13 tháng 3, 2012

"NẾU NĂM 1988, TRUNG QUỐC ĐỤNG ĐẾN CÁC ĐẢO TA ĐÃ ĐÓNG QUÂN, THÌ SỰ VIỆC KHÔNG DỪNG LẠI NHƯ Ở GẠC MA 14/3/1988"...

Thiềm Thừ P3- "Đêm 13/3/1988, tôi được lệnh lên HQ-614, chỉ huy lực lượng hành quân lên phía Sinh Tồn!" - Đại tá Nguyễn Văn Dân tiếp tục dòng ký ức về Chiến dịch CQ-88 (P1, P2).

"Ông chỉ huy cả lực lượng của Anh hùng Liệt sĩ Trần Đức Thông?".

"Không! Anh Thông vừa đi phép vào, đi tàu HQ-604 từ đất liền ra, cùng với tàu HQ-505. Còn tôi từ Đá Đông lên!".

Chúng tôi hành quân ngay trong đêm 13/3, đi ở khoảng giữa Châu Viên và Phan Vinh. Có 2 tàu Trung Quốc đến kèm, theo tôi nhớ là tàu 203 và tàu 205. Tàu chúng tôi bắt đầu bị mất liên lạc với đất liền.

Do bị nó chặn đường, nên đến chiều tối ngày 14/3/1988, chúng tôi mới đến được đảo Sinh Tồn. Lúc đó, HQ-604, HQ-605 đã bị bắn chìm, còn HQ-505 đã lao lên Cô Lin.

Đêm 14/3/1988, chúng tôi đưa anh em thương binh lên đảo Sinh Tồn để cứu chữa, và báo cáo tình hình về nhà. Anh Doan, Chính trị viên tàu HQ-605 hy sinh trên tàu, anh em chèo xuồng đưa được về Sinh Tồn và an táng ở đó.

Sáng 15/3, chúng tôi ra chỗ tàu HQ-605, HQ-604. Theo vết dầu nổi lên, chúng tôi xác định được vị trí HQ-605 chìm, thả neo đánh dấu.

Rồi chạy qua chỗ Gạc Ma. Trung Quốc mới dựng cái chòi nhỏ ở đó. Lúc đó HQ-604 không còn dấu vết gì cả...

Hồi đó nêu tên 74 người mất tích, nhưng sau kiểm lại, thực tế có 71 người hy sinh, mất tích và bị bắt. Anh em còn lại đã về Sinh Tồn, về HQ-505.

Chúng tôi tiếp tục tìm, đến gần 12 giờ trưa, 2 tàu khu trục Trung Quốc đến ngăn chúng tôi vào khu vực Gạc Ma. Chúng tôi không thể vào được, không xác định được vị trí tàu HQ-604 chìm...

Hẻm giữa Cô Lin và Gạc Ma rất sâu, nhưng HQ-505 đã lao lên được Cô Lin.

Còn HQ-604, chúng tôi đoán HQ-604 thả neo ở Tây Nam Gạc Ma, khi bị bắn thì chìm rất sâu nên không thấy vết dầu nổi lên…

Chúng tôi cho tàu HQ-614 cập vào chỗ tàu HQ-505 ở Cô Lin, lập Sở Chỉ huy trực tiếp tại đó. Tôi ở cụm Sinh Tồn, Cô Lin, Len Đao cho đến tận tháng 8/1988.

Tháng 4/1988, tàu cứu hộ Đại Lãnh với bên Chữ Thập Đỏ ra, anh em lặn tìm tàu HQ-605, chìm ở độ sâu 39m. Theo báo cáo, có một đồng chí Báo vụ hy sinh trong tàu, tổ thợ lặn xuống khảo sát, tìm kiếm kỹ trong tàu nhưng không thấy xác...

Đó là những ngày rất căng thẳng, nhất là ở khu vực Len Đao, Cô Lin, Gạc Ma.

Tôi còn nhớ ngày 12/5/1988, tàu pháo Trung Quốc áp sát tàu HQ-614 đang ở cạnh đảo Len Đao, chỉ cách 30 m. Nhưng chúng tôi vẫn bình tĩnh xử lý, không để xảy ra cái gì cho nó gây sự.

Nói thêm, tàu HQ-614 là tàu vận tải loại cũ, nay không còn sử dụng. Tàu HQ-605, HQ-604 là loại 400 tấn, còn tàu HQ-505 trọng tải 200 tấn, chủ yếu chở nước.
Nói chung dịp 1988, các đảo ta chủ định đóng giữ đều đóng giữ được, trừ Huy Ghơ, Gạc Ma, Châu Viên, Chữ Thập, Ga Ven.

Chỗ Sinh Tồn là một cụm đảo lớn, Trung Quốc nó đóng 2 điểm, Huy Ghơ và Gạc Ma.

Ga Ven gần Nam Yết. Dịp đó, có lần tàu chúng tôi giả dạng tàu cá, đi từ đảo Trường Sa lên Đá Lớn, để đưa một tổ ra làm thêm nhà ở Đá Lớn. Do la bàn sai lên tàu chạy vào gần Chữ Thập lúc 12 giờ trưa, rồi mờ sáng sau chạy vào gần Ga Ven.

Ngày đó phương tiện mình thô sơ đến mức như thế.

Lúc đó Trung Quốc nó làm nhà ở Ga Ven rồi, nó bắn AK ra…

"Tại sao hồi ở Gạc Ma, mình không đánh lại?".

Nói chung, chủ trương của ta hồi đó là không đưa tàu chiến ra.

Mình khẳng định chủ quyền là của mình, đưa chủ yếu các phương tiện vận tải, anh em Công binh ra giữ chủ quyền.

Nếu có đưa tàu chiến ra Trường Sa, chỉ là để tăng cường hỗ trợ bảo vệ, chứ không phải để đối đầu, gây chiến. Chủ quyền là của mình, mình có trách nhiệm tiếp tục đóng giữ, bảo vệ.

Chủ trương của mình là vậy. Một lý do nữa, tôi chưa nói được…

Còn Trung Quốc, họ muốn có chủ quyền bằng sức mạnh.

Tức là, một cái tàu đưa người định đến đóng đảo nào thì đều có tàu chiến đi cùng, thậm chí là tàu tuần dương. Họ đi đâu đều có phương tiện đủ bộ, sẵn sàng nổ súng.

Nói thêm chỗ Gạc Ma, Sinh Tồn. Chỗ đó mình không nổ súng, vì từ Sinh Tồn ra đến Gạc Ma mấy chục cây số, sao mà nổ súng tới?.

Hồi đó, mình đã đưa không quân ra Trường Sa?

Máy bay mình bay ra, máy bay Trung Quốc cũng bay đến.
Ngày 14-15-16/3/1988, máy bay AN26 của mình có bay ra Cô Lin, Len Đao. Nhưng cũng rất kìm chế.

Tôi chỉ có nghĩ thế này: Trung Quốc họ nói thế này thế nọ, nhưng họ hành động bằng vũ lực, chứ không đối thoại.

Qua CQ-88, tôi rút ra mấy cái:

Một là. Chủ quyền bây giờ ta có được là do đánh giá đúng âm mưu, ý đồ, thái độ của các bên đối phương đối với các điểm đảo Trường Sa, cả đảo nổi và đảo chìm. Cho nên, có quyết tâm kịp thời, khắc phục khó khăn để giữ được các đảo.

Cái thứ hai. Mặc dù có khó khăn về phương tiện, nhưng nỗ lực rất lớn. Mỗi người tham gia bảo vệ Trường Sa đều có quyết tâm lớn.
Lúc bấy giờ, có những cái rất căng thẳng, có những thời điểm quá khắc nghiệt.

Trên tàu, mấy chục anh em chúng tôi cùng đi với nhau, lúc đầu cũng có hoang mang.

Nhưng sau khi chứng kiến sự việc, chúng tôi củng cố, quyết tâm hơn.

Ở nhà, lúc đầu tưởng tôi đã hy sinh, vì tàu bị mất liên mạc, tưởng Trung Quốc bắn rồi.

Danh sách hy sinh không ghi tên tôi, nhưng ở quê cứ đồn tôi hy sinh rồi…Vợ tôi ốm là vì thế.

Sau có tàu Đại Lãnh về đất liền, tôi nhờ cái ông đó điện về nhà, mới hồi dần.

Có lúc tàu chúng tôi hết cả cái ăn, nước uống, quần đùi may ô suốt, may có Mỹ Á ra tiếp tế… Cái lòng bền bỉ, sự kiên quyết của anh em rất là lớn.
Cái thứ ba. Trước các tình huống khi đó, chỉ huy trực tiếp - gián tiếp đều rất linh hoạt, kịp thời.

Hồi đó, phương tiện thiếu thốn, nhưng lên chỗ nào để tìm địa điểm làm nhà, đưa quân đóng giữ, thấy có điều kiện là làm ngay.

Đồng thời, đối sách hết sức khéo léo, không để dẫn đến nổ súng, ví dụ như tình hình ở Len Đao, tôi đã kể.

Hoặc tình hình căng thẳng hồi tháng 4/1988, khi tàu cứu hộ Mỹ Á ra thay cho tàu Đại Lãnh, phía Trung Quốc cho 5 tàu chiến vây ép 2 tàu này và HQ-614.

Đối phương cho rằng mình lợi dụng cứu hộ để mang tên lửa ra, nó gây căng thẳng lắm.

Mình vẫn bình tĩnh xử lý được. Thái độ họ hung hăng, nhưng mình bình tĩnh, việc ai người ấy làm, chủ quyền mình mình giữ.

Năm 1988, ta đã để cho Trung Quốc chiếm đảo?

Ai cho rằng Việt Nam để cho Trung Quốc chiếm các đảo chìm, bãi chìm, không đúng.

Quần đảo Trường Sa quá rộng, các điểm đảo cách nhau rất xa, mình hết sức cố gắng đóng giữ với khả năng của mình.

Nhưng có những điểm, khi mình đưa lực lượng đến đóng giữ thì Trung Quốc gây sự.

Không phải là vì chỗ này chỗ kia, Việt Nam không đóng nên Trung Quốc đóng đâu. Mà Trung Quốc cố tình đưa phương tiện, lực lượng vũ trang hiện đại đến, dùng sức mạnh áp đảo để chiếm đóng.

Tôi nói điển hình như vụ Gạc Ma. Chủ quyền của mình rồi, mình mới đưa anh em lên giữ đảo, để thể hiện chủ quyền của mình thôi.

Nếu Trung Quốc có thiện chí, họ sẽ thể hiện thái độ bằng con đường này con đường khác.

Nhưng khi bộ đội Việt Nam tay không lên đảo, họ dùng hoả lực tàu chiến, dùng pháo bắn tới tấp lên tàu, bắn lên anh em tay không trên đảo. Tàu 604, anh em đi trên 100 người…

Vụ đó, nếu Trung Quốc nói rằng họ đã cắm cờ ở Gạc Ma, rồi mình lên nhổ cờ của họ nên họ mới bắn, là hoàn toàn sai.

Vì Sinh Tồn gồm Sinh Tồn Lớn, Sinh Tồn Đông, rồi một vòng chìm xuống là Đá Hốc, Cô Lin, Len Đao… là một cụm gắn với nhau. Cả một vòng gắn với nhau, mình đã đóng mà Trung Quốc ngang nhiên lên đó. Họ nói thế, là chính họ thừa nhận họ làm sai.

Về chủ quyền biển đảo, các thế hệ của mình đã có mặt ở Trường Sa từ xưa đến giờ.

Không những sau khi đất nước Việt Nam hoàn toàn giải phóng, mà từ trước đó, chế độ Sài Gòn, họ vì con người Việt Nam, đã đưa người Việt Nam ra giữ biển đảo của mình, chủ quyền của mình. Đó là cái ý nghĩa cơ bản, lâu dài của việc giữ chủ quyền.

Năm 1988, chỉ là một thời điểm trong cả quá trình. Nếu ta có điều kiện, có tiềm lực, đã đóng giữ hết từ trước. Nhưng mình làm từng bước một, khả năng có đến đâu làm đến đấy. Củng cố những nơi có điều kiện cho bộ đội ở ổn định, rồi tiếp tục làm những chỗ khác.

Các nước tổ chức lực lượng, dùng sức mạnh của họ ra chiếm đóng là hành động trái phép. Nó tạo nên căng thẳng ở biển Đông.
Năm 1988, xác định được đối phương như thế nên mình đã phản ứng nhanh chóng, chính xác.

Từ nhận định cho đến xử tình huống là kịp thời, không gây quá nhiều tổn thất đối với lực lượng mình, cho anh em, nhưng thể hiện quyết tâm giữ chủ quyền.

Dù là đảo nổi, đảo chìm đều là vùng biển, hải đảo mà mình có trách nhiệm quản lý và sử dụng.

Nếu năm 1988 hoặc năm nào đó, các lực lượng đối phương đụng đến các đảo ta đã đóng quân, như Sơn Ca, như Song Tử, sự việc không dừng lại như ở Gạc Ma, như Hoàng Sa 1974.

Năm 1988, Trung tá Nguyễn Văn Dân và tàu HQ 614 đều được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba.

Ông được giao phụ trách quan hệ với Liên Xô ở Vùng 4 Hải quân, từ năm 1994 phụ trách Hệ đào tạo sau đại học của Học viện Hải quân.

Ông nghỉ hưu năm 2000.

Hiện nay, Đại tá Dân là Chủ tịch Hội Khuyến học phường Vĩnh Nguyên, Nha Trang. 
-------------------------------------------------------------
* Hình ảnh minh họa của Nhà báo Nguyễn Viết Thái (Nha Trang, Khánh Hòa)

"ĐÀNH CHỈ ĐƯỢC CHẾT VÌ ĐẢO. ĐÀNH CHO LÃNG QUÊN MẤY MƯƠI NĂM..."

Mai Thanh Hải -  "... Anh yêu biển mà đứng trên bờ/ Anh yêu nước mà không biết bơi/ Làm sao anh hiểu?/ Có những người lính đảo/ Trần lưng trước mưa đạn quân thù/ “Chỉ được xáp lá cà bằng lê”/ Nhưng với khoảng cách này là không thể/ Đành chỉ được chết vì đảo/ Đành cho lãng quên vùi mấy mươi năm..." - Những câu thơ thật đến tận cùng trần trụi và đau đến tột cùng tuyệt vòng, viết về những người lính Trường Sa, ngã xuống trong ngày 14/3/1988, trong khi giữ đảo, của Nhà thơ Thanh Thảo.

Mình đọc xong, cứ rưng rưng: 24 năm đã trôi qua. Ngày mai, 64 bát hương trong 64 gia đình lại cháy đỏ ngày giỗ các anh. Liệu dưới đường ồn ào xe cộ, tấp nập người đi kia, có bao người biết đến vùng biển ấy, ngày tháng ấy, sự kiện ấy và nhớ đến 64 người chết trẻ, linh thiêng, hầu hết vẫn đang vùi xác trong lòng biển Gạc Ma - Cô Lin, ngoài vùng biển Trường Sa?..
                       
Trân trọng giới thiệu trích đoạn "Chân sóng", trong "Trường ca Chân đất" của Nhà thơ Thanh Thảo, vừa gửi từ Quảng Ngãi cho MTH. Xin cảm ơn Nhà thơ Thanh Thảo đã lưu lại sự kiện, con người Hoàng Sa - Trường Sa và nỗi niềm về ngày này, trong những vần thơ dành cho hậu thế.
-------------------------------------------------
CHÂN SÓNG
(trích "Trường ca chân đất")
…..
                                        
Con nào biết mẹ bạc đầu vì biển
mỗi làn sóng như một dải khăn tang
con nào biết mẹ đau vì biển
đau vì thiếu biển
đau vì thừa biển
đau vì biển thiếu con mình
đau vì biển thừa hy sinh.
Những mộ gió những hình nhân phơ phất
những hải trình dài suốt mấy trăm năm
những Bãi Cát Vàng san hô mê hoặc
những phận người bó chiếu giữa mông mênh.

Chỉ thế thôi nhưng mẹ ơi còn biển
là còn những chuyến đi không hẹn ngày về
nhưng mẹ ơi còn con trai trong bụng
là mẹ đẻ hết ra cho chúng giong khơi.

Người quê tôi không quen lời bay bướm
giọng nói nặng dây buồm
con trai biết bơi từ trong bụng mẹ
biết lắc thúng từ khi chưa biết chu vi hình tròn
biết tính cá bằng khoang
ăn sóng và nói gió
lặn sâu mấy chục sải
ngậm vật vờ ống thở
bơi bên cạnh hải sâm
như một chiếc tàu ngầm
tỉ tê cùng đáy biển
như một người bạn thân.

Lặn biển Hoàng Sa liệt nửa người
giờ ngồi xe chó kéo
người bé trên đảo Bé
mỗi khi nhìn thấy biển mắt rực cháy
“biển ơi biển ơi biển ơi”
thế thôi

Lặng im như đá mồ côi
họ dạy anh tình yêu
không lời
anh yêu biển mà đứng trên bờ
anh yêu nước mà không biết bơi

Mai Phụng Lưu
mỗi bận xuống thuyền lại trực chỉ Hoàng Sa
như có ai dẫn
nỗi nhớ là hải bàn
mãi quay về một hướng
mỗi lần bị bắt mỗi lần bị đánh
lại tay trắng trở về dành dụm ra khơi
không thể sống thiếu Hoàng Sa
không thể sống thiếu biển

Anh yêu biển mà đứng trên bờ
anh yêu nước mà không biết bơi
làm sao anh hiểu?..
có những người lính đảo
trần lưng trước mưa đạn quân thù
“chỉ được xáp lá cà bằng lê”
nhưng với khoảng cách này là không thể
đành chỉ được chết vì đảo
đành cho lãng quên vùi mấy mươi năm.

Gạc Ma!. Gạc Ma!..
hãy kể cho con cháu anh điều này:

Có những người lính đảo
đã chết theo vòng tròn
tay họ giăng ra và siết chặt tay nhau
như một tràng hoa biển.

Không quỉ ma nào xé nổi
tràng hoa biển ấy.

Hãy kể cho con cháu anh
rằng từ Hoàng Sa từ Gạc Ma
những tràng hoa biển ấy
dạt trôi
về ôm chặt Mẹ.

Chân sóng
bắt đầu từ đó...

2011




TẦM NHÌN GIÁP VĂN CƯƠNG TRONG CHIẾN DỊCH CQ-88

Mai Thanh Hải - Giáp Văn Cương sinh ngày 13/9/1921 tại xã Bảo Đài (huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang), mất ngày 23/3/1990 tại Hà Nội.

Tham gia cách mạng chống Pháp, Nhật từ trước năm 1945 và trưởng thành từ Lục quân, tuy nhiên bây giờ khi nhắc đến ông, người ta chỉ biết đến vai trò Đô đốc Hải quân - Tư lệnh của Quần đảo Trường Sa, đặc biệt là trong Chiến dịch CQ-88 (Bảo vệ Chủ quyền năm 1988).

Trong kháng chiến chống Pháp, ông đã từng giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 19 (Trung đoàn 96, Liên khu V) và tham gia trận ĐăkPơ (tháng 6 năm 1954).

Năm 1965, ông được cử làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3 Quân khu V. Thời gian tiếp theo, ông tham gia Thường vụ Đặc khu uỷ, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng mặt trận 44.

Năm 1974, ông được phong hàm Thiếu tướng, chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Năm 1977, được phong làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân và giữ chức vụ này đến năm 1980.

Năm 1984, ông một lần nữa lại được giao nhiệm vụ làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân.

Năm 1988, ông được phong làm Đô đốc đầu tiên và cũng là duy nhất của Hải quân Việt Nam cho đến năm 2011 (người thứ hai nhận vinh dự này sau ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Văn Hiến). Theo Luật Sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam (1999) thì Phó Đô đốc là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân, giữ chức vụ Tư lệnh Quân chủng Hải quân.

Ngày 07/05/2010, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Trong cuốn "Đảo Chìm" của Nhà thơ Trần Đăng Khoa - người lính đã nhiều năm đóng quân ở Trường Sa, hình ảnh Tư lệnh Giáp Văn Cương được khắc họa rất chân thực, không một chút hư cấu bịa đặt:
Tướng GVC thăm bộ đội nhà giàn DK1, vài tháng sau ông mất

“... Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương đã đến đây, đã ngủ một đêm trên hòn đảo này trong một chuyến đi tuần biển.


- Vất vả không, các cậu?.


Tư lệnh hỏi một cậu lính trẻ, tóc đỏ quạch như tôm luộc, da đen cháy, người chắc nịch như một thỏi sắt đã tôi qua lửa. Cậu lính trẻ cười khì khì:


- Báo cáo bố, cũng tàm tạm thôi ạ!.


- Ở đây thì mọi thứ đều thiếu thốn rồi - giọng Tư lệnh bùi ngùi: Nhưng cái gì cần nhất cấp thiết nhất các cậu cứ nói thẳng với mình. Bộ Tư lệnh sẽ tạo mọi điều kiện giúp đỡ các cậu!...


Ngồi bên Tư lệnh trên mặt cát nóng bỏng như rang, mặc dù mặt trời đã lặn xuống biển lâu rồi, anh lính trẻ quê xứ Nghệ thật sự coi ông như một đồng đội thân thiết. Anh lắc lắc đầu gối tư lệnh:
Tướng GVC thăm bộ đội Công binh Hải quân đang xây dựng đảo

- Bố thấy vương quốc của chúng con thế nào?.


Tư lệnh đưa mắt nhìn suốt rẻo cát trống trơn, rồi lại nhìn cái lều bạt dã chiến cứ hộc lên trong gió tựa hồ một con ngựa bất kham, đang lồng lộn như muốn rứt tung mấy sợi xích sắt căng ghì xuống đảo mà phóng đi cùng bầy gió hoang dã.


- Đẹp, nền nếp. Đúng quân phong quân kỷ. Ở đây mà giữ được như thế này là tốt lắm rồi - Giọng Tư lệnh bỗng bùi ngùi - Tất nhiên là vất vả! Chúng mày rất vất vả! Tao biết! Nhưng khổ nỗi đây lại là Tổ quốc, là đất đai hương hỏa của ông cha, dù chỉ có đá sỏi gió cát thế này ta cũng phải canh giữ, một tấc không đi, một li không rời, dẫu có phải đổi bằng xương máu...

- Vâng, con hiểu! Con hiểu, bố ạ!...”.
Kiểm tra từ hộp tiếp đạn

"Nếu không có tầm nhìn và sự quyết đoán trong hành động của đô đốc Giáp Văn Cương, Trường Sa có thể khó khăn hơn bây giờ, không toàn vẹn như vậy giờ" -Thiếu tướng Lê Kế Lâm (nguyên Tham mưu phó Tác chiến Quân chủng Hải quân) đã khẳng định như vậy.

Nếu như những người lính trẻ đóng quân ở Trường Sa và DK1 những năm cuối Thập kỷ 80 của Thế kỷ trước không thể quên hình ảnh vị Tướng già mặc quần đùi đu lên nhà giàn quá đơn sơ lúc ấy, để kiểm tra độ an toàn cho chiến sĩ, sẽ nhớ mãi vị Tư lệnh 68 tuổi chào cờ cùng anh em và xắn quần lặn lội để kiểm tra việc gia cố cho đảo chìm... thì những cán bộ cấp cao lại nhớ đến những quyết định táo bạo của Tướng Giáp Văn Cương và phong ông là “vị tướng của Trường Sa” hay “Tư lệnh Trường Sa 1988”.

Năm 1984, do tình hình biển Đông có nhiều “diễn biến lạ”, Tướng Giáp Văn Cương được Bộ Quốc phòng điều động về làm Tư lệnh Hải quân lần thứ hai (lần đầu từ năm 1977-1980).
Trên cương vị mới, ông dự báo: “Trong tương lai gần, vùng biển khu vực Trường Sa không được bình yên và sẽ là chiến trường chính của Hải quân Việt Nam”.

Do vậy, trong 2 năm 1986-1987, một mặt ông yêu cầu bộ phận Tác chiến soạn thảo gấp kế hoạch và phương án phòng thủ Trường Sa, mặt khác ông chủ động và kiên trì đề xuất với Bộ Chính trị và Đảng ủy Quân sự Trung ương, chấp thuận kế hoạch bảo vệ chủ quyền Việt Nam ở Trường Sa và thềm lục địa phía Nam.

Kế hoạch đó được chấp thuận.

Ông ra lệnh: "Nhanh chóng dốc toàn lực, đặc biệt là Công binh, ra Trường Sa để tăng cường, củng cố tất cả đảo nổi đảo chìm mà quân dân Việt Nam đang đồn trú và sinh sống bao đời nay".
Tướng GVC dẫn đầu đoàn HQVN thăm HQ Liên Xô tại C.Ranh

Đối với những đảo chìm thuộc chủ quyền Việt Nam, nhưng chưa có quân đồn trú, ông yêu cầu “Kiên quyết đóng nhanh, đóng đồng thời tất cả các đảo, nếu cần có thể dùng mọi loại tàu để ủi bãi”.

Giải thích khái niệm "ủi bãi". Đại tá Hải quân Nguyễn Trương giải thích: “Là cho tàu mở hết tốc lực lao thẳng lên cạn ở điểm đảo đó để khẳng định chủ quyền và chờ quân ra tiếp viện. Đó là một quyết định táo bạo vì một con tàu vào những năm khó khăn ấy là một tài sản lớn. Để tàu chìm là bị kỷ luật nặng, nhưng ông dám làm vậy vì ông coi chủ quyền lớn hơn tất cả. Mọi sự chậm trễ là có tội với tổ tiên và con cháu sau này”.

Và chính từ mệnh lệnh này, sáng 14/3/1988, con tàu HQ-505 anh hùng đã lao nhanh giữa những làn đạn đại bác, ủi thẳng lên đảo Cô Lin, khẳng định chủ quyền Việt Nam, trước khi lính Trung Quốc đổ bộ chiếm đảo.

Box:

... "Cuối năm 1986, Quân chủng Hải quân cùng toàn quân xây dựng chính quy, từng bước hiện đại theo đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, thì tình hình Biển Đông, đặc biệt là khu vực quần đảo Trường Sa có nhiều diễn biến phức tạp do các hoạt động do thám, khiêu khích, quấy phá, chiếm đóng một số đảo thuộc quần đảo lãnh thổ của Việt Nam, của các thế lực thù địch.
 Nhận định, đánh giá tình hình đề xuất của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Hải quân đã được cấp trên chấp thuận.

Bộ Chính trị, Thường vụ Đảng ủy Quân sự T.Ư ra nghị quyết và Bộ trưởng Quốc phòng có chỉ thị, Đảng ủy Quân chủng lãnh đạo toàn Quân chủng kịp thời điều chỉnh tổ chức, cơ động triển khai lực lượng, nhanh chóng đóng giữ các đảo, các bãi đá ngầm.

Đề phòng xung đột quân sự nhỏ trên khu vực Trường Sa có thể bùng nổ thành một cuộc chiến tranh lớn trên biển, Tư lệnh Giáp Văn Cương ra lệnh: Hết sức bình tĩnh, kiềm chế, tự vệ là chính, không nổ súng trước, nhưng kiên quyết táo bạo, với phương châm "có người, có đảo; còn người, còn đảo".

Nhận được mệnh lệnh của Tư lệnh Giáp Văn Cương, cán bộ, chiến sĩ trên đảo mặc dù chỉ là những người lính công binh xây dựng, đã không sợ hy sinh, quyết chiến đẩy lùi các hành động xâm chiếm của các thế lực nước ngoài.
 
Kết quả trong 3 năm (1986 - 1989), Quân chủng Hải quân đã hoàn thành một khối lượng công việc bằng cả 10 năm trước cộng lại. Sức mạnh tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu của bộ đội trên quần đảo, DK1 đã nâng lên một bước.

Năm 1988, đồng chí Giáp Văn Cương được Nhà nước thăng cấp từ Phó Đô đốc lên Đô đốc Hải quân.

Ngày 5/7/1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra chỉ thị về việc xây dựng Cụm Kinh tế - khoa học - dịch vụ, tiếp tục khẳng định và công khai hóa chủ quyền của Việt Nam đối với khu vực thềm lục địa phía nam.

Tư lệnh Giáp Văn Cương đã lãnh đạo, chỉ huy các lực lượng hải quân vượt mọi khó khăn, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp toàn vẹn biển đảo, thềm lục địa của Tổ quốc, tổ chức lực lượng đóng quân tại các đảo, thực hiện sự có mặt của Việt Nam trên thềm lục địa 60.000 km2 thuộc chủ quyền tài phán của Việt Nam phù hợp Luật Biển quốc tế.
Kết quả này có ý nghĩa vô cùng to lớn, cả trước mắt và lâu dài, trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa và thềm lục địa phía nam của Tổ quốc.

Về chính trị, đã giữ được chủ quyền, kịp thời chặn đứng âm mưu, thủ đoạn thâm độc thôn tính Trường Sa và độc chiếm Biển Đông của nước ngoài; làm cho nhân dân trong nước hiểu rõ nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trên biên giới đất liền, vùng biển, hải đảo, thềm lục địa là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, không phải riêng của lực lượng vũ trang; tạo phong trào "Cả nước vì Trường Sa thân yêu".

Về quân sự, tạo thế phòng thủ bố trí chiến lược, ngăn chặn từ xa kẻ thù có ý định tiến công nước ta bằng đường biển và đường không; là đài quan sát phát hiện sớm âm mưu của địch trên khu vực Biển Đông, kịp thời ứng phó trước mọi tình huống.

Về kinh tế, nhờ bảo vệ được quần đảo Trường Sa và thềm lục địa phía nam, nước ta đã chủ động bảo vệ và khai thác tài nguyên biển, đặc biệt các mỏ dầu khí đem lại nguồn lợi to lớn cho Tổ quốc.

Về ngoại giao, khẳng định với thế giới lập trường, quan điểm trước sau như một: Quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa và thềm lục địa phía nam là chủ quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của Việt Nam; mọi hành động lấn chiếm của nước ngoài là trái phép, đều bị lên án; cuộc đấu tranh bảo vệ quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa và thềm lục địa phía nam là chính đáng và được nhân dân thế giới đồng tình ủng hộ.

Với thành tích đó, Quân chủng Hải quân đã được Kỳ họp thứ Ba, Quốc hội khóa VIII ghi nhận: "Nhiệt liệt biểu dương cán bộ, chiến sĩ đã gian khổ hy sinh anh dũng bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc". Và ngày 13-12-1989, Quân chủng Hải quân đã được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Thắng lợi trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa và thềm lục địa phía nam, trước hết, đó là kết quả lãnh đạo của Ban Chấp hành T.Ư Đảng, Bộ Chính trị, Đảng ủy Quân sự T.Ư và Bộ Quốc phòng, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân, của cán bộ, chiến sĩ toàn Quân chủng, sự động viên kịp thời của toàn dân, toàn quân "Tất cả vì Trường Sa thân yêu" cùng với sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới.
 
Trong thắng lợi đó, có phần đóng góp quan trọng của vị Tư lệnh Hải quân Đô đốc Giáp Văn Cương - Tấm gương Đô đốc Giáp Văn Cương đã nêu bật tinh thần mưu trí, táo bạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, quyết đánh và biết thắng cho toàn lực lượng Hải quân Việt Nam.

Ngày nay, tư tưởng ấy vẫn là phương châm chỉ đạo hành động cho toàn Quân chủng quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc"

(Nguồn: Báo Nhân dân)
---------------------------------------------------------------------------------------------
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ TƯỚNG GIÁP VĂN CƯƠNG
Tướng GVC kiểm tra sẵn sàng chiến đấu tại Trường Sa, tháng 5/1988
Kiểm tra vũ khí của Phân đội hỏa lực trên đảo chìm
Tham dự buổi chào cờ đầu tuần trên đảo, cùng bộ đội
Đọc quyết tâm thư, thề bảo vệ Trường Sa, ngày 7/5/1988 trên đảo Trường Sa Lớn
Đón Chỉ huy Hải quân Liên Xô (nay là LB Nga) thăm 1 đơn vị bộ đội tại Vùng 4, Hải quân
Đưa Đại tướng Lê Đức Anh (UVBCT, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) thăm đảo Trường Sa
Đưa TBT Lê Duẩn thăm Hạm đội tàu chiến đấu thuộc Quân chủng Hải quân
* Bài viết có sử dụng hình minh họa của Nhà báo Nguyễn Viết Thái (Nha Trang, Khánh Hòa).

SỰ KIỆN BÌNH AN KHỞI ĐẦU CHO TÌNH TRẠNG DOANH NGHIỆP VỠ NỢ?..

Đào Tuấn - Ngày 8/10/2007, dư luận "mắt tròn mắt dẹt" khi trực tiếp theo dõi cuộc đấu giá "vô tiền khoáng hậu" trong Phiên đấu giá bức tranh "Văn Miếu - Văn hóa Việt", ủng hộ Quỹ Vì người nghèo tại TP. Hồ Chí Minh.

Bà Diệu Hiền, Tổng Giám đốc Công ty Thuỷ sản Bình An trong lần xuất hiện đầu tiên trước ống kính truyền hình, đã trả 3 tỷ đồng cho bức tranh này. Các mức giá sau đó là 5 tỷ, 8 tỷ.

Nữ đại gia Miền Tây chỉ chịu thua khi một “nữ đại gia” khác trả với mức 10 tỷ đồng.

Tuy nhiên, bà nói, giản dị đến thản nhiên là: Sẽ ủng hộ 2 tỷ đồng cho Quỹ Vì người nghèo.

Suốt tuần qua, bên cạnh  thông tin “Bộ Thương mại Mỹ giảm thuế chống bán phá giá cá tra”, báo chí cũng ồ ạt nói về việc bà Diệu Hiền “nợ cả ngàn tỷ”.

Đến 3 tỷ tiền bảo hiểm của công nhân - số tiền đúng bằng mức giá đầu tiên bà đưa ra trong cuộc đấu giá tiền tỷ vô tiền khoáng hậu 5 năm trước, bây giờ bà cũng không có để trả.

Có thể cuộc đấu giá 5 năm trước là một hình thức PR “tiết kiệm”, nhưng mang lại hiệu quả cao trong việc thu hút nguồn vốn.

Nhưng cũng có thể số tiền 2 tỷ mà bà Hiền, đã rất dễ dãi cho đi, dù là ủng hộ người nghèo, cũng là một phần nhỏ của món nợ ngàn tỷ ngày hôm nay.

Số nợ thực sự của Bình An, của bà Diệu Hiền là bao nhiêu, còn phải chờ cơ quan chức năng kết luận.

Hiện giờ, con số tạm thời được Cần Thơ đưa ra là trên dưới 1.000 tỷ mà mỗi ngày, riêng tiền trả lãi cũng cả tỷ đồng.

Nợ đến nỗi, Tổng Giám đốc bất đắc dĩ của Bình An đã buộc phải tuyên bố “Tính đến phương án bán Nhà máy chế biến thủy sản cho một đối tác ở Cần Thơ với giá khoảng 80-90 triệu USD, bán xe Rolls-Royce Phantom trị giá hàng chục tỷ đồng cùng 2 Dự án nhà đất mà Công ty đang đầu tư để sớm trả nợ dứt điểm".

Trước khi “ra nước ngoài”, bà Diệu Hiền thừa nhận Bình An đang gặp khó khăn về vốn để tiếp tục kinh doanh xuất khẩu.

Hàng loạt Ngân hàng như VDB, ACB, BIDV, Vietinbank... đã ngưng cho Công ty vay vốn. "Thiếu vốn đồng nghĩa với Công ty bị Ngân hàng cắt đứt mạch máu lưu thông khiến việc sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn”.

Trong một dự báo, được đưa ra vài ngày trước đây, chính VASEP đã đưa ra một dự báo ảm đạm khi cho rằng, sẽ có ít nhất 20% Doanh nghiệp Thuỷ sản sẽ đóng cửa khi phải đối diện với hàng loạt khó khăn: Thiếu nguyên liệu, chi phí đầu vào cao, chất lượng con giống giảm sút...

Nhưng khó khăn lớn nhất đối với các Doanh nghiệp nói chung và Doanh nghiệp Thuỷ sản nói riêng là nguồn vốn, ở cả 2 khía cạnh: Thiếu nguồn vốn lớn. Và nếu có, thì đó là nguồn vốn với lãi suất... cắt cổ.

Với tình trạng nguồn vốn như hiện nay, 20% Doanh nghiệp ở vào “tình trạng Bình An” có lẽ còn là quá lạc quan.
Chính vì vậy, sẽ là rất nhẫn tâm khi coi quyết định của Bộ Thương mại Mỹ (DOC), giảm thuế (từ 0,56 USD/kg xuống còn 0,03 USD/kg đối với cá tra) là một “chiến thắng”.

Liệu có thể tin vào một "chiến thắng" từ trên trời rơi xuống?..

Cũng khó nói rằng đó là một “cơ hội”- Liệu các Doanh nghiệp còn “cơ hội”, khi Mỹ chỉ là thị trường chiếm 28% giá trị xuất khẩu cá tra?. Khi mà đối với nhiều Doanh nghiệp, sản lượng xuất khẩu sang 2 thị trường lớn khác là EU và Nhật Bản đã giảm tới 50%?..

Năm ngoái, 50.000 Doanh nghiệp đã phải giải thể, phá sản.

Ngay những ngày đầu năm nay, hàng loạt "đại gia" rơi vào cảnh nợ nần phải bán xe, bán nhà.

Có lẽ, Bình An chỉ nạn nhân đầu tiên trong vô số những Doanh nghiệp bị xiết tín dụng.

Sự kiện Bình An, có lẽ cũng chỉ là sự khởi đầu cho tình trạng vỡ nợ của các Doanh nghiệp...
---------------------------------------
* Hình ảnh đánh bắt, khai thác, nuôi trồng thủy - hải sản trong bài (nguồn: OF) chỉ có tính chất minh họa, không liên quan đến nội dung bài viết.

12 tháng 3, 2012

"NGÀY 19/2/1988, TRUNG QUỐC ĐÃ ĐỔ QUÂN LÊN BÃI CHÂU VIÊN (TRƯỜNG SA) VÀ SẴN SÀNG NỔ SÚNG NẾU MÌNH LÊN...".

Thiềm Thừ P2- Tháng 10/1987, Trung tá Nguyễn Văn Dân ra Trường Sa trực tiếp chỉ huy việc dựng nhà cao chân tại các đảo chìm, bãi đá ngầm. Chuyến đi gian khổ đó kéo dài tới 10 tháng, tháng 8/1988 ông mới về đến đất liền. Câu chuyện tiếp theo của ông nói về Chiến dịch CQ-88 của Hải quân Việt Nam (đọc Phần 1)
---------------------------------------
Trước năm 1987, mình đã xây nhà trên một số đảo chìm, tình hình chưa đến nỗi phức tạp lắm.

Nhưng từ giữa năm 1987, tình hình tại quần đảo Trường Sa diễn biến rất khẩn trương.

Khi đó tôi là Trung tá, Phó Tham mưu trưởng Vùng 4, trực tiếp chỉ huy khu vực 2 của Trường Sa.

Biết đối phương có ý đồ, cấp trên chỉ đạo Vùng 4 làm sẵn các khung nhà cao chân, tổ chức biên chế lực lượng để mang ra ráp tại các đảo chìm, bãi đá ngầm.

Tháng 10/1987, tôi trực tiếp cùng Trung tá Lưu Đình Lừng, Hải đội trưởng một Hải đội của Lữ đoàn 125 ra tăng cường cho Trường Sa.

Không ngờ, chuyến đi đó kéo dài tới 10 tháng, đến tháng 8/1988 tôi mới về đất liền.

Trên tàu HQ-617, chúng tôi mang 3 khung nhà cao chân và 3 khung lực lượng đóng giữ đảo, vừa nắm tình hình vừa dựng nhà trên đảo chìm. Trọng tâm là giữ bằng được đảo Đá Lớn.

Đảo Đá Lớn gần đất liền hơn so với nhiều đảo khác.

Đá Chữ Thập còn gần hơn, nhưng lúc đó mình quan niệm Chữ Thập nó nhỏ.

Đá Lớn là một bãi cạn dài hơn 20 km (tương đương với các đảo Thuyền Chài, Đá Đông), là những đảo loại to nhất ở Trường Sa, đều do ta đóng giữ.

Đảo Núi Thị cũng rất quan trọng, ở ngay phía Đông đảo Ba Bình đang bị Đài Loan chiếm giữ và không xa các đảo Thị Tứ, Loại Ta đang bị Philippines chiếm giữ.

Khoảng ngày 7-8/11/1987, có một cơn bão lớn, tàu HQ-617 bị mất toàn bộ hệ thống neo.

Trước đó, chúng tôi đã xác định được luồng vào hồ Đá Lớn và 3 điểm dựng nhà, nhưng do bão quá lớn, phải về đất liền tránh bão…

Ngày 20/1/1988, chuyến máy bay đầu tiên chở cán bộ của Bộ Tư lệnh Hải Quân do Chuẩn Đô đốc, Phó Tư lệnh trưởng Phạm Huấn dẫn đầu vào đến Cam Ranh.

Tại đây, ông Phạm Huấn phổ biến Nghị quyết của Quân chủng về nhiệm vụ đóng giữ các đảo chìm trong tình hình khẩn trương.
Đến tháng 2, Tư Lệnh Quân chủng Giáp Văn Cương cũng vào Cam Ranh, trực tiếp làm Tư lệnh Vùng 4, chỉ huy chiến dịch Chủ Quyền 88 (CQ-88).

Tôi được Vùng giao làm Phó Trưởng đoàn, phụ trách Chỉ huy đi biển của Đoàn công tác ra tiếp tục đóng giữ các đảo, bãi ngầm. Hướng chính là Đá Đông, Châu Viên, Đá Lát…

Tổ chức đóng giữ xong Đá Đông đã sát Tết, có thêm lực lượng ra, do Chỉ huy trưởng Vùng 4, Đại tá Lê Văn Thư trực tiếp chỉ huy...

Diễn biến ác liệt đầu tiên xảy ra là ở bãi Châu Viên. Sáng 18/2/1988, khi lực lượng mình đến, Trung Quốc đưa tàu khu trục, tàu pháo đến chặn, không cho mình lên đảo.

Chưa có bắn pháo, nhưng khi mình lên thì nó ngăn chặn. Hai bên hằm hè nhau...

Tối đó có dông lớn, cả nó cả mình đều bị trôi neo.

Tàu chúng tôi về Đá Đông, làm căn nhà cao chân đầu tiên ở mỏm Đông của Đá Đông, kéo cờ lên khẳng định chủ quyền.

Nhưng Trung Quốc cũng đổ bộ lên phía bên kia, mỏm Tây của Đá Đông.

Tàu HQ-661 của mình lao lên đó, bên kia thôi. HQ-661 lao lên đó, nhưng chỉ kẹt, không hỏng tàu, sau cứu ra được.

Tàu chiến của nó cứ quần liên tục ở bên ngoài. Ngày 19/2/1988, chúng tôi tiếp tục xây dựng 3 nhà trên đảo Đá Đông, lực lượng trú đóng hơn 80 người.

Nhưng phía bãi Châu Viên, mình không lên được nữa rồi. Trung Quốc đã đổ quân chiếm đóng, nó sẵn sàng nổ súng nếu mình lên…

Đêm 13/3/1988, tôi được lệnh lên tàu HQ-614, chỉ huy lực lượng hành quân ngay lên phía đảo Sinh Tồn...

(Còn tiếp)
-------------------------------------------------------------------------------------
Hình ảnh minh họa của Nhà báo Nguyễn Viết Thái (TP. Nha Trang, Khánh Hòa).

"ĐÁNH" NGƯỜI BỆNH TẬT LÀ KHÔNG CÓ TIM...

Mai Thanh Hải - Nhan đề của bài viết là "Một "người trong cuộc" bình bài trên Báo Thanh niên" trên Blog Thu Hồng (ở đây). Mình cũng có chung quan điểm như tác giả: "Đánh người vô cớ là vô đạo đức, đánh phụ nữ là vô học (không cớ nào), đánh người bệnh tật là không có tim".
---------------------------------------
1. Công ty Diệu Hiền đang rất khó khăn vì cả lý do khách quan, lẫn lý do chủ quan ở chính chị Diệu Hiền: Người phụ nữ này vừa đáng thương vừa đáng trách.

Cả THƯƠNG và TRÁCH đều rất lớn, rất to. Gào lên mới xứng đáng. Em biết khá rõ về gia đình này nên mới dám nói thế.

2. Tất cả những gì Thanh niên viết vừa đúng vừa sai: Đúng ở hiện tượng (đã được nêu ra một cách không đầy đủ - không biết là có ý chọn lọc hay vô ý không đủ thông tin) và không hoàn toàn đúng họăc sai về bản chất.

Cách làm này làm em liên tưởng đến câu châm ngôn: 1 nửa cái bánh mì vẫn là bánh mì, 1 nửa sự thật là sự dối trá.

Và kết quả là rõ: Công ty của Diệu Hiền hết cửa để làm ăn và phá sản là chắc chắn. Trước đây em dự báo tỷ lệ phá sản của công ty này là 50/50.

3. Đọc Thanh niên sẽ có 2 cảm nhận: A. Người không liên can thì nghĩ là Thanh niên đang “đánh” Công ty này. B. Chủ nợ sẽ nghĩ đến việc đi đòi nợ gấp. Không biết dụng ý tác giả là gì, nhưng hệ quả là như thế trong mắt người đọc. Và mọi Doanh nghiệp nếu bị đòi “tiền mặt trả ngay” đều có khả năng phá sản cao, dù đang rất lành mạnh.

4. Nhà giáo mà không có đạo đức sẽ làm hỏng con người, Nhà báo không có đạo đức sẽ làm hỏng nền tảng đạo đức xã hội.
Ngày xưa hồi còn học Đại học, có ông thầy dạy Chủ nghĩa Cộng sản khoa học nói với em rằng: Giai cấp vô sản công nghiệp là tiên tiến và họ mới thực hiện được cách mạng xây dựng Chủ nghĩa cộng sản.

Có một loại giai cấp vô sản khác gọi là giai cấp vô sản lưu manh, họ mà cướp chính quyền chỉ là cướp của và phá hoại.

5. Chị Hiền bị ung thư là chuyện em đã nghe hồi trước Tết, nay thành đề tài báo chí.

Chuyện đi chữa trị, sang Mỹ…có thể là bỏ trốn, có thể là chữa bệnh, không ai biết ngoài chính chị Hiền. Nhưng trong tất cả các loại tật xấu của phụ nữ, sợ hãi là tật xấu dễ tha thứ nhất.

Khi khai thác đề tài này có ai nghĩ nếu chị ấy bị bệnh thật thì sao (kể cả người ủng hộ lẫn đánh)?. Họ có một chút lương tâm nào không?..

Đánh người vô cớ là vô đạo đức, đánh phụ nữ là vô học (không cớ nào), đánh người bệnh tật là không có tim.

6. Đọc báo của nhà chị bây giờ chán lắm. Mỗi lần cầm lên đọc (theo thói quen của mấy chục năm nay không thể bỏ) lại thấy chán.
---------------------------------------
* Hình ảnh chỉ có tính chất minh họa, không liên quan đến nội dung bài viết.