩa nổi. Mãi đến hôm vừa rồi, từ huyện Điện Biên Đông trở về Hà Nội, ngồi bệt dọc đường, trong thị trấn Tuần Giáo (Điện Biên) nghỉ hút thuốc, nhìn cả hàng thanh sắt màu nâu xỉn, cắm xuống đất đều tăm tắp và bẻ quặp ra phía trước, làm chỗ treo cờ Tổ quốc, mới "à" lên thanh thản: "Tháng 9 này, đâu cũng đỏ rực cờ hoa"... 

Để ý cách treo cờ năm nay, cũng có khối chuyện để nói: Có đến 99% pa nô - áp phích kèm với quảng cáo cho một doanh nghiệp - dịch vụ nào đó, giống như "bia kèm lạc".

Trong đó, nhiều nhất là quảng cáo các dịch vụ của anh "Đại tướng" Vịt teo, từ Home phone "Điện thoại của mọi nhà", cho đến D-com 3G "Mang Internet cho mọi người và mọi nhà", từ quảng cáo mẫu điện thoại "sành điệu như hàng hiệu" cho đến dịch vụ "Gọi 1 ngày, chỉ mất 1.000 đồng"...

Ttiếp đến là của TCty Bia rượu nước giải khát Sài Gòn với những câu slogan quen thuộc "Dù bạn không cao nhưng người khác cũng phải ngước nhìn", "Không bóng bẩy, không ồn ào, không cầu kỳ, không cần khoa trương - uống thì hiểu"... cho đến những câu "kích cầu" đúng thời bão giá, ai muốn thay đổi cuộc đời mà mớ rau, cân gạo lên giá hàng ngày, cũng thích thú ước ao, ví như câu "Bật nắp Sài Gòn, lên đời bất ngờ"...

Quyết không để bạn "Nam tiến" lấn át, TCty Bia rượu - Nước giải khát Hà Nội năm nay cũng "học hành" giành lại thị trường, bằng cách bon chen quảng cáo dưới các pano - áp phích đỏ lòe, với những slogan đọc xong, chả biết khóc hay cười: "Hà Nội bia - Uống 1 ly, say gấp 3 lần bia ngoại"...

Hay slogan của Halida khiến người ta vừa uống vừa hô khẩu hiệu, nước mắt ướt đầm nhớ lịch sử: "Hào khí ngàn năm, rạng danh chất lượng"...

Không thể kém phần trong việc tranh thủ tý cờ đỏ - áp phích vàng để quảng bá, chú Ngân hàng Lông vịt và phát triển lung tung của nguyên "Cậu bé chăn trâu" Lê Văn Sở cũng bon chen kịch liệt ở các huyện thị miền núi, đồng bằng miền Trung.

Phong trào "quảng cáo dưới cờ" này, phát triển rộng khắp và phổ cập đến mức, mình chui vào đường làng của xã biển, nghèo nhất nhì tỉnh Hà Tĩnh, cũng thấy mấy tấm áp phích, phía trên hô hào khẩu hiệu muôn năm, phía dưới vẫn dành tý chân, để quảng cáo cho doanh nghiệp đóng gạch, ở ngay trong thôn...

Việc quảng cáo là một nhẽ, thứ mình băn khoăn nhất là nội dung các khẩu hiệu và cách treo khẩu hiệu. Hôm qua thị trấn Hồ Xá (Vĩnh Linh, Quảng Trị) và thị xã Cửa Lò (Nghệ An), mình đã dừng xe, tỷ mẩn đi bộ cả km, đọc cho hết (1 km đó chỉ là 1 trong nhiều km rực đỏ) nội dung các khẩu hiệu, bởi bạn mình bảo: "Chữ đâu mà lắm thế, vài mét lại có khẩu hiệu. Đi qua mấy đoạn này, nhức hết cả mắt!"...

Té ra, chả có khẩu hiệu nào mới cả, toàn những câu quen thuộc từ bao nhiêu năm qua. Cái mới bây giờ, có chăng là các câu khẩu hiệu được sử dụng ở từng thời điểm, ngày kỷ niệm hoặc lĩnh vực khác nhau, dịp này được tập hợp lại, khoe ra bằng hết, cho thiên hạ chiêm ngưỡng...

Bạn mình bảo: "Cứ san sát, đỏ rực thế kia. Mấy hôm nắng mưa là bạc phếch, tơi tả chữ và lại làm mới. Phí quá!". Mình lườm ngay: "Phí là phí thế nào! Công tác tuyên truyền cổ động phải rầm rộ, hết sức như thế, mới đập vào mắt nhân dân và khiến nhân dân phải đọc, phải xem và dĩ nhiên, phải quán triệt!". Nói là nói thế, nhưng với mình, đi qua những đoạn này, có thách kẹo cũng chẳng dám đọc. Đang lái xe giữa đường mà hóng đọc từng khẩu hiệu, không đâm vào vỉa hè - lề đường thì cũng phi vào người khác. Lúc nằm lăn ra rồi, mới thấy thiệt thân!..

Mình nghĩ ra rồi: Hoặc là dừng xe để đọc hoặc bắt người ngồi sau tanh tách chụp hộ, để tối hoặc lúc nào rỗi rãi thì đọc lại. Nếu không, để lúc khác. Tháng 9 năm nào, chả đỏ rực cờ hoa... 
------------------------------------------------------------------------------------------------

Thị trấn Tuần Giáo, Điện Biên

TP. Điện Biên Phủ (Điện Biên)

xã Cẩm Nhượng, huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh

Thôn Chùa, xã Cẩm Nhượng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh


Thị xã Cửa Lò, Nghệ An

"Mẹ khỏe, con ngoan..." đứng đầu dãy khẩu hiệu

Hồ Xá, Vĩnh Linh, Quảng Trị

Sau biển cấm là... nghiêm chỉnh

3 màu

kèm khẩu hiệu


8 tháng 9, 2011

HÂM CU ĐƠ

Cu Đơ và Hâm Đơ sinh đôi, giống nhau như đôi tông Lào. Lạ lắm nhé!. Cu Đơ ốm, thì kiểu gì Hâm Đơ cũng đi Bệnh viện. Kinh niên 30 năm nay.

Một ngày, Cu Đơ lấy vợ, tên Thị Xoan, xinh nhất làng. Hâm Đơ cũng nằng nặc đòi lấy, dù chưa có mảnh tình giắt sịp.

Song thân, họ hàng tá hoả tam tinh. Hâm Đơ dọa: "Không lấy vợ cho tôi là không xong!", lại đá mắt nhìn Cu Đơ bảo Thị Xoan: "Liệu hồn, xểnh ra là tôi... chén đấy!".

Chết thật! Chả biết Hâm Đơ dọa thật hay giả, nhưng hai anh em giống nhau như đôi tông Lào thế kia, biết đâu đấy, nhỉ?..

Hai anh em ở chung nhà với song thân già cả. Ngoài việc đồng áng cấy cày, còn tranh thủ buôn gà ngoài chợ huyện. Làm ăn ngon phết.
Thị Xoan ngày càng phởn, tơ nõn như gái hôm rằm.Phải tội 5 năm chả thấy chửa đẻ. Hâm Đơ cũng không thấy dọa dẫm chuyện cưới xin, hay... đánh chén Thị Xoan.

Ngày đẹp giời, mỗi Hâm Đơ bán gà chợ huyện. Cu Đơ chở Thị Xoan đi viện. Về, thấy Thị Xoan ngồi bậu cửa rưng rức khóc, Cu Đơ bó chân nghiêng người, nằm kiểu tôm càng hấp bia, úp mặt vào tường.

Song thân hỏi: "Sao? Sao?", cấm thấy nói. Hâm Đơ điên, gắt um nhà.

Ngày đẹp giời, mỗi Cu Đơ bán gà chợ huyện. Hâm Đơ ở nhà cất gà, nhồi bánh đúc. Thị Xoan ra bậu cửa ngồi tỉ tê, xỉa ra tờ giấy bảo: "Xem này! Xem này!". Hâm Đơ xem xong, khạc ngay bãi nước bọt vào bu gà đang quang quác, chửi đổng: "Đàn ông mới chả đàn ang, như buồi!".

Thị Xoan ngày càng đẹp tợn, lại hay lượn lờ sinh hoạt với đám giai làng, già cả lẫn non tơ.

Song thân nhà chồng ngăn không được, mắng không xong, lúc nào cũng lầm bẩm bóng gió: "Gái có chồng mà chả lo việc nhà, cứ phởn phơ lo việc thiên hạ".

Chán, đi lại xui Cu Đơ quát nạt, nhưng lại bị Cu Đơ quát lại cho là "già cả, lắm nhọt".

Hâm Đơ chả nói gì, cần mẫn cất gà, nhồi bánh đúc, thi thoảng lại lé mắt trông ngang. Chả biết nhìn gà hay nhìn ai.

Ngày đẹp giời, mùa hạ, nắng cực. Gà chết tiệt vì dịch. Việc bán buôn thôi xong.

Hai thân già lắm nhọt, hai đôi tông Lào tráng niên, một thân đàn bà phơi phới, chỉ biết ra ra vào vào, chè tàu thuốc lào vặt lo hai bữa cơm. Chán kinh người.
Ngày đẹp giời, mùa hạ, nắng cực. Mất điện. Hâm Đơ bảo: "Ngột quá! Lên tỉnh chơi, có điện thì về!". Đi liền ba hôm. Ngày về mua hẳn cho Thị Xoan một con Nokia đại hạ giá bốn trăm ngàn.

Thị Xoan chửa vượt mặt. Cả nhà vui như hội. Cu Đơ chăm vợ như chăm em bé, tỉ mẩn, cẩn thận, ân tình thôi rồi.

Hâm Đơ buôn gà cật lực, mồm lúc nào cũng hót sáo véo von, bất kể khi cân đếm hay nhồi bánh, cất gà.

Ngày đẹp giời, mùa xuân, đẹp phơi phới, Thị Xoan song sinh, hai giai, lại giống nhau như đôi tông Lào.

Phải mỗi cái tội chả đứa nào giống Hâm Đơ và Cu Đơ, hay ít ra cũng giống tí ti song thân già cả. Bỏ mẹ!

Song thân chết. Cu Đơ, Hâm Đơ tóc cũng đã bạc.

Ngày đẹp giời tạc thù với thịt gà rù cười oang oác, rằng: "Anh em mình đéo có gì!. Tự dưng lại có bánh mì...sinh đôi!".

Nguồn: Tuân Phẹt
------------------------------------
* Hình ảnh trong bài viết là hình tư liệu, phản ánh cuộc sống, sinh hoạt của người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam (giai đoạn 1898-1926) và chỉ mang tính chất minh họa, không liên quan đến nội dung bài viết.

7 tháng 9, 2011

ĂN CƯỚI - KẾT NẠP ĐẢNG - HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG?..

Đông Ngàn  - Sáng nay (/9/2011), đi lĩnh lương hưu, tạt vào chơi với mấy ông bạn thì chúng rủ đi ăn cưới con đứa bạn. Không được mời nhưng là chỗ quen thân, mình bèn tra tiền vào phong bì, rồi đi cũng chúng nó.

Điểm dừng là một Hội trường lớn ở phố Nguyễn Cảnh Trân, chú Công an áo xanh đứng gác ở cổng, nghiêm trang chỉ chỗ cất xe. Hội trường lớn của Ban Tuyên giáo Trung ương, bây giờ cũng cho thuê đám cưới.

Ông Chủ tịch một Hội, ngồi cùng tôi chỉ lên sân khấu chính: "Anh xem, trang trí thế này thì là đám cưới, hay kết nạp Đảng, hay Hội nghị Trung ương?". Tôi há hốc mồm nhìn lên: Cụ Hồ ngồi vêu, đói; cờ búa liềm buông thõng...

Chả biết nói thế nào. Ông Chủ tịch Hội bảo tôi: "Thì ra bây giờ, cứ có tiền là chỗ nào cũng vào thuê được. Kể cả chỗ linh thiêng quan trọng!".

(Mình chợt nghĩ láo lếu: Giá bây giờ lấy vợ, mình sẽ thử vào Chủ tịch Phủ thuê cưới trong đó. Có khi cũng xong!!!).
---------------------------------------
* Nguồn bài viết: http://dongngandoduc.multiply.com/photos/album/299/299#
* Mai Thanh Hải Blog đặt lại tít bài và trình bày lại hình ảnh minh họa của bác Đông Ngàn.

THƯƠNG VẬY MỚI LÀ THƯƠNG

Đàm Hà Phú - Sau buổi câu thất bát, chỉ được vài con cá nhỏ, chúng tôi tụ tập ở một căn chòi coi tôm để nhậu với anh chủ đầm, một người Bến Tre gộc, anh có bộ râu hùm rất đẹp.

Buổi nhậu có thêm vài người coi tôm ở các đầm lân cận, mồi thì có tôm nướng (dĩ nhiên), cá đối, cá tráp chiên dòn...  rượu trắng ở đây mằn mặn, cay nồng nhưng khá ngon.

Chúng tôi ngồi dưới tán một cây me già, tôi cứ thắc mắc mãi chẳng hiểu sao nó có thể sống khỏe mạnh, tỏa tán xum xuê ở vùng nước mặn này.

Có một anh nọ có bà con với anh chủ đầm, cũng là dân coi tôm, ghé qua cho mấy con cá, uống vài chén rượu rồi xin phép về, sợ lát nước xuống anh về không được. Anh này có gương mặt đẹp trai nhưng rất buồn, áng chừng trẻ hơn tôi vài tuổi, tạm kêu là anh Út.
Khi anh Út về, tôi có nói rằng tôi cảm thấy rất mến anh này, người hiền quá, chơn chất như một cây bần.

Mọi người cho hay: "A! Thằng Út hả!. Ừ! Nó hiền nhưng mà nổi tiếng khắp vùng này đó. Không phải tài giỏi gì, nó nổi tiếng vì nó lấy một con vợ Ếch!". "Vợ Ếch?" - Chuyện bắt đầu được kể.

Hóa ra cô vợ Ếch của anh Út không phải là một nàng công chúa bị lời nguyền của mụ phụ thủy biến thành con Ếch.

Cô gái, cũng tạm gọi là cô Út, là con gái một lão nông ở trong vùng, nghe đâu cũng từng duyên dáng mặn mà, nhiều người theo đuổi lắm. Hai người bén duyên nhau từ lúc còn đi học, anh Út qua mặt các chàng trai khác nhờ vẻ hiền lành, thiệt tình của mình.

Hết đi học, anh Út ra đầm phụ làm tôm, mấy năm đó làm tôm thất bát, cũng chỉ đủ ăn. Cô Út xin phép cha lên thành phố làm nghề hớt tóc, mỗi tuần vẫn về thăm nhà một lần, càng lúc càng xinh đẹp hơn.

Hai người nghe đâu cũng bắt đầu có chuyện, thấy anh Út buồn buồn, uống rượu đi ca hoài. Rồi một hôm nọ, cô Út về thăm nhà lúc nửa đêm, về cho ông già một cây vàng rồi từ biệt, nghe nói đi làm ăn xa với anh kép mới, dân thành phố.

Cô Út đi rồi thì anh Út càng buồn, ra ngoài đầm cất cái chòi ở luôn, gạo muối thì mua của mấy lái tôm, anh biền biệt không thấy về xóm nữa. Một câu chuyện phụ tình, tham phú phụ bần như bao câu chuyện tình boléro kinh điển khác. Vậy thì đâu có gì để nói.
Mấy năm sau, bỗng nhiên cô Út trở về nhà cùng với một cô gái khác, cô gái này chỉ tá túc nhà cô Út vài hôm rồi lên thành phố, nghe đâu cô đứng ra tố cáo một đường dây lừa đảo chuyên dụ dỗ các cô gái sang Cambodia làm nô lệ tình dục.

Cô Út có vẻ tàn tạ hơn, đau bịnh triền miên, ông già đưa lên thành phố khám bịnh rồi lại đưa cô trở về, không thấy chạy chữa gì.

Một đêm mưa gió (kể vậy cho nó thêm phần cao trào boléro), cô Út bỏ nhà ra ngoài đầm tôm sống hẳn với anh Út. Hai người sống với nhau như vợ chồng, không cần hỏi cưới, cũng chẳng thấy ông già cô Út nói gì, ai hỏi ông cũng chỉ im lặng, hoặc quấn thuốc hút để né câu trả lời.

Anh Út vui vẻ hơn, làm lụng cũng có vẻ phấn khởi, siêng năng hơn trước nhiều, cái chòi lúc nào cũng thấy có lửa khói chứ không lạnh lẽo như trước.

Những người lái tôm kể rằng cô Út bị bịnh nặng hung, chỉ nằm trong chòi, tuyệt không thấy ra ngoài, chỉ nghe tiếng cô ho sù sụ. Người ta đồn tùm lum, nhưng tất cả cũng chỉ là tin đồn, không ai biết chuyện gì.

Cô bạn trở về cùng cô Út có xuống thăm, không gặp cô Út, cô gửi chút bánh trái cho ông già rồi quay đi liền. Nhưng người lái xe ôm chở cô bạn xuống thăm hôm ấy hơi nhiều chuyện.

Anh nói với mọi người rằng: "Tui chở cô này xuống thăm bạn bị Aids!. Nghe đâu đến giai đoạn cuối!". À! Lúc này thì mọi người mới vỡ lẽ, thì ra cô Út bị Aids. Bịnh này hồi xưa kêu bằng Sida đó, bị là chỉ có nằm chờ chết thôi, không có thuốc chữa. Hèn chi!..

Chuyện anh Út sống với cô vợ Ếch (Aids) mau chóng thành chủ đề bàn tán của cư dân cửa biển này. Nhiều người thì nói anh Út khùng, điên, ngu… "Người đâu mà ngu quá!".

Nhiều người khác dặn dò nhau đừng lại gần anh Út, chắc cú cũng lây bịnh rồi, bịnh đó lây dữ lắm, "may mà tụi nó ở tuốt ngoài đầm"..; chỉ một vài người nói anh Út chung tình.

Người chung tình vậy khổ lắm, nhưng mà thời nay khó kiếm, chỉ còn vài người thôi.

Rồi Cô Út cũng mất, gần một năm trước bữa nhậu hôm đó, người ta biết khi thấy anh Út ngồi trên bến khóc hu hu mấy ngày trời. Ông già cô Út nghe chuyện, chạy vỏ lãi vô đầm, lẳng lặng chở cô về làm một cái đám nhỏ, chỉ vài người trong nhà.

Chuyện là vậy, chuyện anh Út lấy cô vợ Ếch, chuyện tôi nghe kể lúc trà dư tửu hậu, chép ra đây hầu chuyện.

Anh chủ đầm hôm đó nói: "Thằng Út nó khỏe ru. Nghe lời ông già đi khám rồi, không có lây bịnh gì ráo. Thằng đó hay lắm, thương vậy mới gọi là thương! Uống cái bây!".

Ừ thì uống cái!.Ủa! Sao giữa vùng đất phèn chua nước mặn này lại có cây me xanh tốt quá trời, phủ lá mát rượi; ngắt nắm lá me non nhai chung với miếng thịt con cá đối trắng phau rồi ngửa cổ làm chung rượu, trời đất, ngon thần sầu luôn... Yêu quá miền Tây ơi!.
--------------------------------------------------------------------
* Tít bài do Mai Thanh Hải Blog đặt lại, tựa nguyên bản của bài viết là "Cô vợ Ếch"
* Hình ảnh trong bài chỉ có tính chất minh họa, không liên quan đến nội dung bài viết

THẤY XẤU HỔ, KHÔNG CHỈ Ở THÁI LAN

Tờ giấy cứng khổ to, đặt hoặc dán ở những địa điểm bán đồ ăn tự chọn ở Thủ đô Băng Cốc (Thái Lan), có nhiều khách Việt Nam lui đến, khiến không chỉ mình và rất nhiều người Việt, khi nhìn thấy, cảm giác xấu hổ. Mình chắc rằng, những du khách quốc tịch khác, khi ngồi cùng phòng ăn với người Việt, khi nhìn thấy những dòng chữ này, sẽ hỏi nhân viên phục vụ về nội dung dòng chữ và chắc chắn sau đó, sẽ nhìn người Việt bằng con mắt khác. Dẫu xấu hổ và hơi... nhục 1 chút, nhưng ý thức được lời nhắc nhở và tuân thủ theo chúng, có lẽ vẫn còn hơn rất nhiều, so với những người đã biết mà vẫn mặc kệ, phớt lờ, không thực hiện. Thay đổi 1 thói quen, không hề đơn giản và phải có quá trình, thậm chí bằng những chế tài cứng rắn, cho nhớ - cho chừa. Thế nhưng, ngẫm đi ngẫm lại, có những thói quen, mới hình thành và xuất hiện, nhưng đã nhanh chóng ăn sâu vào óc, ngấm vào máu và bám chặt vào tư tưởng... Đơn cử như sự sợ hãi THẰNG HÀNG XÓM XẤU TÍNH, cun cút lo sợ đồng bào mình sẽ làm gì đó để nó khó chịu... Những thói quen này, bao giờ mới sửa được và biết bao giờ người dân Việt mới hết tự xấu hổ, tuy chẳng bao giờ có bảng nhắc chế tài, như lấy thừa thức ăn?..    

6 tháng 9, 2011

ĐI CHỢ SÀI GÒN

Đàm Hà Phú - Đến đâu ở Việt Nam, chỗ đầu tiên bạn được khuyên nên đến thăm, chính là cái chợ.

Ở đó, có những thứ bạn cần cho một chỗ ở mới, có các sản vật từ thiên nhiên đến nhân tạo và hơn hết, ở đó đặc sệt một thứ văn hóa vùng miền.

Cho dù bạn có thích hay không, thì bạn cũng phải ít nhiều hít thở, chia sẻ và gắn bó với bầu không khí ấy.

Không ai có thể nói hết, Sài Gòn có bao nhiêu cái chợ. Ý tôi là chợ chính thức được bản đồ ghi nhận, chứ không kể các chợ chồm hổm, chợ chiều, chợ chạy, chợ lạc xoong, chợ chìm, chợ đen, chợ…búa.

Sài Gòn nhiều chợ kinh khủng: Từ lớn lớn như chợ Lớn,  chợ Bến Thành, chợ An Đông đến nho nhỏ như cái chợ phường, chợ xóm; từ chợ bán buôn từng mặt hàng riêng biệt như chợ vải, chợ cá, chợ rau, chợ hóa chất, chợ phụ tùng… đến những cái chợ bán hầm bà lằng xắng cấu như chợ Nhỏ, chợ Dân Sinh...

Dù là chợ gì thì luôn đậm đặc không khí của một Sài Gòn, năng động, tình cảm và phóng khoáng.

Người ta lo ngại cho số phận những cái chợ, một khi hệ thống siêu thị bán lẻ tràn ngập khắp thành phố. Các siêu thị càng ngày càng lớn, hàng hóa đa dạng, dịch vụ hoàn hảo và rất nhiều tiện ích khác.

Nhưng chợ vẫn còn đó, dù vẫn nóng, vẫn dơ, vẫn ồn áo và náo nhiệt, nhưng vẫn không ít khách hơn là mấy.

Có lẽ vì người ta đi chợ đôi khi không phải để mua hàng, người ta đi chợ như đi thăm người quen vậy, ở đó luôn có thứ tình cảm mà ở siêu thị không có.

Có lẽ vì người ta đi chợ không phải vì giá ở chợ rẻ hơn, người ta đi chợ để được gặp nhau, được nghe, được nói, được chào hỏi…

Ở Sài Gòn, khi vô trong chợ, bạn được coi như người nhà, người ta kêu bạn bằng đủ thứ tên hoặc đại từ nhân xưng.

Nếu bạn còn trẻ, bạn thường được gọi là “cưng”, “con”, “em gái”, “chế” hoặc kêu những cái tên do người ta đặt ra như “chị Hai, cô Ba”...

Còn nếu lớn tuổi bạn có thể được gọi là “má”, “ngoại” hay “gì Hai, thím Hai” rồi xưng con ngọt xớt.

Ở Sài Gòn, khi đi chợ bạn luôn nhận được những tiếng mời chào dễ thương, đến nỗi cho dù có đủ gan từ chối bạn cũng không thể không mỉm cười cảm ơn: “Nè cưng, ngồi xuống ăn ly chè mát đi!”, hay: “Má ơi! Vô đây con thử đôi guốc này coi vừa chưn hôn má, không mua cũng được!”…

Nếu là đàn ông đi chợ với vợ, thì bạn cũng được chào mời, dù biết bạn chẳng mua gì: “Em trai ngồi ghế chơi đi để chị chọn đồ cho bà xã hen. Uống café hôn để chị kêu!”.

Nếu vô coi hàng rồi mà không ưng ý thì cũng đừng ra mặt kẻo người bán họ buồn, nếu không ưng thì cứ cảm ơn rồi đi, bạn sẽ vẫn nhận được nụ cười tươi như khi bạn đến: “Bữa khác ghé lại nghen mấy cưng!”.

Ở Sài Gòn đi chợ phải ăn mới đúng điệu, chợ nào cũng có hàng ăn, ngay trong chợ hoặc phía sau, bên hông, hoặc giả đâu đó mà bạn không cần biết.

Hàng quán đôi khi xập xệ và tạm bợ, lại còn trông hơi mất vệ sinh, vậy chớ ăn ngon lắm, đồ ăn nóng hổi và đầy đủ gia vị.

Thường mỗi hàng một món, có chỗ chuyên bán nước, có chỗ chỉ bán đồ ăn sẵn. Nhưng đừng ngại, bạn có thể ngồi ở hàng phở mà kêu tô bún bò cũng có người bưng tới.

Có thể ngồi ở hàng café mà kêu cơm tấm cũng được phục vụ vui vẻ. Cũng có chỗ thì thì bạn có thể uống trà đá miễn phí, đến đã khát thì thôi.

Có lần tôi đi ngang một chỗ bán quần áo ở chợ Bến Thành, thấy chị bán hàng đang ăn bún riêu, tôi buột miệng nói: “Nhìn ngon quá!”.

Chị ngước mặt đầy mồ hôi, nhìn tôi sởi lởi: “Ngon dữ! Ăn không? Ngồi đây đi em trai, chị kêu vô cho. Một phút có liền. Ăn đi chị bao mà!”.

Từ đó, tôi là khách của bà bán bún riêu chợ Bến Thành, lần nào ghé cũng 2 tô đúp. Tôi có thể nói ai đi chợ Bến Thành mà chưa ăn bún riêu của bả thì coi như chưa biết chợ Bến Thành vậy.

Đi chợ ở Sài Gòn cảm giác lạ lắm, người bán luôn tìm cách làm vừa lòng bạn như không hề vụ lợi.

Ở chợ, bạn được coi như thân tình, như bà con, như bạn bè. Bạn có thể trao đổi với người bán về chuyện học của con bạn hay chuyện ông hàng xóm khó chịu của bạn.

Bạn luôn được lắng nghe và chia sẻ. Bạn luôn được động viên và giúp đỡ rất chân tình.

Nếu bạn đang ở hàng quần áo và sực nhớ là muốn tìm một bộ chén, thì người bán quần áo sẽ dẫn bạn tới chỗ bán sành sứ, và giới thiệu rằng "bạn là anh/chị/em/bà cô/ bà dì của họ…", rằng bạn phải được "mua giá sỉ, rằng bạn là VIP"... Bạn nghĩ tất cả chỉ là hình thức ư?.

Không hề!. Thiệt tình đó bạn và bạn không bao giờ cảm thấy phiền vì điều đó.

Cho dù có mua phải một món hàng bị hớ giá, hoặc tìm không ra món đồ mình thích. Bạn sẽ luôn nhận được những món quà bất ngờ cho dù bạn không đòi hỏi: Mua chục trái cây được mười lăm, mười sáu trái; mua hai cái áo tặng thêm cái nón; mua có cái bóp được đãi ly cafe... không phải hàng khuyến mãi đâu bạn, đó là tấm lòng, hãy nhận bằng cả tấm lòng.

Có lần tôi mua một sợi dây nịt với giá 200 ngàn, khi đi một vòng tôi phát hiện cũng sợi dây nịt đó được bán chỗ khác với giá 120 ngàn. Tôi quay lại cười với gã bán: "Nè anh!. Sợi dây này bên kia bán có 120, sao nãy anh bán tôi 200?".

Gã cười xềnh xệch: "Chắc em lộn giá!. Thôi để em đền anh cái bóp xịn hen. Bóp này hàng hiệu luôn, giá tới năm trăm đó!". Tôi coi cái bóp thấy cũng ưng ý, dù biết tỏng nó chưa tới tám chục, cũng vui vẻ cầm.

Sau này mỗi lần ghé, gã đều nói: "Anh cứ đi một vòng, chỗ nào bán rẻ hơn em đền anh gấp đôi, còn bao anh café nữa!".... Thiệt!. Nói vậy chớ tôi chẳng hỏi ai bao giờ, tôi tin gã.

Vợ chồng tôi, trước có hay mua đồng hồ ở cổng chợ Bến Thành, mỗi lần một cặp. Sau này mỗi lần đi vô chợ, là chị bán đồng hồ lại kêu lại, nói: "Thằng Hai!. Chị để dành cho tụi em cặp này bữa giờ!. Đẹp lắm, giá gốc luôn! Hàng xịn đó!".

Lần nào cũng một cặp nữa. Riết không dám đi cổng chính. Toàn quẹo vô chợ từ bên hông chợ. Vì đi cổng chính, thể nào cũng mua một cặp. Không thể từ chối chị được.

Có lần chúng tôi đi du lịch, vợ tôi gặp một phụ nữ khác cũng đi với gia đình. Cô bạn kia cũng chào tôi và tỏ ra mừng vui không xiết. Thế là hai bên xúm lại, trò chuyện, giới thiệu chồng, con, gia đình rồi cùng ăn uống vui vẻ.
Tôi cứ nghĩ đó là một cô bạn thân của vợ tôi, mà tôi chưa biết. Sau khi chia tay nhau và cùng hẹn sẽ đi Thái Lan, tôi hỏi lại vợ xem "Bạn này là thế nào", thì vợ cười ha hả: "Anh không nhớ hả?. Là nhỏ bán túi xách ở Chợ Sài Gòn đó!".
….....
Không ai có thể nói hết Sài Gòn có bao nhiêu cái chợ. Cũng như không ai có thể nói hết tấm lòng người Sài Gòn.

Đôi khi bạn đi chợ không phải để mua bán gì. Đôi khi, chỉ là để được nghe một câu nói: “Nè cưng! Lâu quá không thấy ghé!”...
-------------------------------------------------------------
* Hình minh họa: Mai Thanh Hải Blog sưu tầm từ Tư liệu TP. Sài Gòn những năm 1960-1970

5 tháng 9, 2011

TỰ TÌNH

Giây phút riêng tư của 2 chú cào cào, trên lá vàng, giữa đồng cỏ xanh kín đáo... - Hình như đây là ước vọng của không chỉ con người, mà ngay đến con vật bé tý, tưởng như không ai để ý đến, như cào cào, cũng muốn đạt đến. Ước là ước vậy thôi, chứ chắc gì, ở thời buổi này, mọi xó xỉnh - gầm giường đều bị soi mói, ước mơ đó thành hiện thực?. Thật buồn!.. (Hình của thành viên Nhân trần trên Diễn đàn OF)

BÍ MẬT QUÂN SỰ

Huy Minh - Hồi sinh viên, bọn mình mê anh Thắng lắm. Anh Thắng là sĩ quan Quân đội cử đi học, ở gần phòng chúng mình.

Thi thoảng anh lại vận quân phục chỉnh tề, sao vạch đầy đủ, thong thả bước trên sân trường, trông rất là khí thế.

Mình với thằng Đinh Cao Cường (giờ làm ở Báo Lào Cai), là mê anh nhất. Dạo anh rỉ tai chúng mình nói rằng: "Anh là người của Tổng cục II, cấm được nói với ai", bọn mình lại càng mê tợn. Thích thế, giá mà lớn lên chúng mình được như anh ấy.

Anh có vẻ nghiêm nghị, anh không gọi chúng mình là các em, mà gọi là các đồng chí. Ví như anh bảo: "Chiều nay, đồng chí nào xuống hồ mò trai nấu cháo, cải thiện cho các anh em thì xung phong!".

Hồi ấy khu Ký túc xá (KTX) của bọn mình toàn cỏ dại, các thầy cô giồng đầy khoai lang với cả dọc mùng.

Trước khu nhà KTX là một cái ao rất to, đã có một vài chị em bị phụ tình, vừa khóc hu hu, vừa nhảy xuống đó quyên sinh, nhưng tất nhiên là không ai chết.

Ao rất nhiều loài thủy sản có thể ăn được.

Chúng mình kiếm được cái nồi quân dụng, gạo, củi, rau thơm thái nhỏ, chỉ thiếu cái gì nấu kèm.

Anh Thắng chỉ huy một đoàn xuống ao mò trai, hô "Đồng chí này mò chỗ nọ!", "Đồng chí kia mò chỗ kia!"…

Trai dưới ao trường khác hẳn trai thường, chắc được ngửi qua mùi con gái bị phụ tình hay sao ấy (Hi! Hi!), con nào con nấy to như hai bàn tay úp vào nhau.

Anh Xuân Phong (giờ là chủ doanh nghiệp đá xẻ), nhà bán cháo gà, nên hay được mẹ gửi ra cho mấy lít mỡ, xung phong đi lấy để phi hành mỡ rán trai. Ôi chao là thơm!..

Cái nồi quân dụng cháo để giữa sân, anh Thắng chưa kịp hô “Các đồng chí! Chiến đấu!.” thì cả mấy chục chú đã thìa bát, ầm ầm kéo tới. No căng rốn.

Thích nhất là nghe anh Thắng kể chuyện (người của Tổng cục II mà lỵ).

Thường là buổi tối, sau khi đã "sôi kinh nấu sử", nếu không đi nhảy nhót với thằng Hải béo (giờ làm Công an huyện Quỳ Hợp), hoặc đi theo thằng Tùng Chè (giờ nó vẫn là con cô Chè), sang các Trường khác, ngồi đần độn chả biết nói gì trong các phòng sinh viên nữ, thì chúng mình thường quây quần để nghe anh Thắng kể chuyện.

Có hôm anh bảo: "Ở biên giới phía Bắc mình có một dàn pháo hạng nặng, tầm bắn có thể tới Bắc Kinh".

Thằng Đinh Cao Cường nó cãi: "Vua chiến trường của Mỹ cũng chỉ bắn được mấy chục cây số, pháo gì mà bắn được từ Lạng Sơn tới Bắc Kinh thế?". Anh phẩy tay: "Chính anh đã đứng trong nòng khẩu pháo ấy!. Chân ở mép nòng dưới, với tay lên mới chạm mép nòng trên!".

Thằng Cường nó lại cãi: "Thế quả đạn nó phải to như cái cót đựng thóc cơ à?. Lấy gì đủn đít cho quả pháo nó bay được xa như vậy hở anh?".

Anh lại phẩy tay: "Thế mới gọi là bí mật quân sự. Còn cãi nữa, lần sau, anh không kể gì cho các đồng chí nghe đâu!".

Thằng Cường nín khe.

Hôm khác anh lại kể: "Này!. Biết gì không?. Vừa tập trận ở Cam Ranh chiều nay đấy. Tầu ngầm của nước mình hơi bị nhiều, phải tội là nhiều chiếc cũng hơi cũ. Anh vừa nghe tin, có chiếc cũ quá, đang tập thì nổi ngửa cả bụng lên mặt nước!".

Mình thấy thằng Cường nó định phát biểu gì đó, nhưng lại thôi.

Sáng hôm sau đi học, thằng Cường hỏi mình: "Mày còn nhớ vụ tầu ngầm không?". "Nhớ!. Làm sao?". "Thế đéo nào mà cái tầu ngầm lại nổi ngửa bụng lên mặt nước được, mày nhỉ?. Cái tầu bằng sắt chứ có phải là con cá chết đâu, mày nhỉ?".

Mình phẩy tay: "Thế mới gọi là bí mật quân sự!".

Tự nhiên hôm nay đọc báo về quân cảng Cam Ranh, mình lại nhớ về anh Thắng.

QUÊ MÌNH TỔ CHỨC "TẾT ĐỘC LẬP" TO LẮM...

Mai Tiến Nghị - Quê mình tổ chức Tết Độc lập to lắm. Cả huyện, nườm nượp kéo nhau về trung tâm để xem bóng chuyền, xem bơi chải, xem văn nghệ và xem đàn bà thổi kèn đồng…

Nhưng gay cấn nhất là cái anh bóng chuyền.

Mình cũng không máu bóng chuyền lắm. Dưng mà cũng le ve mỗi chỗ mỗi tý. Xem đánh bóng thì ít, còn chủ yếu là xem… người xem.

Giời nóng cỡ 39-40 độ, người ngồi như nêm cối trên khán đài…mồ hôi chảy ròng ròng; lại còn ầm ầm tiếng cổ động hú hét điếc cả tai.

Phía bên khán đài đối diện, có 2 đám đang ra sức cổ động cho 2 đội. Một đám thì gân cổ hát vang: “Không cho chúng nó thoát…Hợp đồng thật hay là nắm thắng lợi ở tay…khẩu đội ta nhằm chúng nó: Bắn!” Khiếp!. Lôi cả bài “Sẵn sàng bắn” thời chống Mỹ ra cổ động mới ghê!.

Còn đám kia thì có mấy thanh niên cởi trần giang thẳng cánh nện trống: "Tùng… tùng… tùng". Một thằng đầu trọc giương cái trompet phồng mồm thổi ré lên: "Te te te te …tò te tí te tò te", cả đám gào lên: “Á li ba bà!..”. Chả biết vì cái cớ gì, mà lại cổ động bằng cái bài: “A li ba ba và bốn mươi tên cướp”, trong khi dưới sân chỉ có mười hai cầu thủ mặt đỏ gay, anh cao thì cao vút còn anh lùn thì lùn tịt, lô nha lô nhô… mắm môi mắm lợi đập bóng uỳnh uỵch…

Ngồi bên phải mình là một lão cỡ hơn 60, mắt hấp háy. Mình hỏi: “Ông cổ vũ đội nào?”. “Cổ vũ đội của xã tớ! Đội đỏ đấy!.” và lão ta còn tự hào khoe: “Cái trống đang đánh bên kia là trống mượn của nhà thờ họ tớ đấy. Thằng con tớ là huấn luyện viên đang chỉ đạo đội bóng."

Lão tự hào chỉ vào một thanh niên đang ngồi ôm một cái xô và một cái hộp xốp bán kem đang chồm chồm như cóc nhảy dưới sân: "Xã tớ phải đầu tư hơn bốn chục triệu, thuê 3 thằng Thể công cao kều đấy!. Năm trăm nghìn cho thằng thổi kèn ba trận… Oách không? Tất cả cho chiến thắng của xã mà!”.

Còn bên trái mình là một tay đầu húi cua cỡ 24-25 ra sức gào lên: “Á…li ba bà!”. Vậy ra cả hai đang cổ động cho một đội.

Tay đầu húi cua đang “Á li ba bà” chợt dừng lại: “Thôi bỏ mẹ! Con vợ mình nó cũng máu quá. Mình đã bảo ở nhà với con thế mà nó đ.. chịu! Nó bê thằng bé ra bêu nắng. Giời ạ!” Theo hướng hắn nhìn, mình thấy một phụ nữ với đứa bé ngủ vắt trên vai trong khi mồm chị ta cũng đang “Á li ba bà”, chân nhảy tưng tưng…

Tinh thần thể thao cuồng nhiệt đến thế là cùng…

Lão già than thở: “Khát nước quá!”. Còn tay thanh niên thì bảo: “Mót đái quá!”. Mình muốn rộng chỗ nên bảo hắn: “Thì đi mà đái, có ai cấm!”. Tay thanh niên bảo: “Đi cho mất chỗ à?”.

Nhưng rồi lão già không chịu được. Lão chen xuống phía dưới đến chỗ thằng con nói gì đấy. Chắc là xin nước uống. Nhưng thằng con lắc đầu quầy quậy. Lão tiu nghỉu lại chen lên về cạnh mình. Mình đoán thằng con không cho nên đành ôm mối hận khát nước mà về chỗ cũ, nhưng chắc đã thấm nhuần tư tưởng "tất cả cho chiến thắng của xã ta", nên không nói gì.

Giữa lúc ấy, thì bên kia tiếng trống đang tùng tùng bỗng “ục” một cái, rồi phẹt phẹt phẹt như tiếng gõ mẹt... Lão già lẩm bẩm: “Thủng mẹ nó rồi!”

“Khẩu đội ta nhằm chúng nó…Bắn!” “Te te te…phẹt phẹt phẹt… Á li ba bà” hai bên thi nhau hú hét rầm rĩ, dưới sân đàn ông đàn bà nhảy tưng tưng…

Nhưng mà… bên “Sắn sàng bắn” áo xanh: 16… còn bên “Á li ba bà” áo đỏ: 14. Đội đỏ bị thua điểm. Hai đội hội ý. Thằng con lão già hấp tấp mở hộp xốp bán kem lấy ra những chai nước lạnh, mở nắp cung kính đưa cho cầu thủ, rồi đưa khăn mặt ướt trong cái xô và hắn ta còn moi đâu ra cái quạt, quạt lấy quạt để cho mấy anh cao kều.

Mình nhìn sang phải thấy lão già mím môi, mặt cau lại: “Đ.mẹ đồ chó! Con với cái! Đẻ ra nuôi ba bốn mươi tuổi đầu mà nó cũng chưa quạt cho mình được phát nào! Nhìn nó cung phụng mấy thằng cầu thủ mà ngứa mắt. Nào quạt à! Nào khăn lạnh à! Nào nước đá à! Thằng bố mày khát cháy họng mà mày cũng không cho. Mẹ tổ chúng mày. Mai không bịt đền ông cái trống thì ông đào mả thằng tổ chúng mày lên!…”.

Trận đấu lại tiếp tục. Bên áo xanh “Sẵn sàng bắn” đã 20 còn bên áo đỏ “Á li ba bà”vẫn 14. Bên “Á li ba bà” thua là cái chắc.

Dưới sân cô vợ tay đầu húi cua vẫn nhảy tưng tưng…

Thằng cha này điên tiết dứ dứ nắm đấm về phía vợ: “Thua mẹ nó rồi! Mà cái con đàn bà lăng loàn kia… mày vẫn còn nhảy được à? À… phải rồi… Ông còn lạ đếch gì cái mặt mày. Xem xét gì! Cổ vũ gì! Có biết bên nào vào với bên nào…đến sân chỉ cốt để xem đùi, xem háng mấy thằng cầu thủ... rồi về nằm mơ… Thằng bé mà ốm thì ông đập chết!”. Hắn vội vã chen xuống, chắc là để chuẩn bị trừng trị “cái con đàn bà lăng loàn”.

Mình cũng không hứng thú với bóng bánh gì nữa. Thôi về!. Lão già cũng đứng dậy đi theo sau. Hình như lão hậm hực lắm khi “Á li ba bà” thua trận vì nghe thấy tiếng chân lão dẫm bình bịch.

Mình quay lại: Lão già nắm chặt hai tay, nói rít qua kẽ răng: “Mẹ nó! Thể công thể kiếc mà đánh đấm như con đầu buồi! Đợi đấy! Sang năm ông bàn với Đảng ủy thuê hẳn mấy thằng tuyển Tàu về đánh cho quân “Sẵn sàng bắn” chúng mày biết mặt!”.

Chen ra được đến bên ngoài sân thì mệt đứt hơi, khát khô cổ. Kiếm chỗ rợp ngồi nghỉ tí đã. Vẫn dội vào tai là tiếng ồn ào, tiếng hú hét "Nhằm chúng nó: Bắn!", tiếng "Á li ba bà" và tiếng đài phát thanh oang oang đưa tin “Đồng chí Đới Bỉnh Quốc sang thăm hữu nghị nước ta…”.

MỘT ĐẢNG VÀ HIẾN PHÁP

Tác giả Huy Đức
Quê Choa - Không hiểu vì sao, Hiến pháp lại được đưa ra sửa khi những ý tưởng cải cách trong Đảng thì thiếu vắng và tình hình theo nhiều người là vẫn “chưa đủ xấu”. Nếu không xuất phát từ nhu cầu cải cách, việc sửa đổi Hiến pháp chỉ là vá víu. Rất tiếc là Đảng Cộng sản Việt Nam thường chỉ chấp nhận cải cách khi bị dồn tới chân tường, Đại hội VI năm 1986 là ví dụ.

Chỉ chưa đầy 5 thập niên (1946-1992), Việt Nam có 4 lần thay Hiến pháp.

Năm 1959, khi môi trường chính trị để vận hành một nhà nước dân chủ và đoàn kết toàn dân theo Hiến pháp 1946 không còn, Đảng Cộng sản hình thành ở miền Bắc một nhà nước do “giai cấp công nhân lãnh đạo”.

Tháng 6-1976, sau khi chiến thắng người anh em ở miền Nam, trong tâm thế “ta đang tới đỉnh cao nhân loại”, Quốc hội Thống nhất quyết định thay thế Hiến pháp 1959, thiết lập trên cả nước một nhà nước chuyên chính vô sản hơn.

Nhưng, đường lối Đại hội Đảng lần thứ IV và mô hình nhà nước theo Hiến pháp 1980 đã nhanh chóng đưa Việt Nam tới chỗ bế tắc. Đảng phải tìm lối thoát bằng cách chia tay với mô hình copy từ Liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu.

 Hiến pháp 1992 đã từ bỏ bớt quyền lực tập trung. Từ chỗ không thể đưa ký gạo từ quê lên, đến thập niên 1990, người dân đã có thể lập Cty, được đi lại, được ra cả nước ngoài mua bán. Trong kinh tế cũng như trong chính trị, một quốc gia chỉ trở nên thịnh vượng khi người dân thực sự có quyền. Bản chất của “đổi mới” mà Đảng thường nói đến như một công lao chỉ đơn giản là trả lại cho người dân một phần quyền, trong đó có quyền được tự lo lấy cơm ăn, áo mặc.

 Khi Quốc hội công bố sửa đổi Hiến pháp 1992, nhiều người đề nghị: Thay vì quan niệm Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước, nên thiết kế Hiến pháp như một bản khế ước xã hội, theo đó, “con người chính thức đánh đổi quyền tự do tự nhiên để trở thành một công dân, chính thức trao một phần quyền tự do quyết định của mình vào tay một số người cầm quyền để có được sự chở che của xã hội”.

Tuy nhiên, chỉ trong một chế độ thực sự dân chủ, hiến pháp cũng như các đạo luật khác mới trở thành một khế ước. Đảng biết trước câu trả lời khi các vấn đề sau đây phải trưng cầu dân ý: Điều 4; quyền tư hữu về ruộng đất cho người dân; mô hình chính trị…
 
Quyền sửa đổi Hiến pháp 1992 chưa thuộc về nhân dân mà đang ở trong tay Đảng Cộng sản Việt Nam, thay vì kiến tạo một nhà nước pháp quyền (rule of law), bản Hiến pháp mới chỉ có thể là bộ luật cơ bản để tiện bề “quản lý” (rule by law).

Ngay cả trong điều kiện đó thì Đảng cũng phải biết mình muốn tổ chức một Nhà nước theo mô hình nào: Tản quyền hay tập quyền? Cộng hòa tổng thống hay cộng hòa nghị viện? Mô hình ít xáo trộn nhất với điều kiện hiện nay là Cộng hòa bán Tổng thống: Chủ tịch nước vừa là nguyên thủ quốc gia vừa đứng đầu Chính phủ nhưng chỉ nắm các quyền ngoại giao và an ninh, quốc phòng; Thủ tướng tập trung lãnh đạo các vấn đề kinh tế. Chủ tịch nước có thể được bầu bởi 2/3 Đại biểu Quốc hội hoặc được bầu bởi số phiếu quá bán của Quốc hội cùng toàn thể Đại biểu các Hội đồng nhân dân ở cấp thành và cấp tỉnh.

 Nhưng trước hết, cải cách phải được tiến hành trong Đảng. Đội ngũ cán bộ Đảng nên được phân công theo hướng: Có những người làm công tác Đảng chuyên trách và có những người được Đảng đưa sang ứng cử các chức danh nhà nước. Những người chuyên trách ở cấp Trung ương được gọi là Ban Bí thư, gồm các chiến lược gia, chịu trách nhiệm tìm kiếm nhân sự cho Đảng và chuẩn bị các vấn đề lý luận. Các văn kiện của Ban Bí thư chỉ có giá trị lưu hành nội bộ.

Đại hội của Đảng nên diễn ra theo hai vòng: Vòng một, tổ chức tranh cử trong Đảng để bầu các ứng cử viên ra ứng cử Đại biểu hội đồng nhân dân (ở các Đảng bộ địa phương) và ứng cử Đại biểu Quốc hội (ở Đảng bộ toàn quốc). Số lượng ứng cử viên mà Đảng bầu ra phải nhiều gấp đôi số Đại biểu cần thiết. Những ứng cử viên của Đảng trúng cử Đại biểu Quốc hội đương nhiên trở thành Trung ương Ủy viên.

Sau bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Đảng tổ chức Đại hội vòng hai để cho các Trung ương ủy viên ra tranh cử ứng cử viên chức Chủ tịch nước và các ủy viên Bộ Chính trị. Đại hội giới thiệu ít nhất hai ứng cử viên để bầu Chủ tịch nước. Ai đắc cử Chủ tịch nước người đó đương nhiên trở thành Tổng Bí thư. Chủ tịch nước sẽ lập nội các bao gồm các thành viên trong Bộ Chính trị.

Quốc hội chỉ nên có không quá 400 người, trong đó: những Đại biểu được bầu từ “bảng A”, gồm các ứng cử viên của của Đảng và những Đại biểu được bầu từ “bảng B”, gồm các ứng cử viên độc lập. Chưa thể hy vọng bầu cử tự do được thiết lập trong lần sửa Hiến pháp này, nhưng nếu Đảng dành cho các ứng cử viên độc lập khoảng 100 ghế trong Quốc hội thì Đảng vẫn nắm quyền quyết định nhưng nhân dân sẽ có tiếng nói; các vấn đề kinh tế, xã hội sẽ được mổ xẻ, lương tri của các đại biểu là trung ương ủy viên sẽ được đánh thức; quy trình quyết định được giám sát chính trị một cách chặt chẽ hơn, tránh được các rủi ro do áp đặt và thiếu phản biện khi ban hành chính sách.

Tất cả ứng cử viên tất nhiên phải là công dân Việt Nam, nhưng hiện có hàng triệu người Việt đang sống ở nước ngoài và nhiều người trong số họ đang có hai quốc tịch. Nên quy định, chỉ những công dân Việt Nam không mang quốc tịch khác, hoặc đã từ bỏ quốc tịch khác, đã định cư trong nước ít nhất là 5 năm trước ngày bầu cử mới được quyền ứng cử.

Chỉ có một Đảng thì không thể đòi những cuộc bầu cử có hàm lượng dân chủ cao. Nhưng nếu những người tự ứng cử không được Đảng ủng hộ bị loại ra khỏi cuộc chơi bằng... Tổ Dân phố và Mặt trận Tổ quốc thì không nên tổ chức bầu cử làm gì cho tốn kém.

Có thể áp dụng quy trình hiện hành đối với những người được Đảng đưa ra đề cử. Nhưng những ứng cử viên độc lập thì chỉ cần thu thập đủ một lượng chữ ký tùy theo đơn vị bầu cử: nếu ở các thành phố lớn thì có thể 10 nghìn; nếu ở miền núi thì có nơi chỉ cần 500 đến 1000 chữ ký. Tất cả các đại biểu Quốc hội, trừ những người tham gia nội các, là Trung ương ủy viên hay đại biểu độc lập, đều có quyền ngang nhau. Họ vừa có văn phòng làm việc ở Hà Nội và ở nơi ứng cử. Nội các và các đại biểu Quốc hội đều được bố trí nhà công vụ ở Thủ đô, hết nhiệm kỳ thì bàn giao lại cho những người kế tiếp.

 Theo mô hình này, quyền lực được phân bớt cho các địa phương. Chính quyền trung ương chỉ nắm những quyền đủ để kiểm soát sự phát triển thống nhất của quốc gia. Các tỉnh trưởng không nhất thiết tham gia Ban chấp hành Trung ương, nhưng nhiều người trong số họ có thể là ứng cử viên hàng đầu của chức Chủ tịch nước trong nhiệm kỳ kế tiếp.

Tòa án bao gồm: Tòa địa phương, xử các tội hình sự liên quan đến giựt dọc, trộm cắp… thẩm phán tòa này do tỉnh trưởng bổ nhiệm, được phê chuẩn bởi hội đồng nhân dân; tòa quốc gia, xử các tội đại hình, các tội tham nhũng và các tội phạm về chức vụ… thẩm phán tòa này do Chủ tịch nước bổ nhiệm, Quốc hội phê chuẩn. Các ứng cử viên thẩm phán bao gồm các luật sư danh tiếng hoặc các thẩm phán liêm chính được chọn từ tòa dưới.

Chính quyền Trung ương chỉ cần có Bộ An ninh và Cục Điều tra quốc gia. Trừ những vụ việc thuộc thẩm quyền xét xử của các tòa địa phương, quyền điều tra nằm trong tay cục điều tra quốc gia. Lực lượng cảnh sát nên giao về cho địa phương, căn cứ tình hình, các địa phương sẽ quyết định lương thưởng, biên chế… Những thành phố đông dân như Sài Gòn sẽ tuyển đủ lực lượng cảnh sát cần dùng thay vì đưa thanh niên xung phong ra điều hành giao thông. Ở những địa phương mà người dân sống thân thiện với nhau họ có thể thay cảnh sát bằng vài “hiệp sỹ”.

Quân đội chỉ được xây dựng theo nguyên tắc chính quy, tinh nhuệ, chỉ được dùng để bảo vệ nhân dân và từng tấc đất của ông cha. Cho dù ai nắm quyền thì quân đội cũng chỉ trung thành với tổ quốc. Quân đội mà lo bảo vệ Đảng hơn bảo vệ biên cương, thì khi chính trị trong nước không ổn định, Trung Quốc sẽ thừa cơ chiếm đảo.

Theo mô hình này, chỉ có một người thực sự là nguyên thủ quốc gia thay vì có tới 4 nhân vật được hưởng chế độ nguyên thủ như đang áp dụng. Trừ các vấn đề liên quan đến công tác Đảng do Ban Bí thư đảm trách, các quyết định của Bộ Chính trị đồng thời là quyết định của nội các. Không cần qua giai đoạn “thể chế hóa” mới có giá trị thi hành. Nó không chỉ chịu sự giám sát của Ban chấp hành Trung ương mà còn chịu sự giám sát của các đại biểu độc lập.

Chức năng không bị trùng lắp, quy trình ban hành các quyết định được rút ngắn, địa chỉ để quy trách nhiệm cũng rõ. Vai trò lãnh đạo của Đảng cũng tương đối chính danh vì các nhà lãnh đạo chỉ có thể trở thành Tổng Bí thư, ủy viên Bộ chính trị, ủy viên Trung ương sau khi được “nhân dân phúc quyết”.

Cho dù tiếp tục giữ quyền viết Hiến pháp thì Đảng cũng hãy vì sự thịnh vượng của quốc gia mà chia sẻ bớt quyền lực cho nhân dân. Đừng nghĩ là tình hình chưa đủ xấu. Đừng nhìn các mâu thuẫn xã hội dựa trên các báo cáo hay dựa trên mấy câu leo lẻo của những người vẫn tới tặng quà: “Anh lãnh đạo chúng em làm ăn được”. Nhân dân đang bị nhũng nhiễu. Cái ác đang hoành hành. Nhiều “chức năng” đang phải vận hành bằng tiền bạc, trong khi đa số nhân dân thì thiếu tiền, nhất là tiền để mưu cầu công lý.

Nên nhớ là những cuộc nổi dậy thường bắt đầu từ những uất ức của người dân trước những bất công chứ không phải từ những trí thức đang lên tiếng nhằm thức tỉnh chính quyền. Thay vì đào những đường hầm để thoát thân khi có biến như Gaddafi, ngay bây giờ hãy khai thông các lối ra cho toàn dân tộc.

Huy Đức

4 tháng 9, 2011

XE MIỀN TÂY

Nguyễn Ngọc Tư - Người ta mở một đường bay từ Sài Gòn về Cà Mau. Mỗi khi có dịp đi khỏi nhà, mình lại có thêm một lựa chọn hoặc níu cánh máy bay vượt dặm dài hoặc leo lên xe đò đi túc tắc; hoặc loay hoay ngồi chưa ấm chỗ đã vụt đến nhà, hoặc rị mọ tám giờ đồng hồ ê ẩm mông, đau nhừ lưng, đờ cả cổ. Và mình thường chọn cách thứ hai.  

Mình gọi đó là “liệu pháp đường xa” mỗi khi cần phải chống sốc vì phải đi về giữa hai môi trường sống, hai thế giới khác biệt. Quả thật thần kinh mình hơi… mỏng. Nên hoang mang gửi lại ngã ba Trung Lương. Đãi bôi bỏ bên cầu Mỹ Thuận. Ấm lạnh người đời mình thả xuống bắc Cần Thơ. Hội hè miên man bỏ lại ở quán ăn bên đường, cùng với được mất đắng cay sau những ngày rời tổ.

Có quá nhiều thứ phải bỏ lại, và mình cần có thời gian. Cũng may đường rất dài mà xe chạy thì chậm rãi, nhà cũng xa vừa vặn để mình trở lại là mình (hoặc gần giống mình). 
Cũng có khi đi xa tới vùng đất nào đó rất xa, nhớ miền Tây quá lúc quay về mình dứt khoát leo xe đò. Vì ở đó có ít nhất ba thứ đặc miền Tây mà hầu như trên chuyến xe miền Tây nào cũng có : nhạc bolero (hoặc vọng cổ), dầu gió, và… người miền Tây (thí dụ như mình).
Thứ nào mình cũng chịu được, nhất là chịu được cả mùi dầu gió Kim, Nhị Thiên Đường, Trường Sơn… nồng nặc trên một chiếc xe kín mít rù rì máy lạnh.

Người miền khác ưa không vô. Có lần ngồi cạnh một anh cứ phe phẩy tay trước mũi chê hôi, mình muốn… nhéo anh ta bầm dập để anh thuộc cho rành cái câu nhập gia tùy tục.

Thưa anh xứ này người ta bôi dầu gió lên mũi cho ấm, chà xát lên lưng trừ cảm cúm thông thường, uống cả dầu gió những khi đau bụng, hôi gì mà hôi. Tôi đây nè, mới chui ra khỏi bụng mẹ đã được tẩm dầu khuynh diệp, chưa đầy tuổi đã ngủ cùng bà ngoại, nghiện mùi cốt trầu, dầu gió đến nỗi không ngủ được lúc bà đi đâu vắng.
Mình không quen chủ doanh nghiệp nào bán dầu gió để hỏi coi miền Tây hoang dại này mua của anh (chị) nhiều bao nhiêu, nhưng rõ ràng là miền Tây vẫn còn ăn dầu gió thở dầu gió. Ngồi xe đò thì thấy rõ, có nhiều thím bị say xe cứ như tưới tắm bằng dầu.

Mình vài ba năm trước cũng hay say, trước khi đi chuẩn bị nào gừng nào củ sắn nào dầu gió xanh… trước khi lên xe còn lượm cục đá bỏ vô giỏ. Nghĩa là vài ba năm trước mình còn… hôi, theo như cách nghĩ của anh bạn đường đến từ xứ khác, xa xôi.
Dù vậy, mình cũng thòm thèm xoắn áo động tay, vì chê bai dầu gió chán anh lại than vãn mấy cái bài bolero đang ca trong xe văng vẳng. Bài “Gió thổi bên sông” quặn lòng là vậy mà anh ta phì cười đã thấy giận rồi, chuyển qua “Đồi thông hai mộ”, “Chuyến đò không em” cảm động gần chết, mà anh nhăn nhó vậy có phải khó coi, ứa gan không?.

Nếu vậy thì “anh tài xế ơi, có nhạc nào mùi hơn nữa thì mở lớn lớn nghe chơi. Hương Lan, Thanh Thúy hay Cẩm Ly… cũng được”, mình chọc tức anh chơi mà cả xe nhao nhao góp lời, “Ừa, được đó”.
Thôi anh chịu khó, xe đò miền Tây nó vậy, bolero cũng như dầu gió, không có sao thành… miền Tây. Nếu anh đừng nôn nóng, đừng phủi như phủi bụi ngay từ đầu, anh sẽ thấy trong mỗi bài ca có một vài câu được lắm, ngọc nằm trong đá chớ đâu.
Đây Phố đêm “đèn mờ giăng giăng/ Màu trắng như vì sao gối đầu ngủ yên…”; đây Đường xưa lối cũ “có em tôi tóc xanh bay mơ màng/ Đường chiều dịu nắng, bóng em đi áo nâu in đường trăng”; đây Dòng đời “ngược xuôi bèo mây tan tác…”; đây Thói đời ‘cười ra nước mắt khi trắng tay gọi tên bằng hữu giờ giàu sang quên kẻ thâm giao…”.
 Mình thiệt tình không dám chắc là chúng hay, nhưng biết đâu anh bạn cũng có mối tình dở dang như vầy, từng buồn như vầy, từng than thở như vầy, rằng “nếu không dang dở làm sao trọn đời nhớ em…”.

Năm ba bữa nữa anh còn ở lại miền Tây là còn gặp bolero dài dài, ở quán ăn, chiếu nhậu, ở những chiếc xe bán nước giải khát rong ngoài đường. Nếu may (tôi nhấn mạnh là may), anh sẽ nhận ra vẻ đẹp của bolero vào một chiều tắt ngồi bên dòng sông mênh mang, ngó lục bình trôi dưới trời mưa mỏng;

Hay một buổi trưa hoang hoải ngó những cây thốt nốt trầm ngâm, kiêu hãnh cô độc đứng trên đồng; hay chút nữa đây xe sẽ trôi vào đêm tối, khung cảnh ngoài kia chìm trong mụ mị, anh nghe Cuốc kêu bên trời “ta gối lá ngắm trăng lên, hoa bần rơi trắng đôi bờ kinh…”, biết đâu anh không còn bĩu môi chê nhạc gì mà sến chảy nước, tới bán bia ôm, đi xe đò cũng viết thành bài hát nữa là sao?.

Nhưng không bolero thì lấy đâu ra những bài hát cho những người thân phận mỏng, anh ? 
Mình thu nắm đấm (tưởng tượng) lại, thôi kệ anh cứ ghét đi, ghét cũng là nhớ, nhiều khi còn nhớ hơn thương, chớ giỡn. Cũng có thể anh đúng, biết đâu….

Có thể mình giảy nảy lên vì mình ham miền Tây đến mù quáng mất rồi. Ví dụ như xe đò miền Tây này đâu có gì hay, ngồi mòn mỏi mất thời gian, phải ngồi máy bay thì đã tới nhà từ lâu lắm, ngủ một giấc đã đời, bồng trẻ con đi chơi.

Nhưng mình vẫn chọn xe đò, lý do gì thì mình đã kể ở đây, ở những trang viết khác. Mình thấy không có gì là phiền phức nếu chị nọ ngủ say cứ tựa đầu vào vai mình, hay cái cách rút chân lên ngồi chồm hổm trên ghế của anh kia. Hay cái ông ngồi đằng sau chuông điện thoại cứ gióng lên câu vọng cổ “Điệp ơi mai anh lên chốn thành đô nhà xe rực rỡ, xin đừng quên bến đò ngang con sông nhỏ…”, mà bao giờ chờ xuống xề ông mới chịu bắt máy trả lời.

Kiểu nói chuyện điện thoại mình thường gặp trên xe, giọng oang oang, đầu thì gật lắc, tay xua xua, hấp háy mắt, như thể người bên đầu dây kia đang ngồi trước mặt. 
Thôi thì chân chất, ừ thì quê mùa… miền Tây mà, vẫn nghèo vẫn xa xôi. Đây không phải Sài Gòn Hà Nội, đây là một thế giới khác rồi. Thế giới mà người ta vẫn còn mua bắp luộc, bánh mì ở bến xe đem về xứ làm quà, trẻ con vẫn reo mừng tở mở.

Xe ghé quán ăn dọc đường, nhiều người ngồi chồm hổm chờ ngoài sân không dám ghé mông ngồi vào ghế, sợ thức ăn đắt đỏ. Đi qua quầy trái cây mình thấy có người đứng đằng xa ngó, tay nắn hai túi áo bà ba mỏng, trên miệng túi cài cái kim tây. Có lần mình ngồi cạnh một bà già, cứ ngồi lận lấy mấy hạt lúa từ trong nẹp vạt áo, cắn lóc cóc.
Những người miền Tây quăn queo lam lũ thật thà này, bolero này, dầu gió này mình không bao giờ gặp trên những chuyến bay. Lý do có vẻ ngớ ngẩn, nên thấy mình ham xe đò có bạn bè cười, mình chống chế bằng một câu danh ngôn nổi tiếng, những gì thuộc về con người thì không xa lạ với tôi. Nhưng trong bụng nghĩ, thôi bà sến thì nói đại là sến cho rồi, có sao đâu…