28 tháng 6, 2013

LẠY CON CHÁU VUA HÙNG

Mai Thanh Hải - Đến Pleiku (Gia Lai) đúng mấy ngày mưa nên đến đâu cũng mịt mù sương mây và ướt lướt thướt, đúng chất "Phố núi cao phố núi đầy sương", chẳng thăm thú được chỗ này chỗ khác, mang tính chất cao nguyên.

Thấy mình thở dài thườn thượt, bác Văn Công Hùng mách: "Thôi thì ra công viên Đồng Xanh mà xem mấy cái thứ na ná Tây Nguyên" khiến mình à nhớ ra cái khu vui chơi tổng hợp nằm ở xã An Phú, cách Pleiku khoảng 10 km, trên đường xuống Quy Nhơn - Bình Định.

Công viên này của Cty Cổ phần Gia Lai CTC và được giới thiệu trên website rất hoành tráng, đại loại:

"Nguyên là khu đất cằn cỗi và là sân phơi Hợp tác xã An Phú, công viên được đầu tư xây dựng từ năm 1998 với diện tích 14 ha. Qua nhiều năm vừa đầu tư xây dựng vừa khai thác kinh doanh, đến nay công viên là công trình mang đậm bản sắc dân tộc, bản sắc Tây Nguyên. Hàng năm tiếp đón hàng trăm ngàn du khách đến tham quan, vui chơi, giải trí. Công viên gồm nhiều khu vực: khu văn hóa tâm linh, khu văn hóa các dân tộc thiểu số, khu vườn thú mi ni, khu vui chơi giải trí thiếu nhi, khu dịch vụ ẩm thực nhà hàng tiệc cưới…"

Đặc biệt, việc giới thiệu rất nhấn mạnh đến: "Khu Văn hóa tâm linh nơi có Đền thờ Quốc tổ Hùng Vương được xây theo kiến trúc truyền thống với mái nhà Rông cách điệu cao 18m. Trong điện thờ, tượng Vua Hùng cao 6m, nặng gần 3 tấn gỗ mít sơn son thiếp vàng, kiến trúc văn hóa Việt bố trí sắp đặt hài hòa được thực hiện bởi các nghệ nhân từ thủ đô Hà Nội. Trước điện thờ là tượng 18 Vua Hùng uy nghi. Cạnh đó, chùa Một Cột -“Tây Thiên Nhất Trụ” được xây dựng theo đúng nguyên mẫu của Chùa Một Cột Hà Nội gợi nhớ về kiến trúc tâm linh thiêng liêng bậc nhất của Thủ đô. Xung quanh quần thể văn hóa Việt còn có lầu Thần tài, tượng Phật Quan Âm cứu khổ, cứu nạn, cổng Tam Quan bằng đá Ninh Bình; các loại cây quý được bố trí hài hòa, tạo ấn tượng và sự trân trọng đối với du khách khi đến nơi này"...

Mình lọ mọ mua vé 20.000 VND vào thăm Công viên Đồng Xanh vắng ngắt cũ kỹ xuống cấp và dĩ nhiên phải tìm đến Khu Văn hóa tâm linh để tìm đến Đền thờ Quốc tổ Hùng Vương.

Sẽ không có gì đáng nói, nếu dưới đế chân tượng 18 Vua Hùng không có những tấm bảng chú thích rành mạch về tên, húy, số tuổi, số năm làm vua, số vợ con cháu chắt...

Mọi lời bình, xin dành cho người đọc.

Mình chỉ nói rằng: Việc đưa số liệu (dù mãi khi xem hết các chú thích, phải thật chú ý mới phát hiện tấm biển "Ghi chú" quay ngược phía sau như đánh đố du khách "Những số liệu về tên, húy, tuổi, số vợ, con, cháu của 18 Vua Hùng ghi chú trước bức tượng được trích từ nguồn tài liệu Giới thiệu Khu di tích lịch sử Đền Hùng của tác giả Vũ Kim Biên nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn do Sở Văn hóa thông tin Phú Thọ xuất bản 2006") cho dù có trích từ nguồn nào, cũng nên giải thích cặn kẽ, kẻo sự đánh đồng huyền thoại sự tích và đời thực, không chỉ gây thắc mắc khó chịu mà còn tạo tác dụng ngược, rất phản cảm với không chỉ du khách nước ngoài, mà ngay với người Việt.

Người xem, khó có thể tin một người sống được vài trăm năm, thậm chí gần 1.000 năm, cho dù đó là vua cháu ngày xưa và cho dù những lời chú thích này được ghi rành mạch bằng tiếng Việt, trong công viên "chính thống", chứ không phải công viên nhà của những người... "khác người" tự lập lên.

Người xem không dám trách các nhân vật trong lịch sử bởi huyền thoại thì luôn là huyền thoại, sự nghiên cứu - sưu tầm có chăng cũng chỉ gói gọn lại trong cứ liệu lịch sử.

Và người xem, chỉ biết lắc đầu: "Lạy con cháu Vua Hùng", khi đọc những dòng ghi chú sưu tầm từ huyền thoại, được ghi rành mạch giữa thanh thiên bạch nhật, ở ngay nơi đang phấn đấu "đến năm 2015 khi xây dựng hoàn chỉnh đây sẽ là một công viên hiện đại, hấp dẫn bậc nhất của khu vực", mà thôi..

Thờ phụng Vua Hùng là điều rất đáng làm, không thể phủ nhận được. Nhưng thờ phụng kèm những chú thích không cần thiết, gây sự hoài nghi - phản tác dụng như ở Công viên Đồng Xanh Gia Lai như thế này, thì có khi cả nước có duy nhất ở TP Pleiku, nên mình cũng đành: "Xin lạy con cháu Vua Hùng!"..
-----------------------------------------------------------------------

27 tháng 6, 2013

THIẾU GẠO THIẾU TIỀN, KHÔNG THIẾU... KHẨU HIỆU?.

Mai Thanh Hải - Trở lại câu chuyện khẩu hiệu ở các gia đình hộ dân tại một số tỉnh miền Trung - Tây nguyên: Càng lên miền núi khó khăn, càng thấy nhiều khẩu hiệu với đủ các nội dung từ thuộc lòng xa lắc xa lơ cho đến mới toe, lần đầu bắt gặp.

Đi dọc đường Hồ Chí Minh, đoạn qua huyện Đại Lộc và Nam Giang, khẩu hiệu san sát, cứ mỗi nhà 1 tấm biển gỗ màu đỏ chữ vàng,  cheo leo đứng trên 2 cọc gỗ đầu ngõ.

Dừng lại ở "Trung tâm khẩu hiệu" xã Zơ Nông, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam tìm hiểu, mới biết: Mỗi nhà phải nộp 45.000 VND để mua riêng khẩu hiệu, cọc chống và công đóng gia đình phải tự bỏ ra. Treo đâu ở tùy, cốt sao mỗi hộ phải có 1 khẩu hiệu treo trước cửa, còn treo thế nào và đổ xiên xẹo ra sao, thì... kệ.

Cấp cơ sở "máu me" chữ nghĩa vậy, thảo nào qua các Thị trấn - thị tứ các địa phương trên đường Hồ Chí Minh, cứ giật mình thon thót vì các cổng chào khổng lồ đồ sộ chắn ngang đường.

Cái nào cũng kín đặc màu khẩu hiệu đỏ chót, chữ choang choác màu vàng và suốt từ cổng chào đầu đến cổng chào cuối, pa nô - áp phích - khẩu hiệu phướn cứ xếp hàng la liệt, như khoe giọng - luyện chữ với khách ngang qua.

Chợt lẩn mẩn: Số tiền làm pa nô - áp phích - khẩu hiệu hàng năm ở các địa phương trong cả nước, nếu thống kê được chắc là nhiều lắm, bởi chúng ta có quá nhiều ngày lễ kỷ niệm?.

Với các địa phương vùng sâu vùng xa, vùng cao khó khăn, số tiền này có khi còn nhiều gấp đôi đồng bằng đô thị, bởi hình như càng nghèo càng nhiều khẩu hiệu và số khẩu hiệu này, có khi còn bị cộng cả "phí chuyên chở" như gạo muối - xăng dầu, chứ chả chơi...

Liệu người dân có thực sự yêu quý tấm khẩu hiệu và học tập - làm theo nội dung ghi trên đó, khi mà việc treo dựng ngay tấm khẩu hiệu được triển khai theo kiểu phong trào, tràn lan, treo dựng vô tội vạ, ngày qua ngày bị ngả nghiêng - xiêu vẹo - tróc mốc?.

Có lẽ cũng đã đến lúc có sự đánh giá nghiêm túc về hiệu quả của công tác tuyên truyền qua panô - áp phích, để rút ra phương pháp hiệu quả nhất, trong thời buổi khác xa với những năm "cả nước vui sao từng hồi trống giục" và người "thụ hưởng" còn muốn đọc, muốn nghe?..
------------------------------------------------------------------------------------------------




26 tháng 6, 2013

CÓ MỘT THỜI, LOẠN LẠC?..

Nguyễn Ngọc Tư - Có con, chuyện con có bồ cũng tự nhiên như nó ho, sổ mũi hồi vài ba tuổi. Nghĩa là cũng quan trọng đó, nhưng không nguy cấp tính mạng, thủng thẳng lo được.

Hiểu biết chung quanh chuyện trai gái hồi trước chỉ trông cậy vào lời khuyên bảo mù mịt hoang đường  của người già, giờ thì kiến thức đâu cũng có, từ trường học, sách, mạng…

Con biết chắc hôn môi tuyệt đối không có bầu, mình đỡ phải nói gần nói xa chuyện chạm da va thịt, những thứ mà nói bằng lời cũng sượng.

Chỉ phải nhắc con: Nhớ chọn người tử tế.

Vài ba năm trước một bà mẹ vô lo còn nghĩ vậy khi con đưa bồ về nhà ra mắt, giờ thời thế trở quẻ, yêu là mạo hiểm rủi ro như leo núi.

Đi bên những bờ vực.

Bất trắc không phải ở những khúc quanh, từng gờ đá, mà từ người bạn đường thân thiết nhất.

Cái câu “chọn người tử tế” tưởng nhẹ tênh, hóa ra là một nhiệm vụ xương xẩu.

Tử tế sống chung đến nửa đời cho đến khi vợ bị chồng đẩy xuống sông.

Tử tế yêu nhau cho đến khi oằn dưới những nhát dao quyết liệt từ tay bồ giữa một cuộc cãi cọ chẳng đáng gì.

Mấy anh bạn đào hoa lúc này không biết đã có chút lấm lét chưa, khi nhắc đến chữ ‘bồ”.

Những cuộc chia tay cho đến lúc này xảy ra êm đẹp, chưa cô nào đặt kíp nổ trong xe để úm ba la hai đứa chết chùm.

Nhưng chưa chẳng có nghĩa là không có.

Những bờ vực luôn mở khi những người yêu nhau còn nghĩ anh ấy hoặc cô ấy là của mình.

Da thịt nọ của mình, cứ nghĩ rơi vào tay người khác thôi là đã không đành.

Cầm tù nhau bằng cái khóa thề mang tên “mãi mãi” coi bộ không chắc ăn, kết luôn án tử.

Cái bi kịch “của mình” này cuốn Nguyệt thực nổi tiếng của Trung Quốc viết rồi, cả chương Ba là quang cảnh nông trường chăn nuôi phá sản, những nông dân đi giành lại những thứ “của mình”.

Một cô bé vì quyết liệt giữ cái nồi nấu cám mà bứt đứt lìa cánh tay. Ôm cái nồi vẫn còn cánh tay bé bỏng kia bám cứng trên quai, gã thắng trong cuộc cướp bóc đem về treo trên giàn bếp.

Mới nhớ ra đứa bé ấy là đứa con rơi “của mình”.

Mẹ đứa nhỏ dặn nó phải cố giành nồi nấu cám cho bằng được để làm quà nhận lại cha.

Ngoài mấy bài giảng tập hợp thành sách của những vị thiền sư bày trên kệ sách tôn giáo, chẳng thấy trường lớp nào dạy cách buông bỏ.

Giữ rịt, vơ níu bất chấp từ những lĩnh vực nhập nhoạng như chính trị, hào nhoáng như giới giải trí, đến lãng mạn như tình yêu.

Xưa, phải lòng người mua chiếu mà anh bán chiếu Cà Mau buồn thỉu buồn thiu, nghĩ người ta đã có đôi rồi, thôi mình vác cặp chiếu bông trở về.

Giờ yêu đơn phương mãi không được đáp tạ, tưới xăng mồi lửa người thương giữa đường.

Lan trong tuồng cải lương nổi tiếng Chuyện tình Lan và Điệp không buông bỏ được nên chết héo chết sầu, Lan bây giờ không buông bỏ được xách mã tấu chạy đến đám cưới của thằng bồ vừa kịp cũ.

Sinh viên có kiểu thanh trừng người yêu bằng dao kéo, ca sỹ có kiểu lên báo hài tội bồ cũ của ca sỹ, chính khách cũng có kiểu riêng thanh toán đồng chí của mình.

Không tin, mời coi báo.

Bỗng sến và xưa quá cỡ cái bảng lảng của buổi tiễn đưa người yêu đi lấy chồng, có người đứng lặng trông, xác pháo tan nát lòng.

Nhạc của thời loạn lạc mà thấy tình yêu dường như lành lặn, không vết chém, không hận thù.

Là chỗ nương tựa giữa buổi đạn nổ pháo cày

Là nín nhịn hy sinh, thôi em về với người ta, quên thằng nhạc sỹ nghèo này đi.

Có ông còn nhận thẳng thắn nhận ra chuyện người tình không lấy mình lựa chọn sáng suốt, từ “con đường em theo đó đúng hay sao em”, quay ngoắt lại nói con đường em đi đó đúng đấy em ơi.

Tình yêu là một vết thương không kín miệng, mấy ông danh nhân nói vậy.

Lâu lâu chảy chút máu chơi, cho thú vị đời, chẳng chết ai.

Nhưng giờ người ta chảy máu đến chết dưới tay người yêu nhiều quá, những cái vực mở hút sâu khi thời thế khiến thiên hạ sống ngày càng táng tận ráo riết.

Nụ hôn sẽ có vị gì khi nghĩ tới bồ bịch đang giấu dao trong áo?..

Cuộc đời đúng là kinh ngạc hết sức, tưởng đã thấu hiểu đến đáy của phi đạo đức rồi, mà đáy vẫn đầy những ngách hang ngoắt ngoéo.

Chẳng lẽ đổ lỗi cho củ gừng Tàu tẩm độc, ai ăn vào cũng phát điên?..
----------------------------------
* Nhan đề bài viết do MTH đặt lại, không phải nguyên bản của tác giả Nguyễn Ngọc Tư.
* Hình ảnh đăng trên Xóm nhiếp ảnh, chỉ có tính chất minh họa, không liên quan đến nội dung bài viết.

ĐỔI MỚI ĐỂ... TIẾN LÊN?.

Mai Thanh Hải - Đi dọc các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên, càng những tỉnh nghèo càng thấy nhiều khẩu hiệu.

Khẩu hiệu chăng ngang đường, quấn quanh gốc cây, đầy ứ ở các trụ sở từ thôn xóm đến tỉnh huyện và "lan tỏa" xuống cả các đầu ngõ xóm, trước cửa nhà dân.

Nội dung thì đủ loại, từ ca ngợi Đảng - Bác Hồ cho đến thực hiện các phong trào của MTTQ, ngành Văn hóa Thông tin, gọi tuyển quân nhập ngũ, cho đến Kế hoạch hóa gia đình, tiêm phòng chó dại... cứ choang choang như mệnh lệnh chiến đấu, đọc xong u hết cả đầu.

Thế nhưng, ấn tượng nhất với mình là khẩu hiệu "Đổi mới để tiến lên", treo trước cửa nhà một số hộ dân thuộc huyện Đại Lộc (Quảng Nam).

Chả hiểu cái sự "đổi mới" ở tỉnh này "đầu cua tai nheo" ra sao, nhưng điều mình biết rõ là Quảng Nam vẫn nghèo, như 20 năm trước, khi mình mới đến công tác ở xứ Quảng và Đại Lộc nói riêng Quảng Nam nói chung phải vắt chân lên cổ mà chạy, may ra mới kịp Hội An, Đà Nẵng...

Thấm thía: Càng nơi nào nghèo khổ, thiếu thốn càng nhiều... khẩu hiệu!..