25 tháng 7, 2011

DANH SÁCH LIỆT SỸ HY SINH NGÀY 14/3/1988 TẠI TRƯỜNG SA

Bia ghi tên các Liệt sĩ tại Cam Ranh, Khánh Hòa
Mai Thanh Hải Blog - Ngay sau khi diễn ra sự kiện 14/3/1988 trên vùng biển Cô Lin - Gạc Ma (Trường Sa, Khánh Hòa), Nhà nước - nhân dân ta đã cực lực phản đối hành động dã man của nhà cầm quyền Trung Quốc và trên thực tế, đã có sự chuẩn bị - sẵn sàng đối phó nếu sự việc tương tự xảy ra một lần nữa. Minh chứng rõ nhất là những bài đăng trên Báo Nhân dân và tin - phóng sự trực tiếp từ hiện trường đảo chìm Cô Lin, do Nhà báo Trần Bình Minh (nay là Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam) thực hiện, phát liên tục trên sóng của Đài Truyền hình Việt Nam.

Chủ nhật vừa rồi, thấy bà con cầm tờ giấy A4 ghi tên những Liệt sĩ hy sinh ngày 14/3/1988, bạn mình dụi mắt lắc đầu: "Có những cái tên Liệt sĩ mới nghe lần đầu!".
Đài Tưởng niệm

Hôm nay, thấy trang của TS Nguyễn Xuân Diện đăng Entry "Lời tạ lỗi", do ai đó viết, gửi đến "Những người tham gia biểu tình và các công dân Việt Nam khác" (Nghe "hùng hồn" như thể... "Thánh chỉ"! Kinh!), mới thấy là bạn mình đúng. Té ra, người ta in tên mấy người còn đang sống, làm thành "Liệt sỹ hy sinh tại Trường Sa, 14/3/1988" và giơ ra, như... cán bộ chính sách.

Xin được nói rõ: Ngày 28/3/1988, Báo Nhân dân đã công bố danh sách 74 cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam "bị mất tích do tội ác của nhà cầm quyền Trung Quốc". Sau này, đã xác định một số cán bộ - chiến sĩ bị phía Trung Quốc bắt làm tù binh. Như vậy, số chiến sĩ hy sinh trong ngày 14/3/1988 là 64 người và từ tháng 4/1988, những người nằm xuống đều được Nhà nước truy tặng Liệt sỹ, gia đình - người thân của họ đều được hưởng mọi chế độ dành cho Liệt sỹ

Bây giờ, nếu ai đi từ sân bay Cam Ranh về thành phố Nha Trang, nếu để ý sẽ thấy Tượng đài Tưởng niệm các quân nhân Liên Xô (cũ) và Việt Nam đã hy sinh vì hòa bình và ổn định khu vực bằng đá hoa cương cao trên 20 mét, với biểu tượng chiếc máy bay chiến đấu lao vút lên trời cao và 2 người lính công kênh bé em trên vai.
Tổ quốc và nhân dân ghi công các anh

Nếu ai đó thực sự tưởng nhớ, biết ơn 44 quân nhân Liên Xô/ Nga và 176 quân nhân Việt Nam đã ngã xuống ở khu vực Cam Ranh, miền Trung, hãy dừng lại thắp 1 nén hương, cúi đầu tưởng niệm và đọc tên những người đã nằm xuống. Những người lính hy sinh ở Cô Lin - Gạc Ma, Trường Sa năm 1988, đều có 1 ngày hy sinh chung nhất: 14/3.

Nhắc đến lịch sử là nhắc đến tính chính xác và tôn trọng sự thật. Nhất là sự thật này làm bằng máu, bằng mạng sống của 64 người lính Việt, rất trẻ và rất linh thiêng... trên vùng biển Cô Lin-Gạc Ma phẳng lặng, giữa sóng cuộn gió gào Trường Sa biển xanh, máu đỏ.
---------------------------------------------------------------------------

DANH SÁCH LIỆT SỸ HY SINH NGÀY 14/3/1988

(Danh sách do Phòng Chính trị, Lữ đoàn 146, Vùng 4 - Hải quân cung cấp)

SttHọ tênNăm sinhCấp bậcChức vụNhập ngũĐơn vịQuê quán
1 (2+39)Trần Văn Phương1965Thiếu uýB trưởng3-1983Gạc MaQuảng Phúc, Quảng Trạch, Quảng Bình
2 (1)Trần Đức Thông1944Trung táLữ phó 1464-1962Gạc MaMinh Hoà, Hưng Hà, Thái Bình
3 (40)Nguyễn Mậu Phong1959Thượng uýB trưởng11-1977Gạc MaDuy Ninh, Lệ Ninh, Quảng Bình
4 (41)Đinh Ngọc Doanh1964Trung uýB trưởng9-1982Gạc MaNinh Khang, Hoa Lư, Ninh Bình (Cam Nghĩa, Cam Ranh, Khánh Hoà)
5 (42)Hồ Công Đệ1958Trung uý (QNCN)Y sĩ2-1982Gạc MaHải Thượng, Tĩnh Gia, Thanh Hoá
6 (43)Phạm Huy Sơn1963Chuẩn uý (QNCN)Y sĩ2-1982Gạc MaDiễn Nguyên, Diễn Châu, Nghệ An
7 (44)Nguyễn Văn Phương1969Trung sĩCơ yếu3-1987Gạc MaMê Linh, Đông Hưng, Thái Bình
8 (45)Bùi Bá Kiên1967Trung sĩChiến sĩ3-1986Gạc MaVăn Phong, Cát Hải, Hải Phòng
9 (46)Đào Kim Cương1967Trung sĩBáo vụ2-1985Gạc MaVương Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh
10 (47)Nguyễn Văn Thành1967Trung sĩChiến sĩ3-1982Gạc MaHương Điền, Hương Khê, Hà Tĩnh
11 (48)Đậu Xuân Tứ (Tư)1964Trung sĩChiến sĩ3-1985Gạc MaNghi Yên, Nghi Lộc, Nghệ An
12 (49)Lê Bá Giang1968Hạ sĩBáo vụ3-1987Gạc MaHưng Dũng, Vinh, Nghệ An
13 (50)Nguyễn Thanh Hải1967Hạ sĩQuản lý3-1986Gạc MaSơn Kim, Hương Sơn, Hà Tĩnh
14 (51)Phạm Văn Dương1967Hạ sĩA trưởng3-1986Gạc MaNam Kim 3, Nam Đàn, Nghệ An
15 (52)Hồ Văn Nuôi1967Trung sĩChiến sĩ8-1985Gạc MaNghi Tiến, Nghi Lộc, Nghệ An
16 (53)Cao Đình Lương1967Trung sĩA trưởng8-1985Gạc MaTrung Thành, Yên Thành, Nghệ An
17 (54)Trương Văn Thịnh1966Trung sĩChiến sĩ8-1985Gạc MaBình Kiến, Tuy Hoà, Phú Yên
18 (55)Võ Đình Tuấn1968Trung sĩQuản lý8-1986Gạc MaNinh Ích, Ninh Hoà, Khánh Hoà
19 (56)Phan Tấn Dư1966Trung sĩBáo vụ2/1986Gạc MaHoà Phong, Tây Hoà, Phú Yên
20 (3)Vũ Phi Trừ1955Đại uýThuyền trưởngHQ604Đội 10, Quảng Khê, Quảng Xương, Thanh Hoá
21 (101)Vũ Văn ThắngThượng uýThuyền phóHQ604Văn Hàn, Thái Hưng, Thái Thụy, Thái Bình
22 (98)Phạm Gia Thiều1962Thượng uýThuyền phóHQ604Hưng Đạo, Đông Hạ , Nam Ninh , Nam Định
23 (99)Lê Đức Hoàng1962Trung uýThuyền phóHQ604Nam Yên, Hải Yên, Tĩnh Gia, Thanh Hoá
24 (102)Trần Văn Minh1962Thiếu úy (QNCN)Máy trưởngHQ604Đại Tân, Quỳnh Long, Quỳnh Lưu, Nghệ An
25 (103)Đoàn Khắc Hoành1959Thượng sĩTrưởng thông tinHQ604163 Trần Nguyên Hãn, Q. Lê Chân, Hải Phòng
26 (106)Trần Văn Chức1965Hạ sĩNv cơ điệnHQ604Đội 1, Canh Tân, Hưng Hà, Thái Bình
27 (109)Hán Văn Khoa1962Trung sĩNv cơ điệnHQ604Đội 6, Văn Lương, Tam Nông, Phú Thọ
28 (111)Nguyễn Thanh Hải1968Hạ sĩChiến sĩHQ604Mỹ Ca, Chính Mỹ, Thuỷ Nguyên, Hải Phòng
29 (104)Nguyễn Tất Nam1967Hạ sĩChiến sĩHQ604Thường Sơn, Đô Lương, Nghệ An
30 (105)Trần Khắc Bảy1967Hạ sĩChiến sĩHQ604Lê Hồ, Kim Bảng, Hà Nam
31 (110)Đỗ Viết Thành1964Hạ sĩChiến sĩHQ604Thiệu Tân, Đông Sơn, Thanh Hoá
32 (113)Nguyễn Xuân Thuỷ1967Hạ sĩChiến sĩHQ604Phú Linh, Phương Đình, Trực Ninh , Nam Định
33 (120)Nguyễn Minh Tân1956Thượng uýE83 công binhHQ604Dân Chủ, Hưng Hà, Thái Bình
34 (129)Võ Minh Đức1968Binh nhấtChiến sĩ E83HQ604Liên Thuỷ, Lệ Ninh, Quảng Bình
35 (131)Trương Văn Hướng1966Binh nhấtChiến sĩ E83HQ604Hải Ninh, TP Đồng Hới, Quảng Bình
36Nguyễn Tiến DoãnBinh nhấtA trưởng E83HQ604Ngư Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình
37 (133)Phan Hữu Tý1966Binh nhấtChiến sĩ E83HQ604Phong Thuỷ, Lệ Thủy, Quảng Bình
38 (140)Nguyễn Hữu Lộc1968Binh nhìChiến sĩ E83HQ604tổ 22 Hoà Cường, Đà Nẵng
39 (141)Trương Quốc Hùng1967Binh nhìChiến sĩ E83HQ604tổ 55, Hoà Cường, Đà Nẵng
4 (142)Nguyễn Phú Đoàn1968Binh nhấtChiến sĩ E83HQ604tổ 47, Hoà Cường, Đà Nẵng
41 (137)Nguyễn Trung Kiên1968Binh nhấtChiến sĩ E83HQ604Nam Tiến, Nam Ninh , Nam Định
42 (143)Phạm Văn Lợi1968Binh nhấtChiến sĩ E83HQ604Tổ 53, Hoà Cường, Đà Nẵng
43 (123)Trần Văn Quyết1967Binh nhìChiến sĩ E83HQ604Quảng Thuỷ, Quảng Trạch, Quảng Bình
44 (146)Phạm Văn Sỹ1968Binh nhìChiến sĩ E83HQ604tổ 7, Hoà Cường, Đà Nẵng
45 (144)Trần Tài1969Binh nhấtChiến sĩ E83HQ604tổ 12, Hoà Cường, Đà Nẵng
46 (145)Lê Văn Xanh1967Binh nhấtChiến sĩ E83HQ604tổ 38, Hoà Cường, Đà Nẵng
47 (139)Lê Thể1967Binh nhìChiến sĩ E83HQ604tổ 29 An Trung Tây, Đà Nẵng
48 (138)Trần Mạnh Việt1968Binh nhìChiến sĩ E83HQ604Tổ 36, Bình Hiên, Đà Nẵng
49 (121)Trần Văn Phòng1962Thượng uýC trưởng E83HQ604Minh Tân, Kiến Xương, Thái Bình
50 (122)Trần Quốc Trị1955Binh nhấtA trưởng E83HQ604Đông Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình
51 (147)Mai Văn Tuyến1968Binh nhìChiến sĩ E83HQ604Tây An, Tiền Hải, Thái Bình
52 (127)Trần Đức Hoá1966Binh nhấtChiến sĩ E83HQ604Trường Sơn, Quảng Ninh, Quảng Bình
53 (125)Phạm Văn Thiềng1967Binh nhấtChiến sĩ E83HQ604Đông Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình
54 (134)Tống Sỹ Bái1967Binh nhấtChiến sĩ E83HQ604Khóm 3, phường 1, Đông Hà, Quảng Trị
55 (135)Hoàng Anh Đông1967Binh nhìChiến sĩ E83HQ604Khóm 2, phường 2, Đông Hà, Quảng Trị
56 (126)Trương Minh Phương1963Binh nhấtChiến sĩ E83HQ604Quảng Sơn, Quảng Trạch, Quảng Bình
57 (128)Hoàng Văn Thuý1966Binh nhấtChiến sĩ E83HQ604Hải Ninh, TP Đồng Hới, Quảng Bình
58 (131)Võ Văn Tứ1966Binh nhấtChiến sĩ E83HQ604Trường Sơn, Quảng Ninh, Quảng Bình
59 (100)Phan Hữu Doan1960Trung uýThuyền phóHQ605Chí Tiên, Thanh Hòa, Phú Thọ
60 (112, 114)Bùi Duy Hiển1966Trung sĩBáo vụHQ605Thị trấn Diêm Điền, Thái Thuỵ, Thái Bình
61 (169)Nguyễn Bá Cường1962Thượng sĩHọc viên HVHQHQ605Thanh Quýt, Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam
62 (170)Kiều Văn Lập1963Thượng sĩHọc viên HVHQHQ605Phú Long, Long Xuyên, Phúc Thọ, Hà Nội
63 (171)Lê Đình Thơ1957Thượng uý (QNCN)Nv đoàn 6HQ605Hoằng Minh, Hoằng Hoá, Thanh Hoá
64 (172)Cao Xuân Minh1966Binh nhấtChiến sĩ đoàn 6HQ605Hoằng Quang, Hoằng Hoá, Thanh Hoá

Danh sách CBCS Hải quân mất tích, đăng trên Báo Nhân dân ngày 28/3/1988

Tên Liệt sĩ hy sinh 14/3/1988 tại Trường Sa, trên bia tưởng niệm đặt tại Cam Ranh

TƯỞNG NHỚ 64 LIỆT SĨ ĐÃ HY SINH TRONG KHI BẢO VỆ TRƯỜNG SA (NGÀY 14/3/1988)

Thiếu úy Trần Văn Phương và đồng đội giữ cờ Tổ quốc, đánh trả quân Trung Quốc trên đảo Gạc Ma, 14/3/1988
Mai Thanh Hải Blog - Trải qua 3 cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ và chống quân Trung Quốc xâm lược trên biên giới phía Bắc cùng bè lũ phản động Pôn Pốt Iêng-Xary tại biên giới Tây Nam, hàng triệu người con đất Việt đã ngã xuống để giữ gìn đất nước, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ. Trong số này, còn hàng vạn người chưa tìm thấy hài cốt và thân xác các anh - các chị vẫn đang nằm lẫn giữa lá rừng, đất núi, đầm lầy, lòng biển sâu... 
Lễ truy điệu các Liệt sĩ hy sinh trong trận 14/3/1988

Một sự kiện xảy ra gần đây mà không phải ai cũng biết: Sáng ngày 14/3/1988, tại vùng biển Cô Lin - Gạc Ma, thuộc quần đảo Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam), lính đặc nhiệm Hải quân Trung Quốc đã ào ạt đổ bộ lên đảo Gạc Ma, giật cờ Tổ quốc và tấn công tốp chiến sĩ bảo vệ đảo thuộc Lữ đoàn 146 (Vùng 4, Hải quân Việt Nam) khiến toàn bộ đơn vị hy sinh - bị thương. Ngay sau đó, súng - pháo hạng nặng từ các tàu chiến đấu Trung Quốc đã trút đạn vào 3 tàu vận tải của Hải quân Việt Nam đang chở nguyên vật liệu xây dựng, củng cố đảo khiến cả 3 tàu bị chìm, bốc cháy ngay tại chỗ. Dã man hơn, súng - pháo của tàu chiến đấu Trung Quốc còn bắn thẳng vào đội hình công binh Hải quân của Trung đoàn 83, đang quần đùi áo may ô, tay không tấc sắt, vận chuyển gạch đá, xi măng, cát sỏi từ tàu lên đảo, không có khả năng kháng cự - tự vệ... khiến đại đa số cán bộ chiến sĩ trên đảo Gạc Ma trúng đạn, hy sinh ngay tại chỗ và thi thể chìm xuống lòng biển sâu hoặc vẫn mắc kẹt trong khoang tàu vận tải.
Pháo 37mm Trung Quốc bắn CBCS công binh Hải quân trên đảo Gạc Ma

Một số chiến sĩ bị thương, cố bơi thoát ra khỏi khu vực mù mịt đạn pháo, lính Trung Quốc trên tàu dùng súng tiểu liên AK bắn thẳng hoặc dùng câu liêm - gậy, bổ vào đầu, làm chìm mất xác... Đặc biệt, sau khi xảy ra sự việc, tàu chiến đấu Trung Quốc còn ngăn chặn không cho các tàu cứu hộ, tàu mang cờ Chữ Thập đỏ đến khu vực Cô Lin - Gạc Ma để tìm kiếm, cứu nạn thương binh và vớt thi thể tử sĩ.

Kết cục, ngày 14/3/1988, Trung Quốc đã chiếm đảo Gạc Ma, bắn cháy - chìm 3 tàu vận tải của Hải quân Việt Nam (HQ-505, HQ-604, HQ-605) và giết chết, bắt làm tù binh 74 cán bộ - chiến sĩ thuộc các đơn vị của Quân chủng Hải quân đang làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền Tổ quốc trên các đảo Cô Lin - Gạc Ma - Len Đao. Đó là các cán bộ - chiến sĩ thuộc các đơn vị: Lữ đoàn 146, Lữ đoàn Vận tải 125, Trung đoàn Công binh 83, Phân đội Hải đồ thuộc Bộ Tham mưu Quân chủng, Trường Sĩ quan Hải quân...
Chiến sĩ Hải đồ Trương Văn Hiền bị lính Trung Quốc bắt làm tù binh 14/3/88

Xin được nói thêm: Tháng 8/2008, trong khi hành nghề lặn biển tại khu vực Cô Lin - Gạc Ma, một số ngư dân Việt Nam đã phát hiện xác tàu HQ-604 bị chìm sâu dưới đáy biển và vớt lên được 4 hài cốt Liệt sĩ mắc kẹt trong tàu, chuyển giao cho Bộ Quốc phòng (khi mới vớt lên, 4 bộ hài cốt được quàn tạm trên đảo chìm Cô Lin). Ngay sau đó, phía ta đã triển khai việc tiếp tục tìm kiếm hài cốt Liệt sĩ hy sinh trên vùng biển Cô Lin - Gạc Ma, nhưng tàu quân sự Trung Quốc dùng mọi cách ngăn cản, ngăn chặn...

Nhân kỷ niệm 64 năm ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2011), Mai Thanh Hải Blog lật lại một phần tư liệu về Chiến dịch CQ-88 của Hải quân nhân dân Việt Nam và sự kiện ngày 14/3/1988. Xin được xem như nén hương, tưởng nhớ linh hồn 64 cán bộ chiến sỹ Hải quân Việt Nam đã ngã xuống trên vùng biển Cô Lin - Gạc Ma, bởi pháo hạm, đạn nhọn, lưỡi lê của lính Trung Quốc và đến bây giờ, thi thể của các anh vẫn nằm im lặng dưới lòng biển sâu Trường Sa.
-------------------------------------------------
Quần đảo Trường Sa nằm ở tọa độ 8°38′ Bắc 111°55′ Đông, với diện tích (đất liền) nhỏ hơn 5 km², gồm khoảng 148 đảo nhỏ, đảo san hô và đảo chìm rải rác trên diện tích gần 410.000 km² ở giữa biển Đông. Quần đảo hiện đang trực thuộc đơn vị hành chính của huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hoà.
Đảo Trường Sa Lớn (5/2011)

Quần đảo Trường Sa có các nguồn lợi thiên nhiên gồm: Cá, phân chim, tiềm năng dầu mỏ và khí đốt còn chưa được xác định. Do nằm gần khu vực lòng chảo trầm tích chứa nhiều dầu mỏ và khí đốt, quần đảo Trường Sa có tiềm năng lớn về dầu khí. Hiện địa chất vùng biển này vẫn chưa được khảo sát nhiều và chưa có các số liệu đánh giá đáng tin cậy về tiềm năng dầu khí và khoáng sản khác. Trường Sa có vị trí chiến lược nằm gần tuyến đường vận chuyển tàu biển chính trên biển Đông.    
-----------------------------

Trước ngày 30/4/1975, Hải quân Việt Nam Cộng hoà đóng giữ các đảo Nam Yết, Sơn Ca, Song Tử Tây, Sinh Tồn và Trường Sa của quần đảo Trường Sa.

Từ ngày 14/4/1975 đến 29/4/1975, Đội 1 thuộc Đoàn 126 - Đặc công nước Hải quân, phối hợp với Đoàn 125 và một bộ phận của Tiểu đoàn 471, Đặc công Quân khu 5 lần lượt giải phóng và tiếp quản các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn và Trường Sa.
Liệt sĩ Tống Văn Quang hy sinh 14/4/1975 khi giải phóng đảo Song Tử Tây

Tháng 4/1976, Quân chủng Hải quân tổ chức diễn tập đổ bộ, chống đổ bộ trên các đảo Trường Sa.

Tháng 2/1978, Philippines đưa quân chiếm đóng đảo Ponata, đồng thời tăng cường trinh sát quanh các đảo ta đã đóng quân.

Ngày 10/3/1978, quân ta đổ bộ lên đảo An Bang.

Ngày 15/3/1978, ta đóng giữ đảo Sinh Tồn Đông.

Ngày 30/3/1978, ta đóng giữ đảo Hòn Sập (Phan Vinh).

Ngày 4/4/1978, quân ta hoàn thành việc đóng giữ đảo Trường Sa Đông.
Đảo Phan Vinh, 1988 (ảnh: Thiềm Thừ Blog)

tháng 4/1978, 1 phân đội được đưa ra đóng giữ đảo Thuyền Chài, nhưng do điều kiện vật chất chưa bảo đảm nên tháng 5/1978, phân đội được rút về đất liền.

Ngày 8/5/1978, Trung đoàn 146 phòng thủ Trường Sa được thành lập. Năm 1980, đơn vị được nâng cấp thành Lữ đoàn 146 thuộc vùng 4 Hải quân, đóng tại Cam Ranh

Tháng 11/1978, Hải quân Malaysia vây đảo An Bang, nhưng tàu của họ phải rút đi sau 11 ngày gây áp lực với quân ta, nhưng không có kết quả.

Ngày 6/4/1983, ông Hồ Ngọc Nhường, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Khánh (cũ) dẫn đầu đoàn công tác của tỉnh ra thăm và đặt mốc chủ quyền Việt Nam trên đảo Thuyền Chài.

Từ tháng 1/1987 đến giữa năm 1987, việc xây dựng nhà lâu bền trên đảo Thuyền Chài được lực lượng công binh Hải quân và tàu vận tải hoàn thành.
Đèn pha của tàu HQ-931 dùng để khảo sát ban đêm ở Ba Kè, Huyền Trân 1988
Cuối năm 1987, tình hình hoạt động của nước ngoài ở khu vực quần đảo ngày một phức tạp hơn, nhất là quanh các đảo Sinh Tồn, An Bang, Đá Tây, Song Tử Tây, Trường Sa Đông… Đặc biệt, Trung Quốc đã tổ chức tập trận ở khu vực Trường Sa từ 16/5 đến 6/6/1987.

Ngày 24/10/1987, Tư lệnh Hải quân nhân dân Việt Nam ra lệnh cho các đảo Trường Sa chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu.

Ngày 25/10, quân ta đóng giữ thêm 4 đảo (Tiên Nữ, Đá Lớn, Đá Tây, Chữ Thập). Cuối năm có sóng to gió lớn, tuy gặp nhiều khó khăn nhưng các đơn vị đã hoàn thành suất sắc nhiệm vụ.

Trong những tháng đầu năm 1988, Trung Quốc cho quân chiếm đóng Đá Chữ Thập (31/1), tiếp đó đến các bãi đá Châu Viên (18/2), Ga Ven (26/2), Huy Gơ (28/2), Xu Bi (23/3) thuộc quần đảo Trường Sa.
Đô đốc Giáp Văn Cương đọc lời thề quyết tử bảo vệ Trường Sa (5/1988)

Đô đốc Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương kiêm luôn Tư lệnh Vùng 4 Hải quân, vào căn cứ Cam Ranh lập Sở Chỉ huy để trực tiếp chỉ huy chiến dịch Chủ Quyền 88 (CQ-88).

Hải quân nhân dân Việt Nam khẩn trương đóng giữ các bãi Đá Tiên Nữ (26/1), Đá Lát (5/2), Đá Lớn (6/2), Đá Đông (18/2), Tốc Tan (27/2), Núi Le (2/3). Chúng ta đã bước đầu ngăn chặn được hành động mở rộng phạm vi chiếm đóng của Hải quân Trung Quốc.

Ngày 14/2/1988, tại vùng biển Trường Sa xuất hiện 3 tàu chiến của Trung Quốc lăm le định lên chiếm đảo chìm Đá Lớn. Đúng 1h30 ngày 15/2, tàu HQ-701 do biên đội trưởng Nguyễn Văn Tân và thuyền trưởng Hà Văn Thái chỉ huy (đang làm nhiệm vụ đưa hàng Tết ra đảo Nam Yết thì được lệnh neo cạnh Đá Lớn từ 6/2) đã được lệnh lao lên đảo. Chiếc tàu bị hỏng và trở thành chiếc lô cốt, bia chủ quyền trên đảo Đá Lớn.

Đầu tháng 3/1988, Trung Quốc huy động lực lượng của 2 hạm đội xuống khu vực Trường Sa, gồm: 1 tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo, 2 tàu đổ bộ, 3 tàu vận tải hỗ trợ LSM, tàu đo đạc, tàu kéo và 1 pông tông lớn.

Dự đoán đối phương sẽ chiếm các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao, Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ đạo các tàu của Lữ đoàn vận tải 125 mang theo một số phân đội của Trung đoàn Công binh 83 và Lữ đoàn 146 nhanh chóng đến các đảo này.

Ngày 12/3/1988, tàu HQ-605 được lệnh từ đảo Đá Đông đến đóng giữ đảo Len Đao trước 6 giờ sáng ngày 14/3. Sau 29 tiếng hành quân, tàu đến Len Đao lúc 5 giờ ngày 14/3, cắm cờ Việt Nam trên đảo.
Công binh Hải quân tập kết đá xây nhà trên đảo Len Đao, tháng 5/1989

9h ngày 13/3, tàu HQ-604 và tàu HQ-505 được lệnh từ đảo Đá Lớn tiến về phía Gạc Ma, Cô Lin. 17 giờ ngày 13/3, tàu Trung Quốc áp sát uy hiếp các tàu HQ -604, 505 của ta

Đêm 13/3, quân ta bí mật đổ bộ, cắm cờ Việt Nam trên đảo Gạc Ma.

Sáng 14/3/1988, từ tàu HQ-604 đang thả neo tại Gạc Ma, Trung tá Trần Đức Thông, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146 (Vùng 4 Hải quân) phát hiện 4 tàu lớn của Trung Quốc đang tiến lại gần. Một tổ 3 người được cử lên đảo Gạc Ma bảo vệ Quốc kỳ.
Lính Trung Quốc lên xuồng đổ bộ tấn công Gạc Ma

Hải quân Trung Quốc thả 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo. Lực lượng áp đảo nhưng không cướp được cờ trong tay những người lính Việt kiên cường, chúng đã bắn chết Thiếu úy Trần Văn Phương và chiến sĩ Nguyễn Văn Tư, đâm trọng thương Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh.

Nhưng đã có thêm hàng chục chiến sĩ ta từ tàu HQ-604 lao xuống biển bơi vào đảo theo lời kêu gọi của Trung tá Trần Đức Thông, tiếp tục xây lưng với nhau quây thành 1 vòng tròn để bảo vệ lá cờ thấm máu đồng đội.

Lính Trung Quốc bắn pháo 100 mm từ 2 chiến hạm vào tàu HQ-604, khiến tàu bị thủng nhiều lỗ và chìm xuống biển. Lữ đoàn phó Trần Đức Thông, Đại uý thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và nhiều sĩ quan, chiến sĩ đã hy sinh cùng tàu HQ-604.
Tàu HQ-604 bị bắn cháy và chìm ngay tại chỗ

Tại đảo Cô Lin, tàu HQ-505 đã cắm 2 lá cờ trên đảo lúc 5h. Khi thấy tàu HQ-604 bị bắn chìm, thuyền trưởng tàu HQ-505 Vũ Huy Lễ ra lệnh nhổ neo, tăng tốc cho tàu ủi bãi trong làn pháo địch. Con tàu này đã kịp trườn được hai phần ba thân lên đảo trước khi bị tàu địch bắn cháy. Thủy thủ tàu HQ-505 vừa dập lửa cứu tàu, triển khai bảo vệ đảo, vừa đưa xuồng đến cứu thủy thủ tàu HQ-604 bị chìm ở phía bãi Gạc Ma.

Ở hướng đảo Len Đao, lúc 8 giờ20 ngày 14/3, tàu Trung Quốc bắn vào tàu HQ-605. Tàu 605 bị bốc cháy và chìm lúc 6 giờ ngày 15/3, thủy thủ đoàn của tàu bơi về đảo Sinh Tồn an toàn.
Hỏa lực địch tấn công Công binh Hải quân E83 trên đảo Gạc Ma

Mặc dù thua kém đối phương về lực lượng, phương tiện, vũ khí, trong trận chiến đấu ngày 14/3/1988, những người lính Hải quân nhân dân Việt Nam đã chiến đấu quên mình để bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Chúng ta mất 3 tàu, 64 sĩ quan và chiến sĩ hy sinh hoặc mất tích, 11 người bị thương, nhưng đã bảo vệ được chủ quyền tại các đảo Cô Lin và Len Đao.

Trung Quốc chỉ chiếm được đảo Gạc Ma.

Các liệt sĩ Trần Đức Thông, Vũ Phi Trừ, Trần Văn Phương được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tàu HQ-505, thuyền trưởng Vũ Huy Lễ và Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh được tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.
Di ảnh Liệt sĩ Trần Văn Phương

Di ảnh Trung tá - Liệt sĩ Trần Đức Thông
Thẻ Đảng viên của Anh hùng - Liệt sĩ Trần Đức Thông
Lá cờ Tổ quốc, Liệt sĩ Trần Văn Phương và đồng đội đã bảo vệ trên đảo Gạc Ma
Máy bơm nước của tàu HQ-931 dùng để dập lửa cứu tàu HQ-505 bị cháy ngày 14/3/1988
Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Việt Nam về vụ Trung Quốc gây hấn 14/3/1988 đăng trên Báo Nhân dân (15/3/1988)
CBCS tàu HQ-671 tình nguyện cứu hộ đồng đội trong trận 14/3/1988
Tàu HQ-931 chở Thương binh - Liệt sĩ trong trận 14/3/1988 về Quân cảng Cam Ranh
CBCS tàu HQ-505 tham gia trận 14/3/1988 (chụp tháng 5/1988)
Hoạt động tích cực của Vùng 4 Hải quân trong Chiến dịch CQ-88
Trong năm 1988, quân ta đóng giữ thêm 11 bãi đá ngầm khác, nâng tổng số đảo đóng giữ tại quần đảo Trường Sa lên 21 đảo với 33 điểm đóng quân.

Từ tháng 6-1989, để tăng cường bảo vệ chủ quyền tại thềm lục địa tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tiếp giáp quần đảo Trường Sa, Hải quân nhân dân Việt Nam bắt đầu đóng giữ các bãi đá ngầm: Tư Chính, Phúc Nguyên, Phúc Tần, Huyền Trân, Quế Đừơng, Ba Kè. Tại đây chúng ta đã xây dựng nhiều trạm Kinh tế - khoa học – dịch vụ (DK1).

Hình tư liệu: Cục Chính trị, Vùng 4 Hải quân; Lữ đoàn 146; Thiềm Thừ Blog, Trung tâm Dữ liệu Hoàng Sa... và một số trang mạng xã hội khác

(Còn tiếp)

24 tháng 7, 2011

TỔ HỢP PHÁO PHẢN LỰC BẮN LOẠT BM-21 NÂNG CẤP (9K51 GRAD), TRỊ GIÁ 1,2 TRIỆU USD

Kỹ thuật Quân sự - Tổ hợp Pháo phản lực 9K51 Grad nâng cấp, được thiết kế để tiêu diệt binh lực địch (cả trong lẫn ngoài công sự); các mục tiêu như: Xe tăng và các phương tiện bọc giáp nhẹ trú trong các bãi tập kết, các khẩu đội pháo, cối, máy bay và trực thăng trú đậu trên bãi đáp; trạm chỉ huy và các mục tiêu khác... cũng như, có thể dùng để rải mìn.

Cấu hình:

• Xe mang phóng BM-21-1 với hệ thống ngắm bắn cùng với thiết bị chuẩn bị bắn đồng bộ.
• Xe chở đạn 9T254 với các giá chứa đạn 9F37M chuẩn hoá
• Các loại đạn pháo phản lực đa dụng tăng cường tầm phóng và uy lực

Gói hiện đại hóa:
• Tăng tầm bắn lên tới 40 km
• Có khả năng diệt được các mục tiêu bọc giáp nhẹ và xe tăng
• Bắn từ các trận địa chưa được chuẩn bị trước
• Điều khiển nâng hạ, căn chỉnh dàn ống phóng bằng điện ngay từ trong cabin
• Tự định hướng, định vị tọa độ xe mang phóng cả khi di chuyển lẫn khi dừng đỗ
• Biểu tượng hóa vị trí chiến đấu của dàn phóng, hướng di chuyển và dừng đỗ của xe mang trên bản đồ điện tử
• Giảm thời gian chuẩn bị phóng từ khi được phân công mục tiêu tới khi khai hỏa
• Tăng khả năng chống phản pháo nhờ rút ngắn thời gian hiện diện của xe mang phóng tại trận địa.

Thông số kỹ thuật cơ bản:
Cỡ đạn phản lực (mm): 122
Tầm bắn (km):
- Tối đa: tới 40
- Tối thiểu: 5
Thời gian bắn hết loạt (giây): 20
Số ống phóng: 40
Trọng lượng (kg):
- Đạn cơ bản: 66.6
- Xe mang phóng đã nạp đạn: 13.700
- Xe chở đạn đủ cơ số: 13.600
Kíp pháo thủ (người): 3
Thời gian nạp đạn (phút): 7
Số đạn phản lực trên giá của xe chở đạn (quả): 60
Giá nâng cấp trọn gói ước tính: US$ 1.200.000

ĐỤC BỎ THƠ HỒ CHÍ MINH

ĐỤC BỎ THƠ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Huệ là kẻ phi thường
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu
Ông đà chí cả mưu cao
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng
Cho nên Tàu dẫu làm hung
Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà
          Cả đoạn thơ viết về Nguyễn Huệ trên đây của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã được khắc vào tấm bia đá đặt ở đền thờ “người anh hùng áo vải” trên núi Dũng Quyết ở thành phố Vinh (Nghệ An). Đền này được khánh thành năm 2008. Đi vào cổng đền, qua bình phong tứ trụ, là hai nhà bia nhìn vào nhau. Nhà bia bên trái khắc “Công trạng vua Quang Trung”. Nhà bia bên phải khắc “Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về Quang Trung”, chính là đoạn thơ này. Đứng trên đỉnh núi lộng gió, đưa mắt nhìn toàn cảnh một vùng sơn thủy hữu tình địa linh nhân kiệt xứ Nghệ, đọc tấm bia khắc những lời người anh hùng dân tộc thế kỷ XX ca ngợi người anh hùng dân tộc thế kỷ XVIII tôi thấy lòng mình cảm khái vô cùng. Hồ Chí Minh không chỉ ca ngợi Nguyễn Huệ. Ông ca ngợi khối đoàn kết toàn dân, khi “vua hiền tôi sáng” biết ở giữa nhân dân, dựa vào sức dân, nhân mạnh lên sức của dân, để giữ nước và xây nước. Ông vua nào, nhà cầm quyền nào, thể chế nào có được, và giữ được, và phát huy được sức mạnh đó, thì sẽ bền vững và xứng đáng với dân tộc, giống nòi. “Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà” – đó là một chân lý truyền đời.
          Những người làm văn hóa ở Nghệ An đã có công khi chọn được đoạn thơ của Hồ Chí Minh viết về Nguyễn Huệ và thuyết phục được các cấp lãnh đạo, quản lý chấp nhận khắc ghi nó lên tấm bia ở đền thờ. Tôi nói “thuyết phục” vì trong một lần về thăm đền tôi nghe phong thanh chừng như là đang có ý kiến cho rằng mấy câu thơ ấy “nhạy cảm”, dẫu là của cụ Hồ nhưng trong hoàn cảnh “tế nhị” hiện nay của quan hệ Việt-Trung thì khắc nó lên bia, bày nó ra giữa thanh thiên bạch nhật là không lợi. Ôi, chỉ mới nghe phong thanh thế thôi tôi đã bực mình, tức giận. Sao lại có thể hèn nhát đến vậy! Tôi nghĩ, đó chỉ là một vài ý kiến của ai đó, sẽ không được chấp nhận. Tôi tin, tấm bia khắc những câu thơ viết về Nguyễn Huệ của Hồ Chí Minh sẽ đứng mãi ở đền thờ Quang Trung, trên núi Dũng Quyết, giữa đất trời Nghệ An, đất trời Việt Nam, để tỏa sáng một chân lý của người Việt Nam, nước Việt Nam.
          Hỡi ôi, lời phong thanh đã thành sự thực, niềm tin của tôi đã bị dập tắt phũ phàng. Khi viết bài này tôi đã gọi điện về Vinh nhờ một tiến sĩ văn học lên tận đỉnh núi Dũng Quyết, vào tận đền thờ Quang Trung, xem tận mắt tấm bia khắc lời Hồ Chí Minh viết về Quang Trung có còn nguyên đó không. Điện báo ra là đã thay, đã thay rồi chú ơi! Cháu gửi ảnh ra ngay cho chú đây.
IMG_7893
          Tấm bia bên trái khắc “Công trạng vua Quang Trung”  (chụp tháng 7-2010)
 3
          Nay đã bị đục bỏ, thay bằng bài “Tưởng niệm Hoàng đế Quang Trung” của Vũ Khiêu
1
          Còn tấm bia bên phải khắc ghi bài thơ yêu nước của Hồ Chí Minh ca ngợi Quang Trung  (chụp tháng 7-2010)
4
          Nay đã bị đục bỏ để thay bằng một đoạn trích chiếu của Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ gửi La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp chọn đất đóng đô
          Và nhìn những tấm ảnh chụp mới tức thì, tôi không tin vào mắt mình nữa. Tấm bia bên trái khắc “Công trạng vua Quang Trung” đã thay bằng bài “Tưởng niệm Hoàng đế Quang Trung” của Vũ Khiêu. Còn ở tấm bia bên phải, những lời của Hồ Chí Minh đã bị đục bỏ, thay bằng đoạn trích chiếu của Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ gửi La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp chọn đất đóng đô. Tôi đã điện hỏi kỹ người chụp đây có phải là thay bia mới vào bia cũ, hay là chỉ đục bỏ văn bia, thay bài mới. Anh cho biết đã hỏi người trông coi đền thờ thì họ nói là chỉ đục bỏ chữ, thay văn bia, chứ không thay bia.
          Vậy là đã rõ.
          Lý do việc đục bỏ văn bia lời Hồ Chí Minh là sợ Tàu! (Hãy gọi là Tàu như trong đoạn thơ của ông Nguyễn). Đau xót, nhục nhã biết bao! Chẳng lẽ trên khắp nước Nam cái gì nói đến lịch sử oai hùng của Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc từ xưa đến nay đều là phải né tránh, cấm đoán?
          Nhưng chính quyền tỉnh Nghệ An phải có trách nhiệm trả lời cho đồng bào cả nước biết rõ ràng, công khai, vì sao có sự đục bỏ văn bia ghi lời Hồ Chí Minh viết về Quang Trung tại đền thờ Quang Trung trên núi Dũng Quyết? Ai đưa ra chủ trương này? Một việc hệ trọng, thiêng liêng như vậy đã được quyết định ở cấp nào, theo nghị quyết nào của tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh, hay của Bộ VH-TT-DL, hay của một cấp cao hơn nữa?
          Bởi vì tôi được biết, để chọn được đoạn thơ của Hồ Chí Minh và quyết định khắc vào bia dựng ở đền thờ Quang Trung là phải có cả một quá trình từ người chuyên môn đến nhà chính trị lựa chọn, cân nhắc và quyết định. Khắc bia rồi đục bia, xưa hay nay, đều là chuyện nghiêm trọng.
          Nếu hôm nay người ta không dám ca ngợi anh hùng dân tộc của mình trên đất nước mình, thì ngày mai người ta sẽ thóa mạ ai?
          Nếu hôm nay người ta đục bỏ lời của Hồ Chí Minh, thì ngày mai người ta giữ lại cái gì?
          Đục bỏ những lời Hồ Chí Minh viết về Nguyễn Huệ tại đền thờ Quang Trung vì lý do sợ ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao nước láng giềng là xúc phạm cả Nguyễn Huệ, cả Hồ Chí Minh, cả toàn thể nhân dân Việt Nam. Hơn lúc nào hết, trong những ngày này, những lời ca ngợi sức mạnh đoàn kết toàn dân để giữ vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ dân tộc trong những lời thơ Hồ Chí Minh viết về Nguyễn Huệ đang rất cần được vang lên mạnh mẽ và thống thiết:
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng
Cho nên Tàu dẫu làm hung
Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà
Hà Nội 23.7.2011
PHẠM XUÂN NGUYÊN

"TRUNG CẤP CHÍNH TRỊ"

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chúc mừng tân CTQH Nguyễn Sinh Hùng
Nguyễn Thế Thịnh - Hôm qua, Quốc hội (QH) đã bầu bác Nguyễn Sinh Hùng làm Chủ tịch. Chuyện đó thì ai cũng đã biết trước (giới thiệu 1 người, bầu 1 người và bác nhận được với hơn 91% phiếu bầu), nhưng đọc tiểu sử do QH cung cấp thì ai cũng bất ngờ, vì "Trình độ Chính trị" của bác Hùng mới ghi... "Trung cấp" (ở đây). Bác làm Cục trưởng, Bộ trưởng rồi lên Phó Thủ tướng Thường trực đã lâu, nhưng chưa đi học "Cao cấp" hoặc "Cử nhân Chính trị", thấy cũng hơi lạ.

Trình độ "Trung cấp Chính trị" của bác, không biết do phiên sang tương đương, hay là bác đi học "Trung cấp Chính trị" vì trong tiểu sử không ghi.

Nhưng mà phiên sang, thì bác học kinh tế, làm Tiến sĩ ngành này thì phiên sang không thể tương đương. Theo quy định, thì chỉ những người học các môn Khoa học xã hội mới được phiên sang tương đương "Trung cấp Chính trị". Còn đi học, thì bác phải học ở các Trường Đảng của Tỉnh, Thành phố.

Cũng theo nguyên tắc, thì sau khi bổ nhiệm xong, bác í phải đi học "Cao cấp Chính trị", việc vàn bận rộn thế, khổ cho bác quá. Nhưng chuyện này là một tiền lệ hay: Sau này, những người được bổ nhiệm, bầu bán không phải quá câu nệ vào "Trình độ Chính trị". Cứ lên cái đã, chưa có chi thì đi học bổ sung cho đủ cái đó. Lo chi!..

2. Hôm qua, may mắn được nhìn thấy mô hình của một chiếc máy bay SU30 cực hiện đại mang 11 quả tên lửa dưới cánh, không tiện nói ra thông tin này, nhưng ta đã có “đồ chơi”. Đ. sợ thằng nào, ưa chơi thì chơi!
Nga giao máy bay SU30MK2 cho Không quân Việt Nam

3. Hôm qua, ông Nguyễn Cao Kỳ, nguyên Tư lệnh Không quân, nguyên Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa qua đời ở tuổi 81. Ông Kỳ quê ở Sơn Tây. Biết thêm một chuyện vui: Sơn Tây có đến…5 Tư lệnh Không quân. Ngoài ông Kỳ làm cho chế độ cũ, 4 Tư lệnh khác của Không quân Việt Nam đều là người Sơn Tây.

Con cái yêu cha thì không có gì để bàn, nhưng không thích cách đưa tin của các báo Việt Nam khi tô đậm dòng trích dẫn câu nói của Nguyễn Cao Kỳ Duyên rằng, cô rất tự hào về cha mình. Lạt dạ...

NỐI VÒNG TAY LỚN