28 tháng 7, 2012

NHỮNG VÒNG ĐỒNG KÝ ỨC

Doãn Dũng - Tôi giở cuốn sổ tay, dò tìm tên người bạn đồng ngũ. Lê Tuấn Hải, địa chỉ: Cộng hòa Latvia, thành phố Riga, đường X, nhà Y, phòng Z.

Bạn tôi ở kí túc xá, không có điện thoại riêng. Muốn liên lạc với bạn chỉ có gửi thư, đánh điện, hoặc ra bưu điện đặt cuộc gọi.

Tôi đang cần liên lạc với Hải gấp, nên quyết định ra bưu điện trung tâm đặt cuộc gọi đường dài. Điền đầy đủ tên tuổi địa chỉ của Hải vào tờ đăng kí rồi đưa cho cô nhân viên bưu điện. Bưu điện sẽ có trách nhiệm thông báo cho bạn tôi ngày giờ chính xác để bạn tôi ra bưu điện gần nhất thực hiện cuộc kết nối điện thoại.

Hải ra quân sớm cùng thời kì với tôi, sau đợt hai đứa bị thương. Từ đó  chẳng có tin tức gì về nhau. Tôi thi đại học rồi sang Nga. Hải về quê làm anh thợ cày.

Tình cờ năm ngoái có chút việc vào ốp người Việt ở Matxcova, gặp Hải đang vật vờ trong đó. Trông bạn tôi vẫn như xưa với mái tóc rũ dài xù tổ quạ như hồi còn trên chốt. Cái quần mặc lép xẹp một bên mông.

Hỏi ra mới biết cậu ta đã sang đây mấy năm theo diện xuất khẩu lao động, làm ở nhà máy giầy, dưới thành phố Riga. Chúng tôi lấy địa chỉ của nhau rồi chia tay vì cả hai cùng vội. Hẹn có dịp, tôi sẽ xuống chơi.
* * *

Điểm cao mà đơn vị chúng tôi chọn làm đài quan sát là một ngọn núi đá vôi lọt thỏm trong dãy núi đất cao sừng sững.

Độ cao mỏm núi này không lớn, chỉ khoảng sáu bảy trăm mét so với mực nước biển, nhưng vô cùng khắc nghiệt vì địa hình hiểm trở. Tôi với Hải chung một hầm.

Thực ra nó chỉ là một hốc đá nhỏ đủ chỗ cho hai thằng và đặt một máy nhìn xa Tiệp Khắc. Cửa hầm được che chắn bằng các bao tải cát to bằng cái gối mầu xanh xỉn, nhưng bị bột đá nhuộm bạc trắng .

Mấy hôm vừa rồi pháo địch bắn rát, ầm ầm cả ngày lẫn đêm. Chúng tôi nằm khoèo trong hốc đá nhai gạo rang qua bữa, thỉnh thoảng ngớt pháo thì tranh thủ chỉnh lại những bao cát xô lệch do sức ép của đạn pháo nổ gần.

Hải nằm gối đầu lên cái ba lô lép kẹp, xoa xoa bụng ọc ạch chỉ toàn nước, hỏi tôi: “Mày bảo liệu anh nuôi có mang cơm lên được không?”.

Hải to như bồ tượng, sức ăn bằng hai bằng ba người khác mà phải nhai gạo mấy ngày liền nên tôi an ủi: “Trời hôm nay mù, tầm nhìn kém, chắc dàn DKZ sẽ ngậm miệng”. Hải ừ một câu rồi trở mình, nằm co quắp như con tôm, thiu thiu ngủ.

Tôi mở ba lô lấy cái vòng đồng màu vàng đỏ làm bằng vỏ đạn đeo thêm vào cổ tay phải. Tôi đeo vòng để theo dõi thời gian, dùng vòng tuần như bọn trẻ con chơi đồ hàng ở dưới thành phố. Cổ tay tôi có năm cái vòng, tức là hôm nay thứ năm.

Cứ hết một tuần vòng, tôi lại nhét một viên sỏi vào túi cóc  ba lô. Ngày tháng giờ giấc đặc biệt có ý nghĩa đối với những kẻ trong hoàn cảnh như chúng tôi. Thỉnh thoảng tôi mang sỏi ra đếm: “À, mình đã sống thêm được ngần này ngày”.

Bao nhiêu viên sỏi, là bấy nhiêu tuần địch chưa phát hiện ra mục tiêu cụ thể. Hốc đá mà chúng tôi dùng làm đài quan sát lưng dựa vào một vách đá dựng đứng, miệng hầm đối diện với ngọn núi không có địch, vì thế mà tránh được tầm bắn của dàn DKZ trên sườn núi đằng sau.

Chúng chỉ có duy nhất một nhiệm vụ ngày đêm vãi đạn sang bên này, bắn vỡ tất cả những tảng đá mà có khả năng bộ đội ta ẩn nấp. Đá vôi vỡ vụn, bột đá phủ trắng như tuyết từ đỉnh xuống đến chân núi.

Trên ngọn núi trơ trọi này, trong cơn bão đạn, bộ đội ta vẫn phải bám trụ ngày đêm.

Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ phải quan sát, ghi chép và báo cáo tình hình địch khi phát hiện được cho Tiểu đoàn và ở đây khoảng hai tư, hai lăm viên sỏi thì sẽ hoàn thành công việc

Hải lồm cồm bò dậy, vớ can nước tu một ngụm, súc miệng òng ọc rồi nhổ toẹt vào vách đá, giương cặp mắt phù thũng sưng húp híp vì thiếu chất, nhìn tôi, cười: “Răng lung lay quá. Đánh răng bây giờ là rụng”.

Tôi đùa: “Thế có chân giò luộc mày có ăn được không?” Hải bảo: “Luộc chân mày nhé!”. Tôi bảo: “Phỉ phui cái mồm mày!”. Hải nhăn nhở: “Sống chết có số rồi, sợ cái gì!”.

Cánh lính chốt chúng tôi thường kiêng kị ba điều: Cắt tóc cạo râu, mặc quần áo mới và nói lời tạm biệt khi chia tay. Họ sợ vận đen khi cắt tóc. Quần áo mới chỉ dành cho tử sỹ. Nói tạm biệt rồi không bao giờ về nữa.

Nó như một thứ luật ngầm ngấm vào tiềm thức của mỗi người, bất thành văn mà ai cũng tuân thủ tuyệt đối. Thế nhưng chuyện sống chết thì Hải cứ bô bô chẳng kiêng cữ vì “có số cả rồi”.

Một lần, giữa hai đợt oanh tạc, không gian yên ắng lạ thường. Sự yên tĩnh khiến tôi thấy mình là người thừa trong trò chơi tìm và diệt này. Thiếu tiếng pháo, thiếu cảm giác âm âm rung rung dưới lòng đất, chúng tôi ngủ không sâu giấc. Tôi khều Hải dậy, gợi chuyện:

- Hay là ta chuồn?

- Lượn à? Tùy mày! Nhưng đã ở được từng ấy ngày rồi giờ lại tuột xích. Sao không phắn mẹ nó từ dưới kia cho nhanh!.

- Nhưng tao thấy mình như con chuột sống trong nhà có nuôi mèo!.

- Sợ bị mèo vồ à? - Hải cười khùng khục trong cổ họng.

- Tao không sợ chết. Chết là hết, chính ra lại nhẹ nhàng. Tao chưa có vợ con nên chẳng vướng bận. Cùng lắm bố mẹ khóc vài ngày rồi cũng nguôi ngoai. Tao sợ bị thương. Tàn phế cả đời. Cả đời dặt dẹo và làm nhiều người khác khổ lây!.

- Ôi dào, mày cứ lắm chữ rồi nhiều chuyện. Có ngày bị một mảnh vào đầu đấy. Cho mày bi bô cười nói cả ngày, tha hồ mà yêu đời nhé! - Hải đùa độc mồm.

Tà chiều thì anh nuôi mang được cơm lên cho chúng tôi. Cơm nắm ăn với cá mắm. Con cá to bằng hai ngón tay bốc mùi khắm lặm.

Hải vừa ăn vừa chửi anh nuôi, cơm phùi ra cả mép: “Tổ sư mấy thằng nhát chết. Để bọn tao chết đói thế này lấy đâu ra sức mà đánh nhau”.

Cậu anh nuôi cỡ tuổi chúng tôi, trẻ măng, chớp cặp mắt ngân ngấn nước, uất ức bảo: “Tao là thằng thứ ba đấy, hai thằng kia đưa cơm cho chúng mày đều đi rồi!”. Tôi thấy vậy bảo: “Về đi, lát nữa là đến giờ pháo bắn!”.

Khi tôi đếm được mười tám hòn sỏi và ba cái vòng tay thì bọn địch phát hiện ra cửa hầm.

Lúc ấy vào buổi trưa, phát đạn đầu tiên nổ cách cửa hầm khoảng chục mét. Đá vỡ bay rào rào, bụi đá lẫn khói đạn quánh đặc.

Hải chồm dậy, chửi: “Bọn chó nó thay đổi vị trí bắn rồi!”. Ánh lửa đầu nòng của cối 82 ly lóe lên ngay sườn núi đối diện đã nói lên điều đó. Hải phản xạ tương đối nhanh, thò khẩu trung liên RPK qua kẽ hở bao cát bắn xối xả về phía có địch. Vỏ đạn văng ra đập côm cốp vào vách đá bắn cả vào mặt tôi.

Tôi xách khẩu phóng lựu M79 ra bắn cắc đùm, khoảng cách khá xa nên đạn không tới được mục tiêu. Quả đạn cối thứ hai nổ gần hơn, hơi đạn đập vào vách núi dội ngược dí bẹp tôi xuống đất.

Hốc đá chúng tôi nấp như công sự đá tự nhiên, đằng trước lại được che chắn bởi một vài tảng đá lẫn bao tải cát. Vì vậy, trừ trường hợp chúng chỉnh được đạn rơi chính giữa miệng hốc đá thì mới lo, chứ rơi vãi xung quanh thì chỉ như muỗi đốt gỗ. Đạn cối bắn cầu vồng, chỉnh chính xác đến thế không phải dễ.

Tôi đã nghe thấy tiếng súng chi viện của một vài hầm khác. Qua cơn bối rối ban đầu, Hải giờ đã bình tĩnh hơn, mắm môi bắn từng loạt ngắn, vai rung bần bật. Thỉnh thoảng lại quay sang nhìn tôi lóng ngóng không biết làm gì với khẩu phóng lựu vô dụng, quát: “Thỗn cái mặt ra đấy à! Tiếp đạn cho tao”.

Bên kia, địch bị đánh trả nên không thể bình tĩnh chỉnh góc bắn chuẩn, quả đạn tiếp theo vượt qua đầu chúng tôi rơi mãi phía sau lưng.
Đúng lúc đó tôi nhìn thấy một quầng lửa, chỉ kịp nghĩ trong đầu: “Thôi xong... DKZ! ” thì xung quanh lửa bùng lên rồi tôi chẳng hay biết gì nữa.
* * *

Hình như tôi có tỉnh dậy một lần, thấy xung quanh tối đen, đầu óc tay chân nặng trịch. Cảm giác chật chội khiến tôi nghĩ mình đang nằm trong quan tài. Mình đã chết, phần xác đã được chôn và phần hồn đang trên đường sang thế giới bên kia, đợi được phân loại lên thiên đường hay xuống địa ngục.

Tôi tỉnh lại lần thứ hai thấy mình đang nằm trên giường của bệnh xá sư đoàn. Khắp người quấn bông băng trắng toát và ê ẩm đau. Ánh nắng xiên qua tán cây chui vào cửa xổ vãi tung tóe xuống nền nhà. Đàn gà cục tác bới đất kiếm ăn ngoài vườn.

Tỉnh hay mê?. Tôi đưa tay lên dụi mắt để nhìn cho rõ. Cánh tay tôi nhẹ bẫng vuốt mãi không tới mặt. Tay phải cụt đúng đến khuỷu và máu rỉ ra ngoài băng đã khô mầu nâu sậm. Tôi bật khóc hu hu như trẻ con.

Nửa tháng sau khi tôi đủ sức để đi lại tập tễnh thì cũng là lúc được tháo băng. Khắp người tôi lồi lõm chi chít sẹo đang lên da non mầu hồng nhạt xấu xí vô cùng. Nhưng dù sao nó còn được che đậy bởi lớp quần áo bên ngoài nên không phải ai cũng nhìn thấy.

Còn cánh tay phải, người ta tháo khớp rồi khâu túm lại. Một khúc thịt, xương, da ngoe nguẩy bên hông trông rõ tởm. Thật khó diễn tả tâm trạng tôi khi ấy. Lúc khoác chiếc áo lên người, ống tay áo rủ xuống thõng thượt, gió thổi bay phần phật. Tôi bèn xắn lên cho gọn, một khoảng trống không gì bù đắp nổi hiện ra. Thế là lại thả tay áo xuống và đành phải giắt vào cạp quần cho gọn.

Hải thỉnh thoảng có sang thăm tôi. Cậu ta bị mảnh đạn phạt mất một miếng mông. Gặp tôi là than phiền: “Rơi mất mấy lạng thịt sấn!”, rồi nhìn tôi lắc lắc cái đầu: “Trông mày chán quá!”.

Tôi im lặng không muốn nói chuyện, thỉnh thoảng lắm mới ừ hữ một câu cho nó biết tôi chưa cụt lưỡi. Vài lần như thế nó cũng nản, chẳng qua độc thoại với tôi nữa.

Hải ra viện sớm hơn. Ngày về đơn vị, Hải xách ba lô qua chào. Nó nhìn tôi một lúc rồi lấy tay xoa xoa lên mái tóc cắt vội lởm chởm của tôi, chép miệng nửa đùa nửa thật: “Mày càng ngày càng vô hồn. Để tao kiểm tra xem có mảnh nào chui vào sọ không!”.

Tôi không muốn ai động vào người mình. Thói quen dùng tay phải bao năm không dễ mà bỏ ngay được, mẩu thịt xương da nơi bả vai tôi khua lên khua xuống mấy cái nhưng không chạm được vào tay Hải vì ngắn quá.

Lúc ấy tay trái mới có phản xạ hỗ trợ hất cánh tay của Hải đang để trên đầu tôi. Ra đến cửa còn nghe thấy Hải lẩm bẩm: “Thằng này hỏng rồi!”.
* * *

Đúng giờ như đã đăng kí, tôi ra bưu điện trung tâm. Cô nhân viên bưu điện tóc vàng mắt xanh mỉm cười xin lỗi: “Bạn anh không còn ở địa chỉ trên!”. Tôi phản ứng rất vô nghĩa: “Không có lẽ, bạn tôi ở đấy mà!”. Cô gái nhắc lại chậm rãi từng từ như thể tôi không hiểu tiếng Nga: “Bạn... anh... chuyển... đi... rồi... hiểu... chưa?”.

Có thể Hải đã về nước. Giai đoạn này công nhân về nước ồ ạt vì hợp đồng lao động chấm dứt trước thời hạn do Liên Xô tan vỡ. Cũng có thể Hải đã chuyển sang thành phố khác làm ăn chăng?.

Dù thế nào đi chăng nữa, thì sợi dây duy nhất để liên lạc với Hải đã đứt mà tôi thì đang rất cần sự giúp đỡ của cậu ta.

Các nữ công nhân nhà máy dệt dưới thành phố Hải đang đóng gói để về nước. Tùy vào vị trí và thâm niêm công tác mà mỗi người được đóng từ một đến vài khối hàng. Lương của các cô trừ chi tiêu hàng tháng, tiết kiệm  mua hàng chỉ được một góc thùng. Góc thùng còn lại được các chủ hàng trên Matxcova sử dụng và trả phí cho chủ nhân.

Niken lúc này ở nhà đang tiêu thụ mạnh, lãi tới dăm sáu lần. Loại này là mặt hàng cấm xuất. Mua được cũng không dễ, phải thông đồng với đám công nhân ăn cắp từ các nhà máy cơ khí ra.

Để thoát được sự kiểm tra của Hải quan Nga, họ đã nghĩ ra một loại thùng rất kì lạ.

Thoạt đầu mới nhìn thì cũng giống như bao thùng khác đóng bằng những thanh gỗ thông. Bên trong nhét hầm bà làng chăn ga gối đệm xô chậu nồi niêu bát đĩa cũ nát.

Đại khái là những mặt hàng, Hải quan khi kiểm tra cũng phải nhỏ lệ thương cảm cho những công nhân nghèo.

Thế nhưng, chì Hải quan đã được kẹp vào nắp thùng, thì đêm ấy họ cậy hai thanh gỗ bên hông được đóng rất lỏng lẻo, lôi hết đống của nợ ra để mai còn ngụy trang thùng khác. Nhét gì vào thùng đã kẹp chì  là tùy thuộc vào độ liều của chủ thùng và độ máu của chủ hàng trên Matxcova. Họ đã làm thế nhiều lần và đều trót lọt.

Công việc đang xuôi chèo mát mái thì bỗng đâu rơi xuống một nhóm người, chúng đòi thu phế bến bãi theo kiểu phia. Nếu không chấp nhận chi sẽ bị báo hải quan thu trắng. Chưa kể nếu giải quyết không khéo, chúng nổi khùng lên xin tí tiết các chủ hàng để dằn mặt thì còn khốn hơn.
* * *

Tôi khoác chiếc ba lô, bên trong có vài bộ quần áo với mười tám viên sỏi và bốn chiếc vòng còn sót lại lên vai trái rồi xuống xe buýt.

Nhà tôi cách bến xe buýt khoảng một cây số. Đi bộ hết chục phút nhưng tôi không về ngay mà tạt vào quán nước ven đường đợi trời tối.

Tôi không muốn mọi người trong khu tập thể nhìn thấy tôi trong bộ dạng này.

Tôi kéo vành mũ sụp xuống che hết nửa khuôn mặt, mua chục điếu thuốc lá cuốn ngồi hút dần. Gọi đến chén nước chè thứ năm thì bà cụ chủ quán không giấu được tò mò.

- Chú tìm ai phỏng?.

- Vâng, cháu tìm nhà người bạn! - Tôi nói lí nhí trong cổ họng.

- Khu nào thế chú?.

- Khu C! - Tôi nói tên khu tập thể nhà tôi.

- Ừ!. Khu ấy chú cứ đi theo lối này, bao giờ cụt đường thì đến nơi. Giờ này chắc nhà người ta chưa đi làm về. Chú cứ ngồi đây đợi! - Bà cụ lưỡng lự một lát rồi hỏi tiếp - Bà hỏi khí không phải, bạn chú hi sinh rồi phải không?..

- Vâng! - Chẳng hiểu sao tôi lại trả lời thế.

- Tội nhỉ!. Nhìn cánh tay chú là bà hiểu. Trên ấy khốc liệt lắm phải không chú?. Thanh niên khu này đào ngũ hàng loạt vì sợ phải lên biên! - Bà vừa nói, vừa lấy gấu áo chấm dòng nước mắt đang lăn ra từ khóe mắt nhăn nheo.

Tôi cũng không rõ, bà khóc vì người bạn tôi hi sinh, vì ống tay áo phất phơ của tôi, hay vì đám thanh niên đào ngũ?.

Tôi quay mặt nhìn đi chỗ khác vì không muốn nhìn thấy phụ nữ khóc. Cho dù người phụ nữ ấy là một bà già và giọt nước mắt ấy là của người mẹ.

Tôi sợ nhìn thấy nước mắt vì sợ phải đối mặt với một tinh thần yếu hèn trong cái thể xác đàn ông tàn tạ của tôi. Càng sợ hơn nếu giọt nước mắt đó được ban phát bởi sự thương hại.

Tôi ngồi cho đến lúc bà cụ dọn hàng đi ngủ. Đường phố vắng lặng, tôi lầm lũi đi trong ánh đèn đường vàng vọt. Bóng tôi đổ dài xuống nền đường và tôi chợt phát hiện ra rằng, mình đang có xu hướng lệch người về một bên do cơ thể thiếu sự cân bằng.

Chỉ còn vài trăm mét là đến mái nhà nơi tôi sinh ra và lớn lên. Vậy mà tôi lại không muốn trở về căn nhà đó.

Cha tôi là một công chức, cả đời an phận sống dựa vào đồng lương còi cọc chỉ đủ mua báo đọc hàng tháng.

Gánh nặng gia đình dồn hết lên vai mẹ tôi, một người đàn bà lắm bệnh nhiều tật. Mẹ tôi phải xin nghỉ mất sức, về nhà làm đủ các nghề để có bữa rau bữa cháo nuôi các con và ông chồng.

Cuộc mưu sinh vất vả khiến cho hôn nhân trở nên ngột ngạt. Chẳng người nào đủ can đảm để bỏ người kia nhưng năm ngày ba trận lớn đánh đuổi nhau vòng quanh khu tập thể, hai trận nhỏ chì chiết nhiếc móc suốt đêm.

Cách thể hiện duy nhất của cha tôi để thấy mình còn chút uy danh trong xã hội, là chửi đổng hàng xóm và đem các con ra đánh cho đỡ ngứa mắt. Lũ chúng tôi, những đứa trẻ sống giữa hai “làn đạn” của cha mẹ, thấy gia đình nhiều khi như thể địa ngục.

Tôi nhập ngũ ngay khi đến tuổi luật định. Gần hai năm sau, tôi mười chín tuổi, tàn phế lê bước quay trở lại ngôi nhà địa ngục bởi chẳng biết đi đâu về đâu.

Tôi giận đời, giận mình sao không chết quách cho rồi trong cái hốc đá đó. Để bây giờ thân tàn ma dại thế này đây.

Người mở cửa là cha tôi. Các em đã ngủ, lăn lóc dưới sàn gạch của căn hộ rộng mười hai mét vuông. Tôi khẽ chào cha rồi lặng lẽ tìm một góc bên cạnh các em. Cha tôi vẫn đứng chỗ cánh cửa, chống nạnh nhìn tôi từ đầu đến chân rồi chua một câu: “Đẹp nhỉ, oai phong lắm!”.

Mẹ tôi nằm trên cái giường duy nhất nơi góc nhà, nhỏm dậy búi lại mớ tóc rũ rượi, khóc nức nở: “Sao lại ra nông nỗi này hả con. Ông giời cứ đày đọa tôi mãi thế này!” Tôi bảo: “Con lậy mẹ, đừng khóc nữa!”.

Cha tôi đau đớn: “Tay chân thế này thì xúc đất mà đổ vào mồm!”. Tôi định bật lại: “Cha đủ cả hai tay mà cũng có nuôi được bản thân đâu”. Nhưng hèn, nên lại nói chệch đi: “Con sẽ tự nuôi con, đừng lo”.

Cũng phải thôi, thằng hèn lại đẻ ra thằng hèn, tôi không dám bật lại cha cũng có căn nguyên của nó.

Đây là quãng thời gian nặng nề nhất trong đời. Tôi giam mình trong nhà, trong bộ quần áo dài từ đầu đến chân và chẳng tiếp xúc với ai. Cảm giác tù túng còn khủng khiếp hơn trong hốc đá trên điểm cao.

Ánh mắt dò xét của mọi người xung quanh còn sắc hơn mảnh đạn. Tôi bị cơn đau vết thương hành hạ. Cơn đau kì lạ, nó không phải ở nơi khuỷu tay mà xuất hiện ở cẳng tay đã mất. Tôi cảm thấy rất rõ, bàn tay phải giập nát, xương cổ tay gẫy chọc thủng da lòi ra ngoài nhọn hoắt, trắng hếu. Tôi đau vật vã mỗi khi trái nắng trở trời.

Bố tôi chửi: “Mày lại làm trò!”. Bác sỹ bảo: “Cơn đau là có thật, nhưng không thuốc nào chữa nổi. Cơn đau được ghi nhớ trong bộ não, thỉnh thoảng nó lại phát tín hiệu như thật. Bệnh này của bác sỹ tâm lý!”. Chẳng tìm đâu ra bác sỹ tâm lý trị liệu, chỉ có bác sỹ chữa bệnh tâm thần, chữa điên, mà tôi lại chưa điên mới khổ.

Tôi chỉ dám ăn một ngày hai bữa, mỗi bữa một lưng cơm vì thấy mình là gánh nặng, là kí sinh trùng của cha mẹ mình.

Cha tôi mỉa mai: “Ăn nhiều tay nó cũng không mọc dài ra đâu!”. Nước mắt chan bát cơm, tôi ngẹn ngào: “Cho con vay bát cơm!”.

Vay tức là tôi sẽ phải trả.

Tôi tập viết tay trái và lao đầu vào ôn thi đại học. Chỉ có cách ấy, may ra tôi mới cứu tôi thoát khỏi địa ngục và bệnh điên đang cười nói rình rập ngoài cửa.

Trời chẳng phụ lòng người. Tôi may mắn đỗ đại học, cộng thêm điểm ưu tiên thì vừa đủ điểm đi Tây.

Lần thứ hai tôi xách túi ra khỏi ngôi nhà của mình và không mong quay trở về.

Cha tôi nhìn theo không nói gì. Có lẽ ông đang nghĩ là nhà mình sắp sửa có nồi áp suất đun cho đỡ tốn dầu nên cố giữ những lời cay độc không để nó tuôn trào.
* * *

Tôi chắt chiu dành dụm từng đồng học bổng để mua hàng gửi về trả những bát cơm vay. Còn lại một ít, tôi đi đặt cánh tay giả. Cánh tay bằng nhựa, rỗng ở giữa để có thể đút được mẩu thịt xương da của tôi vào.

Cánh tay giả mầu nâu hơi sậm hơn so với da người thật, đủ cả bàn tay lẫn ngón tay, có dây buộc vào bắp tay cho khỏi rơi. Hình dáng khum khum trông không được tự nhiên lắm.

Nhưng có nó, tôi tự tin hơn rất nhiều. Tuy không thể mặc được sơ mi cộc tay, nhưng sơ mi dài tay không cần phải giắt ống tay vào cạp quần nữa. Tôi ướm thử bộ comple, ngắm nghía trước gương, thấy mình không đến nỗi tồi.

Cuộc sống khó khăn hơn rất nhiều sau chính biến năm 1990. Giá cả tăng vọt, học bổng của tôi chỉ đủ ăn một tuần là nhẵn túi.

Một số bạn đã bỏ học đi làm, số khác được gia đình bên nhà gửi tiền ăn sang mới có thể học tiếp.

Tôi lao vào làm bất cứ cái gì có thể làm được để có tiền nuôi sống bản thân và theo đuổi chuyện học hành. Tôi đã đồng ý áp tải chuyến hàng đó xuống Riga và nhận trách nhiệm dàn xếp với nhóm người kia. Mức thù lao được trả đủ trang trải cuộc sống tằn tiện cho đến hết năm.

Trong hoàn cảnh khó khăn của tôi thì đó là một cơ hội quí. Hơn nữa, từ trong sâu thẳm, còn có một động cơ khác thôi thúc tôi nhận công việc này. Tâm trí tôi, muốn chứng minh với tôi, muốn cho tôi thấy tôi không phải là kẻ đớn hèn.

Những chủ hàng chọn tôi cũng có lý do riêng, vì theo như họ nói: “Hình như chúng nó là lính!”.

Lính nói chuyện với lính ắt dễ hơn rồi.

Tôi nghĩ, nếu có Hải giúp đỡ thì mọi việc sẽ  hanh thông, vì cậu ta chắc phải quen những kẻ nổi loạn kia. Hải về nước rồi cũng chẳng sao, tôi sẽ đem lí lịch ra để thương lượng vậy.

Xe hàng đến địa điểm tập kết vào lúc nửa đêm. Đây là khu đô thị mới, nằm bên kia sông. Dãy nhà của các cô công nhân dệt ở cao tám tầng. Nó được xây dựng chưa lâu, kiến trúc khá hiện đại và không mang dáng dấp của kí túc xá, ngoại trừ sự xuống cấp cố hữu của những căn nhà có người Việt ở mà bằng mắt thường cũng nhận ra. Nhiều phòng đèn vẫn sáng.

Nhà ở dành cho nữ công nhân nhưng nam giới chiếm phân nửa. Họ là công nhân của các nhà máy khác trong thành phố, bỏ sang đây ở cùng cho có đôi lứa. Dưới sân dãy nhà la liệt các thùng hàng gỗ thông đang đóng dở dang.

Từ trên gác có mấy người ngó qua cửa sổ xuống sân. Tôi biết là sẽ có chuyện nên chuẩn bị tinh thần để đàm phán. Nếu họ cũng từng là lính, mọi chuyện sẽ dễ thở hơn nhiều. Còn không, thì tuỳ cơ ứng biến.

Chỉ một thoáng đã thấy họ xuất hiện bên chiếc xe chở hàng.

- Xe chở gì thế này? - Một người đá đá vào lốp xe và gằn giọng hỏi.

- Một ít hàng của mấy người bạn! - Tôi trả lời.

- Niken đúng không? - Kẻ nào đó khẳng định ngay.

- Đúng vậy? - Tôi nhũn nhặn kiên trì tiếp chuyện.

- Này ông!. Ông là khách lạ chưa biết luật ở đây thì tôi vào đề thẳng nhé. Chỗ này ít nhất cũng phải vài tấn, vị chi là ngần này tiền, các ông chuyển về đến Việt Nam vứt đi cũng được vài lần thế. Vậy bây giờ các ông để lại một ít tiền, thì anh em sẽ vô tư. Còn không thì mất hết. Tuỳ các ông chọn lựa!.

- Ông cứ bình tĩnh, rồi đâu sẽ có đó! - Tôi tìm cách hoãn binh để thăm dò đối tượng.

- Đưa đây năm chục vé, rồi thích làm gì thì làm! - Một người trong bọn nói.

- Tôi lấy đâu ra ngần ấy tiền!.

- Thằng chó, tao đùa với mày đấy à? Bố vụt cho một trận rồi báo Công an thu hết hàng bây giờ! - Chúng buông lời đe dọa phủ đầu khi tôi còn chưa đưa ra con số thỏa thuận.

- Các ông phải hiểu cho tôi. Tôi cũng làm công thôi!.

- Thế không có tiền thì cho bọn tao xin vài tạ niken vậy! - Hắn nói xong thì định nhảy lên xe.

- Ông không được làm thế! - Tôi cương quyết ngăn cản, dùng tay kéo áo tên kia lại. Cánh tay phải sõng sượt bên nẹp quần. Tình hình đàm phán diễn biến theo chiều không kiểm soát được.

- A!. Thằng này láo!…

Chưa dứt lời một người trong nhóm đã nhào vào tôi rất nhanh. Chúng bẻ quặt tay phải của tôi ra đằng sau.

Tôi quẫy mình, cánh tay nhựa tuột khỏi khớp nối, tụt qua ống tay áo và nằm gọn trong tay kẻ kia. Dưới ánh đèn đường, tôi nhận ra một thoáng kinh hoàng hiện trên khuôn mặt người đang cầm cánh tay tôi.

Hắn giơ cánh tay vẫn còn dây buộc lòng thòng lên cao nhìn một lần nữa cho kỹ, hộc lên một tiếng và ném xuống đất.

Không phải là ném mà là buông tay để nó rơi tự do. Có lẽ hắn sợ, hắn tưởng bẻ gãy tay đối phương?.

Không phải thế! Trong khoảnh khắc, hắn nhận ra trước mặt mình là một người lính như hắn.

Thậm chí còn không may mắn bằng hắn khi trở về chẳng nguyên vẹn.

Lòng trắc ẩn của một người lính tưởng đã mất bỗng dưng trở về. Những người có mặt ở đó đều bàng hoàng trước những gì xảy ra quá đột ngột.

- Tôi… tôi… xin lỗi ông! - Người đó lấy lại được bình tĩnh và nhặt cánh tay nhựa lên đưa lại cho tôi và hỏi - Bị thương ở đâu?.

- Mặt trận H - Tôi trả lời - Mà sao đang nhiên ông lại bất ngờ bẻ tay tôi vậy? - Tôi vừa hỏi vừa cười. Tôi hiểu được tình hình đã thay đổi theo chiều hướng thuận.

- Nói thật với ông, tôi tưởng ông để dao trong ống tay áo. Vì tôi thấy ông chỉ sử dụng tay trái, còn tay phải lúc nào cũng thấy khum khum!.

Không khí ngột ngạt sặc mùi đao búa bỗng cởi mở một cách chân tình rất lính.

Mọi người đều nói cười và không ai nhớ rằng cách đây mấy phút họ vẫn còn hùng hổ doạ nạt để bắt tôi nộp phế.

Một người bảo: “Lên làm chén rượu đã. Ông cứ bảo chúng nó bốc hàng đi, không sợ mất đâu!”.

Tôi cười phụ họa: “Mất thế chó nào được!” và theo họ lên phòng.

Tôi đang rất vui vì chuyện phức tạp lại được hóa giải rất dễ dàng bằng một thứ tình cảm rất mộc mạc: đồng đội.

Sự bất ngờ này chưa hết, sự bất ngờ khác lại ập đến. Ngồi chính giữa căn phòng tôi được mời lên uống rượu là một người đàn ông lưng to như cánh phản, tóc tai bù xù tổ quạ, mà mới chỉ thoáng qua, tôi đã nhận ra đó là ai.

Tôi bảo: “Tao tưởng mày đã về nước?”.

Hải cười: “Về đi cày hả? Nhà máy giải tán, tao sang đây ở với bọn này cho vui”.

Tôi hỏi lại: “Sang làm đại ca?”.

Hải bảo: “Đại ca đại cốc gì! Toàn anh em lính tráng, bảo nhau mà làm ăn!”.

Tôi cười: “Thế là hôm nay tao làm mất cơ hội làm ăn của chúng mày!”.

Rượu vào biêng biêng. Mọi người nâng lên đặt xuống liên tục.

Tôi thấy nóng nên cởi phăng chiếc áo đang mặc. Gió mang hơi lạnh từ bờ sông thổi mát túm da khâu dúm dó đầu khuỷu tay làm tôi giật mình. Hóa ra từ lúc tay bị vặn gẫy, tôi chưa xỏ lại. Đây là lần đầu tiên kể từ khi mua cánh tay giả, tôi quên đeo.

Cũng là lần đầu tiên từ ngày rời mặt trận, tôi để cánh tay trần không ngụy trang trước đám đông. Lại chạm cốc. Lại những câu chuyện xa lắc lơ ùa về rôm rả.

Cuối chầu rượu, Hải thì thầm vào tai tôi: “Mày lấy được mảnh đạn trong sọ ra rồi à?”. Rồi nó ngồi tự cười rũ rượi như ma làm.

Tôi bảo: “Đừng tự sướng thế, cả tao lẫn mày và những thằng kia đều dính mảnh đạn vô hình trong não đấy!”. Cả đám nghe thấy vậy, phản xạ tự nhiên xoa xoa tay lên đầu kiểm tra và hê hê cười như trẻ thơ.
* * *

Hai ngày sau tôi quay trở lại Matxcova. Tôi lôi mười tám viên sỏi và bốn chiếc vòng đồng làm từ vỏ đạn dưới đáy va ly ra lau chùi rồi đặt trang trọng trong góc phòng. Những vật kỷ niệm này là một đoạn đời không thể quên. Bần thần một lát, tôi lấy giấy bút ra và viết: “Cha mẹ và các em thương yêu...”.
                                                                       
Hà Nội tháng 05/2007 (Bài viết đã được in trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, tháng 6/2007)
-------------------------------------------------
* Hình ảnh minh họa: Cuộc sống, chiến đấu của quân và dân ta trong những năm chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, đánh trả quân Trung Quốc xâm lược (1979-1991).
                                                                           



27 tháng 7, 2012

NAY CHỈ CÒN MỘT THỨ ĐỂ YÊU...

Đỗ Trung Quân - Thằng em tôi đi K trở về

3 tháng vẫn chỉ quen ngủ võng

chân mẹ dù đi nhẹ nửa khuya

 nó cũng vùng lăn tay quờ tìm súng

Mẹ ứa nước mắt:

"Về nhà rồi con!".

Tôi ra sân nửa khuya đốt thuốc

Tiếng chân mẹ lại lần mò tìm xoa đầu:

"Anh em mày ngủ lại đi con

Về nhà rồi!"...

Nó đi lính sang K sau tôi vì hiệu lời triệu của một thằng tôi không buồn nhắc tên nữa

Đồng đội tôi nhiều người bỏ mình

Bạn bè nó cũng thế,bao nhiêu thằng hy sinh

Chiến tranh ấy mà.

Ta còn sống nghĩa là còn may mắn

Ác mộng rồi cũng qua…


Hôm nay bỗng khác

Thằng từng hô hào đánh Tàu cho tan tác

Thành thằng trấn áp bất kể trẻ già

Tôi cười khẩy

Máu chúng tao đã chảy tao có quyền cười

vào bọn đười ươi

Thắt cà vạt [ nói rõ cái cà vạt chẳng tội tình gì ]

..........

Tôi lâu rồi

Không làm thơ tình nữa

Có yêu iếc ai đâu mà làm

Những người tình xưa  giờ ai cũng vẹo sườn

vì con cái

Thơ ấy mà

Yêu - mới có cái để mà mong ngóng

Nay tôi chỉ còn một thứ để yêu

..............

Tiếng nghẹn ngào của sóng...
-------------------------------
* Hình ảnh Quân Tình nguyện Việt Nam rút khỏi Campuchia, về lại Việt Nam chỉ có tính minh họa, không liên quan đến nội dung bài viết.

VIẾT CHO CON GÁI TỪ TRƯỜNG SA

Viết cho con gái Mai Trần Tường Linh
-------------------------------------------

Con gái yêu của Ba!

Ba đang ở Cô Lin - Nơi thường gọi là đảo chìm, nằm trên rặng san hô xa tít, thăm thẳm và xung quanh mây trời.

Nơi đây đúng 20 năm trước, gần 70 chú – bác bộ đội Hải quân đã hy sinh.

Gọi là hy sinh theo đúng câu chữ trong văn phạm và những giấy tờ, hay trong các buổi lễ nghĩa.

Chứ nói đúng ra, các chú, các bác bị lính Trung Quốc giết chết bằng đạn tiểu liên AK bắn gần, bởi lưỡi lê sắc nhọn, bởi báng súng nặng trịch và đại đa số đều chìm xuống biển, chết mất xác.

Các chú, các bác ấy nằm xuống cũng chỉ vì cái dải san hô xanh thẳm, xa hút ấy.

Nhìn trên bản đồ trong google, dù có phóng to đến cỡ nào thì con cũng khó mường tượng ra cái khoảng biển xanh đó và chắc con sẽ hỏi: “Chỗ đó là gì?”.

"Chỗ đó" là đất đai của Tổ quốc mình, con ạ!.

Lát nữa (bây giờ là 11 giờ 30 phút), đúng 14 giờ, Ba và mọi người trong Đoàn Công tác sẽ làm lễ thả hoa, tưởng niệm những người đã nằm xuống cách đây 20 năm trước.

Mọi người trong phòng ở của Ba trên tàu HQ-996 nói: Sẽ thả xuống biển, nơi những người đã nằm xuống đấy đủ cả bia, rượu, thuôc lá, ớt xanh, kẹo cao su… vì “trần sao, âm vậy”.

Ba cũng làm như vậy với mọi người và Ba cũng muốn thả xuống đấy cả tâm tình, tấm lòng của Ba mẹ, của con và em, của ông bà, cùng bao nhiêu người khác nữa ở đất liền, để những người trai trẻ đã nằm xuống đấy không uổng phí, không chạnh lòng.

Con chưa hiểu thế nào là Tổ quốc!.

Con còn chưa học đến những bài văn, thơ trong sách Tiếng Việt nên càng chưa hiểu.

Thế nhưng, có bao nhiêu người quyền cao chức trọng, giàu có, cũng chẳng hiểu được khái niệm Tổ quốc.

Mù mờ và hồn nhiên, nhiều người còn ví: Tổ quốc chỉ đơn giản là những đêm hát Karaoke, đám con trai – con gái ôm nhau gào lên bài hát cách mạng hoành tráng trong hơi bia rượu, thuốc lá ngoại sặc sụa…

Buồn cười thế đấy nhưng đó lại là sự thật.

Ba chợt nhận ra vậy bởi những ngày sống ở đất liền, Ba cứ cắm đầu vào nỗi lo cơm áo gạo tiền, nỗi lo làm tròn trách nhiệm, hoàn thành nhiệm vụ.

Việc viết lách luôn nhìn thấy mặt trái của cuộc sống và cũng luôn thất vọng, cay nghiệt.

Hở ra một chút là thở dốc, là ngủ vùi để sang hôm sau lại sấp ngửa đi làm, lo toan bề bộn.

Nhiều lúc, Ba cứ nghĩ mình là cái máy, chỉ biết làm việc, làm việc và... làm việc.

Thế nhưng đến hôm nay, khi đã lênh đênh cả tuần trên biển.

Mở mắt là thấy biển, quay sang 4 phía đều thấy biển.

Đi ngủ ban đêm, tỉnh giấc tưởng có con đạp chân vào mặt ba cũng thấy biển.

Biển ngoài này xanh biếc hoà với trong vắt mây trời, mặn mòi mùi gió,

Ba mới thấm thía thế nào là Tổ quốc:

Tổ quốc đơn giản chỉ là bình minh đỏ rực trên đảo Song Tử, nơi có cây đèn biển nhẫn nại cả đêm chớp mắt sáng cho những con tàu tỏ đường thông lối;

Tổ quốc là màu xanh của biển cả dưới mạn tàu, nơi có những con cá chuồn thấy động, bay vút lên đầu ngọn sóng như thể mơ ước bay cao, bay xa cùng cánh hải âu bàng bạc;

Tổ quốc là hòn đảo nhỏ, nơi có các chú bộ đội ở cùng quê mình, cùng giọng nói nhà mình, có vợ và em bé cũng ở gần nhà mình;

Tổ quốc là nơi có màu xanh của câu phong ba, cây bàng vuông, cây tra biển trổ hoa trắng tinh, toả màu hương ngan ngát…

Xa hơn nữa, ba thấy Tổ quốc của mình ở góc phố Hà Nội, nơi đấy Ba thường ngồi đánh vật với câu chữ đến đêm khuay, nơi có 2 mặt trời nhỏ là con và em Khoai say nồng trong giấc ngủ thiên thân...

Tổ quốc gần gũi và thân thương, như thể những người gần nhất, cạnh bên nhất và bình dị nhất và không thể thiếu được, ở ngay bên mình, trong nhà mình con ạ!..

Ở đảo chìm Cô Lin này, qua mắt thường và qua độ zoom của ống kính máy ảnh Nhật (một cường quốc đã từng thua trận trên đất nước mình), Ba nhìn thấy chiếc tàu hiện đại của Trung Quốc đang ngang nhiên án ngữ trên biển.

Chiếc tàu ấy lớn quá, hiện đại quá. Nhưng dù có lớn và hiện đại thế nào thì nó cũng giống như chiếc tàu buôn gắn đại bác của Tây Dương đã từng lừng lững tiến vào cảng Sài Gòn, khiến bao nhiêu người Việt mình khiếp đảm về cái gọi là “văn minh phương Tây” khi ấy.

Ban đầu là sợ, nhưng rút cục, những người Việt vẫn đánh chìm những thứ của “văn minh phương Tây” kềnh càng ấy.

Ông cha mình là vậy, Tổ quốc mình là vậy và những người Việt chân chính của chúng ta là vậy.

Hôm nay chúng ta có thể choáng ngợp, có thể ngập ngừng vì cái gọi là “định hướng”, đã ngăn cản ý nghĩ, việc làm của người ta.

Nhưng rút cục, cái cũ cũng sẽ bị đào thải để nhường chỗ cho cái cũ…

Cái mới ấy, đơn giản là Ba muốn kể cho con gái yêu và rất mực thông minh của Ba.

Không lâu nữa, con sẽ cùng bạn bè chế tạo ra những con tàu hiện đại hơn, hoành tráng hơn để đánh đuổi những con tàu đang chắn trước mặt Ba và đồng độ của Ba hôm nay.

Con và bạn bè sẽ khẳng định được vị thế Tổ quốc, để không phải quỵ luỵ, nhường nhịn và nuốt nước mắt khi những người con lính bị bắn chết, bị đâm chết bằng lưỡi lê, bị ngắt quãng tuổi thanh xuân 19-20 bằng dao găm oan nghiệt…

Máu nào chẳng đỏ, nước mắt nào chẳng trong.

Ba hiểu điều ấy bởi ba đã gặp những người mẹ ở Quảng Bình - những người đẻ ra các chú, các bác đã nằm xuống ở ngay trên vùng biển Ba đang neo tàu.

Người mẹ nào chẳng xót xa, chẳng vật vã và không thể sống yên hàn khi đứa con mình rứt ruột đẻ ra lại hy sinh, khi vẫn còn qúa trẻ.

Càng không thể sống nổi khi những giọt máu đó chết vùi trong lòng biển vì đạn quân dụng, vì lưỡi lê, vì dao găm của những kẻ đang nhơn nhơn tươi cười trên màn hình tivi mỗi ngày, mỗi đêm…

Thế mới biết nỗi đau câm lặng, nén lại là đáng kính phục con ạ!.

Như Ba - Đã từng câm lặng trước ngôi nhà dột nát, hoang tàn của bà mẹ Quảng Bình có người con độc nhất hy sinh trên vùng biển Trường Sa này.

Những lúc ấy, Ba chỉ nghĩ: Con phải học tốt hơn, giỏi hơn để Ba mẹ không tủi hổ, để những người con đất Việt không xấu hổ ngậm đắng nuốt cay và con sẽ giỏi để làm tiếp những gì mà ba và bè bạn của Ba đã, đang và sẽ làm cho đất nước này; cho Tổ quốc này và cho vùng biển đảo thân thương nơi xa tít, thăm thẳm này, con gái yêu của Ba nhé!..

Vùng biển Cô Lin - Gạc Ma

Trước lúc làm lễ tưởng niệm 64 cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam hy sinh ngày 14/3/1988

26 tháng 7, 2012

MỘT NỬA SỐ LIỆT SĨ HY SINH CHƯA ĐƯỢC YÊN NGHỈ TẠI NGHĨA TRANG

Vĩnh Quyên - Ngồi viết phóng sự cho Chương trình Talk: " Tháng 7 - Nhớ về đồng đội", tỷ mẩn nhặt ra những số con số:

1.Theo số liệu thống kê, số Liệt sỹ của chúng ta hy sinh trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và Bảo vệ biên giới là hơn 1 triệu người.


2. Hơn 1 triệu Liệt sỹ hy sinh để lại sau lưng bằng ấy mẹ già, vợ dại, con thơ..


3.Nghĩa trang Liệt sỹ đường 9 là nơi yên nghĩ của hơn một vạn các Anh hùng, Liệt sỹ đã từng chiến đấu, phục vụ chiến đấu trên mặt trận đường 9 và ở đất bạn Lào trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp , Mỹ.


4. Suốt 16 năm (chủ yếu là 12 năm chiến đấu), Bộ đội Trường Sơn, thanh niên xung phong đã anh dũng hy sinh 22.000 người.

Bị thương, bị bệnh, bị chất độc da cam... hơn 30.000 người.

Nghĩa trang Liệt sỹ Quốc gia Trường Sơn là nơi quy tụ 10.333 phần mộ của các Liệt sỹ.


5. Chỉ tính trên chiến trường B3 Tây Nguyên đã có gần 50.000 Liệt sỹ hy sinh trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và bảo vệ Biên giới Tây Nam.

Sư đoàn 320 (Đoàn Đồng Bằng) và Sư đoàn 10 (Đoàn Đắc Tô) của Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên), mỗi đơn vị đều có hơn 10.000 Liệt sỹ nằm lại các chiến trường.

 
6. Theo thống kê của Cục Người có công, Bộ LĐ-TB-XH, trong số hơn 1 triệu Liệt sỹ hy sinh, hiện có 318.953 mộ Liệt sĩ khuyết danh hoặc chưa đủ thông tin và 237.297 Liệt sĩ chưa tìm được hài cốt.

Tức là, hiện có 556,250 liệt sĩ (bằng ½ tổng số Liệt sĩ hi sinh trong 2 cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc) còn chưa được an nghỉ tại các nghĩa trang Liệt sỹ..


7. Điều này cũng có nghĩa là: 556,250 gia đình đã cống hiến con em, chồng, cha của mình cho sự nghiệp độc lập của Tổ quốc, còn chưa được biết người thân của mình đã ngã xuống và nằm lại ở nơi đâu?.

Hơn thế nữa, rất nhiều trong số hơn nửa triệu gia đình đã biết nơi an nghỉ của Liệt sĩ, nhưng cũng chưa từng được biết Liệt sĩ đã sống, chiến đấu và hi sinh vì Tổ quốc như thế nào?..

* Hình ảnh minh họa trong bài viết: Mộ Liệt sĩ hy sinh trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, chống quân Trung Quốc xâm lược, hiện đang nằm tại NTLS Mường Khương và Bản Qua (tỉnh Lào Cai).

KHÚC TƯỞNG NIỆM VỊ XUYÊN

Nhà thơ Thanh Thảo - Lần đầu tiên lên Hà Giang, địa điểm đầu tiên mà tôi chọn để dừng lại rất lâu là Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia (NTLS) Vị Xuyên, cách TP. Hà Giang 18 km.

Thành kính thắp hương trên một số ngôi mộ LS xong, tôi tìm gặp và hỏi chuyện một người Quản trang ở NTLS này.

Anh Nguyễn Sĩ Nguyện, 35 tuổi, làm Quản trang ở NTLS Vị Xuyên từ năm 2001, lại may mắn có nhà ở cạnh nghĩa trang nên gần như suốt cả ngày anh  bận rộn với bao nhiêu công việc có tên và không tên tại đây.

Anh Nguyện cho biết: NTLS Vị Xuyên có 1706 ngôi mộ, trong đó chỉ có 8 ngôi mộ là của các LS chống Pháp và chống Mỹ, còn lại 1698 ngôi mộ là của các LS hy sinh để bảo vệ chủ quyền quốc gia ngay trên mặt trận Vị Xuyên từ năm 1984 tới 1991.

Khi phía Trung Quốc chủ động chọn Vị Xuyên là địa điểm tấn công chính trong một chiến dịch xâm lăng cục bộ vào Hà Giang năm 1984, một trận chiến khốc liệt đã xảy ra tại Vị Xuyên vào ngày 12/7/1984.

Quân Trung Quốc từ những đỉnh cao mà họ chiếm lĩnh trước đó, nã pháo cấp tập suốt trong 8 giờ đồng hồ liền, hủy diệt tới từng mét vuông đất Vị Xuyên, trước khi tung những Trung đoàn "sơn cước” (lính đặc biệt tinh nhuệ của họ), tràn ngập các trận địa của bộ đội Việt Nam, dùng chất nổ đánh thẳng vào các hầm hào bảo vệ biên giới của bộ đội ta.

Tôi đọc tên tuổi và năm sinh của các LS Việt Nam từ 30 tỉnh thành trong cả nước đã xả thân bảo vệ mảnh đất Vị Xuyên này.

Hầu hết, đó là những thanh niên rất trẻ, có người tròn 18-20 tuổi, mới vào bộ đội được 3 tháng, sinh quán từ nhiều địa phương khác nhau trong cả nước.

Một nỗi đau không cách gì tả được ngùn ngụt cháy trong tôi.

Tha lỗi cho tôi, vì cho mãi tới năm ngoái, tôi mới biết tới địa danh Vị Xuyên và những trận đánh đẫm máu ở đó, nơi các chiến sĩ chúng ta đã lớp lớp hy sinh để bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc.

Tôi chắc, cũng có rất nhiều người như tôi, biết quá muộn về những gì xảy ra ở Vị Xuyên Hà Giang vào năm 1984.

Không phải trận đánh bảo vệ biên cương nào chúng ta cũng thắng, dù chúng ta có chính nghĩa và chỉ tự vệ để gìn giữ đất nước mình.

Trận Vị Xuyên cũng như vậy.

Nhưng dù phải chịu âm thầm trong bao nhiêu năm, máu của hàng nghìn hàng vạn LS chúng ta đổ ra trên mảnh đất Vị Xuyên là không uổng.

Sự hy sinh ấy đã dựng lên một bức trường thành lẫm liệt đối diện với dã tâm xâm lược, nó sừng sững và dữ dội hơn cả những dãy núi đá Hà Giang.

Đó là bức trường thành của lòng yêu nước, của ý chí xả thân bảo vệ từng tấc đất biên cương Tổ quốc.

Kẻ thù đã phải rút chạy về bên kia biên giới, nhưng những ngôi mộ LS ở Nghĩa trang Vị Xuyên nhắc nhở chúng ta đừng bao giờ quên một điều: "Tổ quốc Việt Nam còn tồn tại tới ngày nay, đã được dựng xây và bảo vệ bằng máu, bằng rất nhiều máu như thế đấy!".

Ngày 27/7, xin dâng khúc tưởng niệm đớn đau này lên các linh hồn LS ở trong và ngoài nghĩa trang Vị Xuyên, bởi có rất nhiều hài cốt liệt sĩ hy sinh năm 1984 còn nằm đâu đó trong lòng đất Vị Xuyên mà những cuộc tìm kiếm kiên nhẫn vẫn đang tiếp tục để đưa các anh về an nghỉ tại nghĩa trang quốc gia này.

Tôi gọi Nghĩa trang Vị Xuyên là “Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia”, không chỉ vì số lượng các LS an nghỉ tại đây, mà còn vì đã có tới 30 tỉnh thành (gần một nửa số tỉnh thành trong nước), đóng góp xương máu con em mình trong trận chiến giữ gìn mảnh đất Vị Xuyên...

Dù trên cổng nghĩa trang chỉ ghi đơn giản: “Nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên”.
--------------------------------------------------------------------------------
* Nhà thơ Thanh Thảo gửi riêng bài viết cho MTH
* Hình minh họa chụp tại NTLS Vị Xuyên (Hà Giang) trong chuyến khảo sát, tìm hiểu các NTLS tại các tỉnh biên giới phía Bắc, tháng 4/2012
 

   
                                   

           

RƯỢU THIÊNG

Nhà thơ Thanh Thảo - Từ Hà Giang, nơi địa đầu cực bắc Tổ quốc, tôi mang về Quảng Ngãi 2 chai rượu.

Đó là loại rượu nấu từ ngô mọc trên cao nguyên đá Đồng Văn, được hạ thổ ngót 5 năm, loại rượu người Hà Giang dùng để đãi khách quí.

Khi trao 2 chai rượu từ 2 nguồn khác nhau cho tôi, 1 nguồn từ nhà anh Hùng ở bản Tả Ván (huyện Quản Bạ), 1 nguồn từ nhà anh Tuấn (huyện Đồng Văn), 2 anh đã trân trọng nhờ tôi mang rượu về Quảng Ngãi, rót lên mộ các liệt sĩ quê Hà Giang và các tỉnh phía Bắc đã hy sinh tại chiến trường Quảng Ngãi năm xưa.

Tự nhiên, tôi run tay khi cầm 2 chai rượu, vì tôi biết, đó là rượu thiêng gửi từ một vùng quê để dùng cho một nghi lễ thiêng liêng tại một vùng quê khác.

Hành trình mang 2 chai rượu về tới Quảng Ngãi cũng có điều đáng kể.

Khi làm thủ tục ở sân bay Nội Bài, chúng tôi đã cẩn trọng để 2 chai rượu vào va-ly và gửi theo hành lý.

Khi đã tưởng yên ổn vì đã vào phòng chờ, tôi nhận được một cú điện thoại. An ninh sân bay yêu cầu tôi ra quầy làm thủ tục có việc.

Tôi biết ngay, đó là việc gì rồi. Tôi đưa Thẻ Nhà báo và thẻ lên máy bay, nhờ nhà giáo Nguyễn Tấn Huy ra quầy thủ tục.

Tại đó, các nhân viên an ninh đã yêu cầu chúng tôi gửi lại 2 chai rượu mà họ gọi là “rượu nấu không nhãn mác”, do qui định của hàng không, loại rượu này không được mang lên máy bay.

Nhà giáo Nguyễn Tấn Huy đã nói với họ về xuất xứ 2 chai rượu, và lý do chúng tôi mang 2 chai rượu này về Quảng Ngãi.

Nghe anh Huy nói một cách kiên quyết, các nhân viên an ninh đã xin một phút…hội ý, và cuối cùng, đã nhất trí để chúng tôi mang 2 chai rượu mà họ biết là “rượu thiêng” lên máy bay.

Có lẽ, đó là lần đầu tiên loại rượu ngô do đồng bào dân tộc H’Mông Hà Giang nấu đã đường hoàng lên máy bay của Hàng không Việt Nam mà không gặp bất cứ trở ngại nào.

Chúng tôi đã mang 2 chai rượu thiêng về Quảng Ngãi, và đúng sáng ngày 27/7, 2 chai rượu đã được cung kính mang vào Nghĩa trang Liệt sĩ núi Bút để rót lên phần mộ những liệt sĩ quê miền Bắc hy sinh trong Tết Mậu Thân 1968.

Xin các Liệt sĩ thứ lỗi, với những ngôi mộ “chưa xác định tên tuổi” tại nghĩa trang núi Bút, kỳ thực, tôi cũng không thể phân biệt được ngôi mộ nào là của liệt sĩ quê miền Bắc hay quê Hà Giang.

Tất cả, đều là các ngôi mộ của những liệt sĩ mà quê hương của họ là Việt Nam, Tổ quốc yêu thương của chúng ta.

Thôi thì, xin mời các liệt sĩ quê Việt Nam cùng hưởng một chút rượu ngô của đồng bào H’Mông vùng cao Đồng Văn - Hà Giang gửi vào, như tấm lòng thơm thảo của nhân dân giành cho những người con đã hy sinh cuộc sống của mình vì quê hương đất nước.

Tôi chợt nghĩ, rồi sẽ có dịp tôi lên thăm lại Hà Giang, tôi sẽ mang 2 chai rượu nấu từ gạo của bà con Quảng Ngãi lên NTLS Quốc gia Vị Xuyên, để rót lên mộ những Liệt sĩ có quê từ 30 tỉnh thành trong cả nước đã hy sinh tại mặt trận Vị Xuyên Hà Giang năm 1984.

Rượu gạo của người dân quê tôi cũng đầy thơm thảo, cũng thiêng liêng như rượu ngô của đồng bào Hà Giang vậy.

Khi những Liệt sĩ đã đổ máu trên đất Việt Nam này, thì từ đất ấy dù mọc lên cây ngô hay cây lúa, tinh chất của nó khi được chưng cất thành rượu cúng lễ đều mang tính thiêng liêng.

Và tôi tin, VN Airlines sẽ không từ chối cho 2 chai rượu thiêng từ Quảng Ngãi lên máy bay, như đã cho 2 chai rượu thiêng từ Hà Giang vào Quảng Ngãi.
***
Bài viết do Nhà thơ Thanh Thảo gửi cho MTH. Hình ảnh minh họa: NTLS Hà Giang và bia ghi tên Liệt sĩ hy sinh tại huyện Đồng Văn (Hà Giang).

THÁNG BẢY...

Tháng Bảy
nhiều gió quá
những ngã tư còi hụ ầm ào
những đoàn xe trống rong cờ mở
về đền ơn đáp nghĩa ở quê mình

tháng Bảy
những người lính lặng im
buồn hơn cả chiến tranh
những viên đạn xa từ 40 năm
của người Việt bắn vào người Việt
bốn mươi năm không ngày nào không nhắc

có ai ngược chiều cơn mưa
đi về ải Bắc...
thắp nén nhang trên mồ người lính Việt chết vì đạn Trung quốc
lâu rồi không được nhắc , không lên đài lên báo , ti-vi...
không được nhắc
như những người
chết vì súng của cùng giọt máu con Hồng cháu Lạc

tháng Bảy,
ngoài kia biển động rồi!
những nấm mồ chết vì đạn giặc Tàu không ai viếng
ai sẽ lấy thân mình
che đạn cho
Tổ quốc phía trùng khơi???

* Nhà báo Lê Đức Dục (Báo Tuổi trẻ TP.HCM tại Quảng Trị) 
------------------------------------------
* Hình ảnh minh họa bài viết được MTH ghi lại tại NTLS của một địa phương giáp biên, thuộc tỉnh Lào Cai, trong chuyến khảo sát thực trạng các NTLS các tỉnh biên giới phía Bắc.

"GÂY PHƯƠNG HẠI ĐẾN HÒA BÌNH, QUỐC PHÒNG, AN NINH CỦA VIỆT NAM"

Mai Thanh Hải - Lại nghe bác Người phát ngôn hô "phản đối phản đối", giống y như ngày xưa còn bé, mình quệt mũi, xách quần đi cổ động.

Lại nghe báo chí nước nhà chăm chú đưa tin, giống như tường thuật trực tiếp, ở tít đâu đâu: Sự kiện gần 30 tàu chiến đấu các loại nổi, ngầm của Trung Quốc đang lững thững lướt sóng đến quần đảo Trường Sa để diễn tập, bắn đạn thật...

Mình chả dám hô hào, tường thuật gì mà chỉ vẩn vơ nghĩ đến mấy Điều trong Luật Biển Việt Nam, mới được Quốc hội Khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/6/2012.

Đó là Điều 23 - Đi qua không gây hại trong lãnh hải. Cụ thể dư lày:

1. Đi qua lãnh hải là việc tàu thuyền nước ngoài đi trong lãnh hải Việt Nam nhằm một trong các mục đích sau:

a) Đi ngang qua nhưng không đi vào nội thủy Việt Nam, không neo đậu lại trong một công trình cảng, bến hay nơi trú đậu ở bên ngoài nội thủy Việt Nam;

b) Đi vào hoặc rời khỏi nội thủy Việt Nam hay đậu lại hoặc rời khỏi một công trình cảng, bến hay nơi trú đậu ở bên ngoài nội thủy Việt Nam.

2. Việc đi qua lãnh hải phải liên tục và nhanh chóng, trừ trường hợp gặp sự cố hàng hải, sự cố bất khả kháng, gặp nạn hoặc vì mục đích phải cứu giúp người, tàu thuyền hay tàu bay đang gặp nạn.

3. Việc đi qua không gây hại trong lãnh hải không được làm phương hại đến hòa bình, quốc phòng, an ninh của Việt Nam, trật tự an toàn trên biển. Việc đi qua của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải Việt Nam bị coi là gây phương hại đến hòa bình, quốc phòng, an ninh của Việt Nam, trật tự an toàn xã hội nếu tàu thuyền đó tiến hành bất kỳ một hành vi nào sau đây:

a) Đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam;

b) Đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác; thực hiện các hành vi trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế được quy định trong Hiến chương Liên hợp quốc;

c) Luyện tập hay diễn tập với bất kỳ kiểu, loại vũ khí nào, dưới bất kỳ hình thức nào;

d) Thu thập thông tin gây thiệt hại cho quốc phòng, an ninh của Việt Nam;

đ) Tuyên truyền nhằm gây hại đến quốc phòng, an ninh của Việt Nam;

e) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp phương tiện bay lên tàu thuyền;

g) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp phương tiện quân sự lên tàu thuyền;

h) Bốc, dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu thuyền trái với quy định của pháp luật Việt Nam về hải quan, thuế, y tế hoặc xuất nhập cảnh;

i) Cố ý gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường biển;

k) Đánh bắt hải sản trái phép;

l) Nghiên cứu, điều tra, thăm dò trái phép;

m) Làm ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống thông tin liên lạc hoặc của thiết bị hay công trình khác của Việt Nam;

n) Tiến hành hoạt động khác không trực tiếp liên quan đến việc đi qua.

Chiểu theo điểm c, khoản 2 trong Điều luật ("Luyện tập hay diễn tập với bất kỳ kiểu, loại vũ khí nào, dưới bất kỳ hình thức nào"), thì tàu chiến Trung Quốc gây phương hại đến hòa bình, quốc phòng, an ninh của Việt Nam rồi nhé!. Rõ rành rành, ở ngay văn bản Luật...
***
Hình ảnh minh họa: Tàu Trung Quốc đang vận động đến Trường Sa để diễn tập bắn đạn thật. Nguồn: Internet

NGHĨA TRANG LIỆT SĨ, KHÔNG PHẢI... SÀN DIỄN THỜI TRANG

Mai Thanh Hải - Gọi tháng 7 là tháng tri ân quá là đúng, bởi dọc hành trình đi theo cung đường Trường Sơn huyền thoại của tụi mình, rẽ vào Nghĩa trang Liệt sĩ (NTLS) nào cũng thấy đông nghịt người xe, mang biển số các tỉnh từ Lai Châu cho đến Cà Mau.

Đủ cả: Từ những Cựu chiến binh huân huy chương đeo đỏ ngực, lúc lắc mũ tai bèo sau lưng thăm lại chiến trường xưa; đến những Đoàn thăm quan cấp xã, hết thảy già trẻ lớn bé chất lên chiếc xe khách cũ kỹ, thả khói mù mịt, đi đến đâu là hàng quán nơi ấy.. thở dài vì có thu được tiền, may lắm là khoản phí... vệ sinh; các bà các chị thành thị mới về hưu rỗi rãi, góp tiền thuê xe đi thăm chùa chiền miếu mạo, tiện ghé vào làm lễ thắp hương, gọi là tranh thủ chuyến xe, khiến mấy chú lái xe hợp đồng, cười méo xệch...

Mấy năm nay, tuy "khủng hoảng kinh tế", nhưng được cái nhà nào cũng không lo đói, nên cái sự "thăm quan trải nghiệm" đã thành phong trào ở một bộ phận cư dân khá giả.

Vài nhà thuê 1 chiếc xe to hoặc mỗi nhà 1 xe nhỏ, đi thành đoàn, lẩn thẩn rẽ ngang dọc đường Hồ Chí Minh, với đích đến là 1 resort nhiều sao nào đấy, ở khu du lịch biển nào đấy, cũng trở thành quen mắt...

Thế nhưng, có 1 điều khiến rất nhiều người không quen mắt là việc những đoàn khách "sang trọng, sạch sẽ" này rất hay... tiện thể mặc trang phục đi chơi - tắm biển với áo ngắn, hở nách hở ngực, quần ngắn quá đầu gối, thậm chí rách tả tơi tua rua đến gần... bẹn, vào thắp hương, vơ vẩn quanh những hàng bia mộ liệt sĩ, đứng nghiêm trang, thẳng hàng như những hàng quân, trong nắng gió Trường Sơn linh thiêng - bất tử.

 Tụi mình ghé vào 3 điểm NTLS lớn (Đồng Lộc, Đường 9, Trường Sơn), đến đâu, cả đám cũng bắt gặp những trai gái, đoàn đội ăn mặc kiểu như vậy. Bạn Phương mình bảo: "Nghĩa trang Liệt sĩ mà cứ như sàn diễn thời trang, bãi biển khoe ngực - hở đùi" khiến mọi người trầm ngâm: Lại toàn người phía ngoài vào...

Tự dưng lại nhớ đến những ngôi chùa mình đã gặp rất nhiều, rồi cả những điểm du lịch tâm linh ở Huế, có tám biển ghi rõ ràng "Cấm mặc quần áo ngắn vào thăm quan, thắp hương" rất nghiêm túc và quy củ.

Dĩ nhiên, NTLS khác với chốn chùa chiền, thế nhưng nếu những người vào thắp hương, thăm viếng người đã mất, lại cứ "hồn nhiên như... cô Tiên" thì sự linh thiêng đâu còn tồn tại?..

Cái sự đẹp, sự mốt, sự sang trọng có thể làm tăng giá trị của con người. Nhưng ở nơi trang nghiêm, thành kính, thấm đầy máu và đẫm nước mắt, mọi sự sang trọng - tiền bạc đều trở thành vô nghĩa và những váy ngắn, áo hở... đều trở thành "vô duyên, vô ý, vô tình".

Chắc chắn, những người nằm dưới cỏ, đều cảm nhận được ý nghĩa đích thực của khái niệm "đền ơn, đáp nghĩa", từ cái ăn, nết mặc của những nam thanh nữ tú, bất chợt nổi hứng rẽ qua thăm mộ, chỉ vào dịp tri ân và các anh chị sẽ bảo: "NTLS không phải nơi khoe quần áo, sàn diễn thời trang". Thật đấy!..
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
NHỮNG HÌNH ẢNH KHÓ COI TẠI NTLS GẦN NGÀY 27/7/2012

Cả Đoàn "quần cụt" vừa đứng nghiêm làm Lễ Tưởng niệm, trong tiếng nhạc nghi lễ trầm hùng tại NTLS Đường 9
Không thể ngắn thêm
Váy rất nổi và điện thoại rất xịn
Xắn quần dài cho cùng nhịp với người đẹp
Quần ngắn ở Đồng Lộc
Hiên ngang làm lễ trước tượng đài 10 cô
Váy đẹp em vào Thành Cổ...


25 tháng 7, 2012

"LÃNH ĐẠO MTTQVN KHÔNG THÍCH QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG"...

TBT Lập "hộ tống" PCT-TTK Võ Trọng Kim, từ việc trao quà
Nguyễn Thông - Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (TUMTTQ) để làm gì?.

Thì để lãnh đạo MTTQ cả nước chứ làm gì!.

Vậy MTTQ làm gì?.

Làm rất nhiều việc, nhớn bé to nhỏ, làm tuốt...

Điều 9 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992) nêu rõ: “MTTQVN và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, Đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức nhà nước”.

Thế nhưng có một việc rất đáng làm, cần làm, làm ngay thì lại không làm.
TBT Lập (trái) đút tay túi quần cạnh Chúa đảo Tuyển

Không chịu thực hiện sự chỉ đạo của đảng.

Ta vẫn biết MTTQ là một bộ phận trong hệ thống chính trị của đất nước, một tổ chức ngoại vi của Đảng cộng sản.

Trước tình trạng tham nhũng tiêu cực tràn lan, Đảng đã chỉ đạo các ngành các cấp, các đơn vị, từ trung ương xuống địa phương phải nhanh chóng phát hiện, xử lý kịp thời, kiên quyết, không để dây dưa kéo dài gây mất ổn định, mất đoàn kết (tôi biết được điều này qua cuộc trò chuyện với một anh bạn, đang đóng chức Bí thư Chi bộ).

Quan điểm của Đảng đúng quá đi mất, nhưng dường như TUMTTQ không thích.

Báo Đại Đoàn kết là cơ quan ngôn luận của TƯMTTQ.

Nhiều tháng qua, thậm chí nhiều năm qua, ở tờ báo này tình trạng mất đoàn kết, tiêu cực kéo dài.

Nhiều cán bộ, phóng viên gạo cội đã bỏ báo ra đi.

Nhiều người còn đang làm việc cho Báo thì bức xúc lên tiếng, công khai làm đơn gửi lên TƯMTTQ tố cáo những hành vi trù dập, tham nhũng, tiêu cực của người đứng đầu.

Mà họ có phải kẻ phá bĩnh gì đâu, họ vốn gắn bó với tờ báo nhiều năm qua, là những Nhà báo tài năng, cán bộ có năng lực.
TBT Lập hát (giữa hàng trước), PCT Kim cũng phải lên phụ họa
 Việc Nhà báo Hữu Nguyên - Phó Trưởng Đại diện báo Đại Đoàn kết tại phía nam tố cáo chưa dứt thì lại tiếp đến Nhà báo Nguyễn Mạnh Thắng (Từ Khôi)- Phó Trưởng Ban Văn hóa - nghệ thuật tố cáo ông Tổng Biên tập Đinh Đức Lập cho thấy giọt nước đã tràn ly.

Họ không tố theo kiểu nặc danh, mà chính danh đàng hoàng, công khai, có nguyên tắc tổ chức, đúng quy định pháp luật.

Chỉ có điều, dường như tất cả những trung ngôn cứ rơi vào im lặng.

Sự im lặng mà Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh sinh thời gọi là "im lặng đáng sợ".

Mình tạm hiểu, những người lãnh đạo MTTQ đang áp dụng bài "để lâu cứt trâu hóa bùn".
TBT Lập (áo đen, đang cầm gáo), rất chăm lễ bái, chùa chiền

Có người bảo: Nếu cứ trông đợi vào bác Huỳnh Đảm thì vô vọng, bởi bác Đảm tốt nhưng quá hiền, không dám quyết điều gì bao giờ. Còn trông vào ông Phó Chủ tịch Thường trực, Tổng Thư ký Vũ Trọng Kim thì lại càng nhầm, bởi "không có thầy Kim thì làm gì có trò Lập".

Vậy, các ông các bà Phó Chủ tịch MTTQ đâu?. Đang làm gì?. Có biết sự vụ thế nào không?. Hay cũng "dĩ hòa vi quý", "mũ ni che tai" để giữ cái thân mình?..

Để một cơ quan trực thuộc - một tờ báo có bề dày lịch sử tan nát như tương, trách nhiệm thuộc về TƯ MTTQVN.
Chém gió phầm phập...

Trong tình cảnh ấy, thử hỏi làm sao cán bộ, phóng viên, biên tập viên, nhân viên của báo có thể yên tâm công tác, hoàn thành nhiệm vụ, phục vụ tốt cho tờ báo, rộng ra là cho đất nước, nhân dân.

Hãy làm ngay đi, đừng chần chừ gì nữa.

Việc hôm nay chớ để ngày mai, công bố kết quả xử lý rõ ràng, đừng để cán bộ phóng viên của Báo Đại Đoàn kết và người dân dài cổ chờ thêm dù chỉ một ngày, hỡi các ngài TƯ MTTQ Việt Nam.

25/7/2012
***
Tiêu đề bài viết do MTH đặt lại. Hình ảnh minh họa, đã được đăng tải trên Báo Đại Đoàn kết, trong những tin - bài phản ánh "đi thăm và làm việc" của TBT Đinh Đức Lập, hoặc trong những bài viết của ông Lập, được đăng tải thoải mái, trên các ấn phẩm của Đại Đoàn kết.

BÍ THƯ CHI BỘ - TỔNG BIÊN TẬP CẦU CÚNG GIẢI HẠN NGAY TẠI TRỤ SỞ

Mai Thanh Hải - Chuyện leng keng cúng bái những ngày này có thể là rất bình thường, nếu như nơi tổ chức là Nghĩa trang Liệt sĩ (NTLS) và để tưởng nhớ những người đã ngã xuống vì Tổ quốc.

Không bình thường nếu việc cúng là để giải hạn cho cá nhân người đứng đầu cơ quan và được tổ chức rầm rộ, ầm ĩ và công khai ngay tại trong nhà, ngoài sân của cơ quan đó.

Việc này mới xảy ra tại trụ sở Báo Đại Đoàn kết (66, Bà Triệu, Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội) và do đích thân ông Đinh Đức Lập, Bí thư Chi bộ - Tổng Biên tập Báo tổ chức.

Dường như lễ chập cheng này nhằm "giải hạn" cho Đinh Đức Lập do bị dính quá nhiều "phốt", bị nhiều cán bộ - phóng viên trực tiếp tố cáo sai phạm và cả cấp trên lẫn báo bạn đang "sờ gáy" những hành vi vi phạm của cả Lập và tay chân - người nhà...

Mình nhận được lá đơn của cán bộ - phóng viên tố cáo Đinh Đức Lập, về hành vi ngang nhiên cúng bái - chập cheng nơi công sở và lời nhờ "đăng lên, để mọi người biết thêm về những sự mục ruỗng, từ trong 1 con người, 1 cơ quan và cao hơn thế"... cứ vẩn vơ:

Đến con bò tót chạy lạc vào sân bay Phú Bài, khi biết nhầm hướng cũng biết đường mà trốn. Con vật này còn hơn khối người, biết rõ "nhầm đường lạc lối" nhưng vẫn "cố đấm ăn xôi", bưng tai che mắt để tự huyễn hoặc, hoặc tìm sự che chở từ trong hoang tưởng để mua bán niềm tin, giữ thân cho mình và đồng bọn.

Chẳng Trời Phật, thổ công thổ địa, thần thánh nào chui vào trụ sở 1 cơ quan để "phù hộ độ trì" cho những kẻ mà ngay người sống, cũng oán ghét và căm phẫn bởi những hành vi vô nhân tính.

Anh hùng - Liệt sĩ, dù đã ngã xuống rồi, nhưng vẫn có mắt để nhìn ra bản chất những kẻ, có thể dùng tiền cơ quan, vắt vẻo ngồi máy bay từ Hà Nội vào TP. Hồ Chí Minh, ra Côn Đảo chập cheng cúng bái, mê mải cầu khấu, tham lam xin ước chức quyền, cá nhân vụ lợi..

Những người Việt Nam đã quá hiểu câu: "Nhân nào quả nấy". Mọi điều kẻ ác gây ra đều phải trả giá. Mọi sự dung túng, giúp đỡ của những kẻ đại ác cũng đều phải nhận hậu quả... - Sự thể này, đang ứng vào những con người lừa lọc - giả dối, sống như chết trong mắt những người bình thường, hôm nay.

Công bố lá đơn của Tập thể Cán bộ phóng viên Báo Đại Đoàn kết tố cáo Tổng Biên tập Đinh Đức Lập mê tín dị đoan, cầu cúng giải hạn công khai ngay tại trụ sở cơ quan.
---------------------------------------------------------------------------------------------------
Hình Đinh Đức Lập, bị "xâm hại" tại Trụ sở Báo
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
       Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

               ĐƠN TỐ CÁO  

Kính gửi:  - Đảng đoàn Uỷ Ban Trung ương MTTQ Việt Nam
                  - Ban Thường trực Uỷ Ban Trung ương MTTQ Việt Nam
                  - Uỷ Ban Kiểm tra Đảng uỷ cơ quan TƯMTTQ Việt Nam
                  - Các Cơ quan Báo chí

Chúng tôi là tập thể cán bộ, phóng viên Báo Đại Đoàn kết xin được tố cáo lên các đồng chí một việc sau:

Thứ Năm, ngày 19/7/2012, từ 19 giờ đến 20 giờ 30, Bí thư chi bộ - Tổng Biên tập báo Đại Đoàn Kết Đinh Đức Lập đã thực hiện hành vi mê tín, bày lễ linh đình trong phòng, ngoài sân cơ quan rồi mời thầy cúng, đốt vàng mã tại Trụ sở báo Đại Đoàn Kết (địa chỉ 66 Bà Triệu, Hoàn Kiếm, Hà Nội).

Một số cán bộ, nhân viên của Báo đã phải phục vụ cho hành vi mê tín này.

Chúng tôi đề nghị Đảng đoàn, Ban Thường trực Uỷ Ban Trung ương MTTQ Việt Nam sớm có hình thức kỷ luật nghiêm khắc Bí thư chi bộ - Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết Đinh Đức Lập về hành vi mê tín này để Nghị quyết Trung ương 4 và Điều 18 trong 19 điều của Quy định số 47-QÐ/TW (về những điều Đảng viên không được làm), có hiệu lực tại Uỷ Ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Báo Đại Đoàn kết.
Đinh Đức Lập (thứ 4 từ phải qua) trong 1 chuyến đi chơi doanh nghiệp

Chúng tôi đề nghị các đồng chí không được bao che cho hành vi mê tín này của Bí thư chi bộ - Tổng Biên tập Báo Đại Đoàn kết Đinh Đức Lập.

Nếu xử lý không thoả đáng, chúng tôi tiếp tục gửi đơn lên cấp có thẩm quyền.

Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 22/7/2012
                                                              (Những người viết đơn).
******************
Hình ảnh cúng lễ trong bài viết chỉ có tính chất minh họa, không liên quan đến sự việc xảy ra tại Trụ sở Báo Đại Đoàn kết, tối 19/7/2012.