25 tháng 7, 2011

TƯỞNG NHỚ 64 LIỆT SĨ ĐÃ HY SINH TRONG KHI BẢO VỆ TRƯỜNG SA (NGÀY 14/3/1988)

Thiếu úy Trần Văn Phương và đồng đội giữ cờ Tổ quốc, đánh trả quân Trung Quốc trên đảo Gạc Ma, 14/3/1988
Mai Thanh Hải Blog - Trải qua 3 cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ và chống quân Trung Quốc xâm lược trên biên giới phía Bắc cùng bè lũ phản động Pôn Pốt Iêng-Xary tại biên giới Tây Nam, hàng triệu người con đất Việt đã ngã xuống để giữ gìn đất nước, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ. Trong số này, còn hàng vạn người chưa tìm thấy hài cốt và thân xác các anh - các chị vẫn đang nằm lẫn giữa lá rừng, đất núi, đầm lầy, lòng biển sâu... 
Lễ truy điệu các Liệt sĩ hy sinh trong trận 14/3/1988

Một sự kiện xảy ra gần đây mà không phải ai cũng biết: Sáng ngày 14/3/1988, tại vùng biển Cô Lin - Gạc Ma, thuộc quần đảo Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam), lính đặc nhiệm Hải quân Trung Quốc đã ào ạt đổ bộ lên đảo Gạc Ma, giật cờ Tổ quốc và tấn công tốp chiến sĩ bảo vệ đảo thuộc Lữ đoàn 146 (Vùng 4, Hải quân Việt Nam) khiến toàn bộ đơn vị hy sinh - bị thương. Ngay sau đó, súng - pháo hạng nặng từ các tàu chiến đấu Trung Quốc đã trút đạn vào 3 tàu vận tải của Hải quân Việt Nam đang chở nguyên vật liệu xây dựng, củng cố đảo khiến cả 3 tàu bị chìm, bốc cháy ngay tại chỗ. Dã man hơn, súng - pháo của tàu chiến đấu Trung Quốc còn bắn thẳng vào đội hình công binh Hải quân của Trung đoàn 83, đang quần đùi áo may ô, tay không tấc sắt, vận chuyển gạch đá, xi măng, cát sỏi từ tàu lên đảo, không có khả năng kháng cự - tự vệ... khiến đại đa số cán bộ chiến sĩ trên đảo Gạc Ma trúng đạn, hy sinh ngay tại chỗ và thi thể chìm xuống lòng biển sâu hoặc vẫn mắc kẹt trong khoang tàu vận tải.
Pháo 37mm Trung Quốc bắn CBCS công binh Hải quân trên đảo Gạc Ma

Một số chiến sĩ bị thương, cố bơi thoát ra khỏi khu vực mù mịt đạn pháo, lính Trung Quốc trên tàu dùng súng tiểu liên AK bắn thẳng hoặc dùng câu liêm - gậy, bổ vào đầu, làm chìm mất xác... Đặc biệt, sau khi xảy ra sự việc, tàu chiến đấu Trung Quốc còn ngăn chặn không cho các tàu cứu hộ, tàu mang cờ Chữ Thập đỏ đến khu vực Cô Lin - Gạc Ma để tìm kiếm, cứu nạn thương binh và vớt thi thể tử sĩ.

Kết cục, ngày 14/3/1988, Trung Quốc đã chiếm đảo Gạc Ma, bắn cháy - chìm 3 tàu vận tải của Hải quân Việt Nam (HQ-505, HQ-604, HQ-605) và giết chết, bắt làm tù binh 74 cán bộ - chiến sĩ thuộc các đơn vị của Quân chủng Hải quân đang làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền Tổ quốc trên các đảo Cô Lin - Gạc Ma - Len Đao. Đó là các cán bộ - chiến sĩ thuộc các đơn vị: Lữ đoàn 146, Lữ đoàn Vận tải 125, Trung đoàn Công binh 83, Phân đội Hải đồ thuộc Bộ Tham mưu Quân chủng, Trường Sĩ quan Hải quân...
Chiến sĩ Hải đồ Trương Văn Hiền bị lính Trung Quốc bắt làm tù binh 14/3/88

Xin được nói thêm: Tháng 8/2008, trong khi hành nghề lặn biển tại khu vực Cô Lin - Gạc Ma, một số ngư dân Việt Nam đã phát hiện xác tàu HQ-604 bị chìm sâu dưới đáy biển và vớt lên được 4 hài cốt Liệt sĩ mắc kẹt trong tàu, chuyển giao cho Bộ Quốc phòng (khi mới vớt lên, 4 bộ hài cốt được quàn tạm trên đảo chìm Cô Lin). Ngay sau đó, phía ta đã triển khai việc tiếp tục tìm kiếm hài cốt Liệt sĩ hy sinh trên vùng biển Cô Lin - Gạc Ma, nhưng tàu quân sự Trung Quốc dùng mọi cách ngăn cản, ngăn chặn...

Nhân kỷ niệm 64 năm ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2011), Mai Thanh Hải Blog lật lại một phần tư liệu về Chiến dịch CQ-88 của Hải quân nhân dân Việt Nam và sự kiện ngày 14/3/1988. Xin được xem như nén hương, tưởng nhớ linh hồn 64 cán bộ chiến sỹ Hải quân Việt Nam đã ngã xuống trên vùng biển Cô Lin - Gạc Ma, bởi pháo hạm, đạn nhọn, lưỡi lê của lính Trung Quốc và đến bây giờ, thi thể của các anh vẫn nằm im lặng dưới lòng biển sâu Trường Sa.
-------------------------------------------------
Quần đảo Trường Sa nằm ở tọa độ 8°38′ Bắc 111°55′ Đông, với diện tích (đất liền) nhỏ hơn 5 km², gồm khoảng 148 đảo nhỏ, đảo san hô và đảo chìm rải rác trên diện tích gần 410.000 km² ở giữa biển Đông. Quần đảo hiện đang trực thuộc đơn vị hành chính của huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hoà.
Đảo Trường Sa Lớn (5/2011)

Quần đảo Trường Sa có các nguồn lợi thiên nhiên gồm: Cá, phân chim, tiềm năng dầu mỏ và khí đốt còn chưa được xác định. Do nằm gần khu vực lòng chảo trầm tích chứa nhiều dầu mỏ và khí đốt, quần đảo Trường Sa có tiềm năng lớn về dầu khí. Hiện địa chất vùng biển này vẫn chưa được khảo sát nhiều và chưa có các số liệu đánh giá đáng tin cậy về tiềm năng dầu khí và khoáng sản khác. Trường Sa có vị trí chiến lược nằm gần tuyến đường vận chuyển tàu biển chính trên biển Đông.    
-----------------------------

Trước ngày 30/4/1975, Hải quân Việt Nam Cộng hoà đóng giữ các đảo Nam Yết, Sơn Ca, Song Tử Tây, Sinh Tồn và Trường Sa của quần đảo Trường Sa.

Từ ngày 14/4/1975 đến 29/4/1975, Đội 1 thuộc Đoàn 126 - Đặc công nước Hải quân, phối hợp với Đoàn 125 và một bộ phận của Tiểu đoàn 471, Đặc công Quân khu 5 lần lượt giải phóng và tiếp quản các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn và Trường Sa.
Liệt sĩ Tống Văn Quang hy sinh 14/4/1975 khi giải phóng đảo Song Tử Tây

Tháng 4/1976, Quân chủng Hải quân tổ chức diễn tập đổ bộ, chống đổ bộ trên các đảo Trường Sa.

Tháng 2/1978, Philippines đưa quân chiếm đóng đảo Ponata, đồng thời tăng cường trinh sát quanh các đảo ta đã đóng quân.

Ngày 10/3/1978, quân ta đổ bộ lên đảo An Bang.

Ngày 15/3/1978, ta đóng giữ đảo Sinh Tồn Đông.

Ngày 30/3/1978, ta đóng giữ đảo Hòn Sập (Phan Vinh).

Ngày 4/4/1978, quân ta hoàn thành việc đóng giữ đảo Trường Sa Đông.
Đảo Phan Vinh, 1988 (ảnh: Thiềm Thừ Blog)

tháng 4/1978, 1 phân đội được đưa ra đóng giữ đảo Thuyền Chài, nhưng do điều kiện vật chất chưa bảo đảm nên tháng 5/1978, phân đội được rút về đất liền.

Ngày 8/5/1978, Trung đoàn 146 phòng thủ Trường Sa được thành lập. Năm 1980, đơn vị được nâng cấp thành Lữ đoàn 146 thuộc vùng 4 Hải quân, đóng tại Cam Ranh

Tháng 11/1978, Hải quân Malaysia vây đảo An Bang, nhưng tàu của họ phải rút đi sau 11 ngày gây áp lực với quân ta, nhưng không có kết quả.

Ngày 6/4/1983, ông Hồ Ngọc Nhường, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Khánh (cũ) dẫn đầu đoàn công tác của tỉnh ra thăm và đặt mốc chủ quyền Việt Nam trên đảo Thuyền Chài.

Từ tháng 1/1987 đến giữa năm 1987, việc xây dựng nhà lâu bền trên đảo Thuyền Chài được lực lượng công binh Hải quân và tàu vận tải hoàn thành.
Đèn pha của tàu HQ-931 dùng để khảo sát ban đêm ở Ba Kè, Huyền Trân 1988
Cuối năm 1987, tình hình hoạt động của nước ngoài ở khu vực quần đảo ngày một phức tạp hơn, nhất là quanh các đảo Sinh Tồn, An Bang, Đá Tây, Song Tử Tây, Trường Sa Đông… Đặc biệt, Trung Quốc đã tổ chức tập trận ở khu vực Trường Sa từ 16/5 đến 6/6/1987.

Ngày 24/10/1987, Tư lệnh Hải quân nhân dân Việt Nam ra lệnh cho các đảo Trường Sa chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu.

Ngày 25/10, quân ta đóng giữ thêm 4 đảo (Tiên Nữ, Đá Lớn, Đá Tây, Chữ Thập). Cuối năm có sóng to gió lớn, tuy gặp nhiều khó khăn nhưng các đơn vị đã hoàn thành suất sắc nhiệm vụ.

Trong những tháng đầu năm 1988, Trung Quốc cho quân chiếm đóng Đá Chữ Thập (31/1), tiếp đó đến các bãi đá Châu Viên (18/2), Ga Ven (26/2), Huy Gơ (28/2), Xu Bi (23/3) thuộc quần đảo Trường Sa.
Đô đốc Giáp Văn Cương đọc lời thề quyết tử bảo vệ Trường Sa (5/1988)

Đô đốc Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương kiêm luôn Tư lệnh Vùng 4 Hải quân, vào căn cứ Cam Ranh lập Sở Chỉ huy để trực tiếp chỉ huy chiến dịch Chủ Quyền 88 (CQ-88).

Hải quân nhân dân Việt Nam khẩn trương đóng giữ các bãi Đá Tiên Nữ (26/1), Đá Lát (5/2), Đá Lớn (6/2), Đá Đông (18/2), Tốc Tan (27/2), Núi Le (2/3). Chúng ta đã bước đầu ngăn chặn được hành động mở rộng phạm vi chiếm đóng của Hải quân Trung Quốc.

Ngày 14/2/1988, tại vùng biển Trường Sa xuất hiện 3 tàu chiến của Trung Quốc lăm le định lên chiếm đảo chìm Đá Lớn. Đúng 1h30 ngày 15/2, tàu HQ-701 do biên đội trưởng Nguyễn Văn Tân và thuyền trưởng Hà Văn Thái chỉ huy (đang làm nhiệm vụ đưa hàng Tết ra đảo Nam Yết thì được lệnh neo cạnh Đá Lớn từ 6/2) đã được lệnh lao lên đảo. Chiếc tàu bị hỏng và trở thành chiếc lô cốt, bia chủ quyền trên đảo Đá Lớn.

Đầu tháng 3/1988, Trung Quốc huy động lực lượng của 2 hạm đội xuống khu vực Trường Sa, gồm: 1 tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo, 2 tàu đổ bộ, 3 tàu vận tải hỗ trợ LSM, tàu đo đạc, tàu kéo và 1 pông tông lớn.

Dự đoán đối phương sẽ chiếm các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao, Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ đạo các tàu của Lữ đoàn vận tải 125 mang theo một số phân đội của Trung đoàn Công binh 83 và Lữ đoàn 146 nhanh chóng đến các đảo này.

Ngày 12/3/1988, tàu HQ-605 được lệnh từ đảo Đá Đông đến đóng giữ đảo Len Đao trước 6 giờ sáng ngày 14/3. Sau 29 tiếng hành quân, tàu đến Len Đao lúc 5 giờ ngày 14/3, cắm cờ Việt Nam trên đảo.
Công binh Hải quân tập kết đá xây nhà trên đảo Len Đao, tháng 5/1989

9h ngày 13/3, tàu HQ-604 và tàu HQ-505 được lệnh từ đảo Đá Lớn tiến về phía Gạc Ma, Cô Lin. 17 giờ ngày 13/3, tàu Trung Quốc áp sát uy hiếp các tàu HQ -604, 505 của ta

Đêm 13/3, quân ta bí mật đổ bộ, cắm cờ Việt Nam trên đảo Gạc Ma.

Sáng 14/3/1988, từ tàu HQ-604 đang thả neo tại Gạc Ma, Trung tá Trần Đức Thông, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146 (Vùng 4 Hải quân) phát hiện 4 tàu lớn của Trung Quốc đang tiến lại gần. Một tổ 3 người được cử lên đảo Gạc Ma bảo vệ Quốc kỳ.
Lính Trung Quốc lên xuồng đổ bộ tấn công Gạc Ma

Hải quân Trung Quốc thả 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo. Lực lượng áp đảo nhưng không cướp được cờ trong tay những người lính Việt kiên cường, chúng đã bắn chết Thiếu úy Trần Văn Phương và chiến sĩ Nguyễn Văn Tư, đâm trọng thương Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh.

Nhưng đã có thêm hàng chục chiến sĩ ta từ tàu HQ-604 lao xuống biển bơi vào đảo theo lời kêu gọi của Trung tá Trần Đức Thông, tiếp tục xây lưng với nhau quây thành 1 vòng tròn để bảo vệ lá cờ thấm máu đồng đội.

Lính Trung Quốc bắn pháo 100 mm từ 2 chiến hạm vào tàu HQ-604, khiến tàu bị thủng nhiều lỗ và chìm xuống biển. Lữ đoàn phó Trần Đức Thông, Đại uý thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và nhiều sĩ quan, chiến sĩ đã hy sinh cùng tàu HQ-604.
Tàu HQ-604 bị bắn cháy và chìm ngay tại chỗ

Tại đảo Cô Lin, tàu HQ-505 đã cắm 2 lá cờ trên đảo lúc 5h. Khi thấy tàu HQ-604 bị bắn chìm, thuyền trưởng tàu HQ-505 Vũ Huy Lễ ra lệnh nhổ neo, tăng tốc cho tàu ủi bãi trong làn pháo địch. Con tàu này đã kịp trườn được hai phần ba thân lên đảo trước khi bị tàu địch bắn cháy. Thủy thủ tàu HQ-505 vừa dập lửa cứu tàu, triển khai bảo vệ đảo, vừa đưa xuồng đến cứu thủy thủ tàu HQ-604 bị chìm ở phía bãi Gạc Ma.

Ở hướng đảo Len Đao, lúc 8 giờ20 ngày 14/3, tàu Trung Quốc bắn vào tàu HQ-605. Tàu 605 bị bốc cháy và chìm lúc 6 giờ ngày 15/3, thủy thủ đoàn của tàu bơi về đảo Sinh Tồn an toàn.
Hỏa lực địch tấn công Công binh Hải quân E83 trên đảo Gạc Ma

Mặc dù thua kém đối phương về lực lượng, phương tiện, vũ khí, trong trận chiến đấu ngày 14/3/1988, những người lính Hải quân nhân dân Việt Nam đã chiến đấu quên mình để bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Chúng ta mất 3 tàu, 64 sĩ quan và chiến sĩ hy sinh hoặc mất tích, 11 người bị thương, nhưng đã bảo vệ được chủ quyền tại các đảo Cô Lin và Len Đao.

Trung Quốc chỉ chiếm được đảo Gạc Ma.

Các liệt sĩ Trần Đức Thông, Vũ Phi Trừ, Trần Văn Phương được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tàu HQ-505, thuyền trưởng Vũ Huy Lễ và Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh được tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.
Di ảnh Liệt sĩ Trần Văn Phương

Di ảnh Trung tá - Liệt sĩ Trần Đức Thông
Thẻ Đảng viên của Anh hùng - Liệt sĩ Trần Đức Thông
Lá cờ Tổ quốc, Liệt sĩ Trần Văn Phương và đồng đội đã bảo vệ trên đảo Gạc Ma
Máy bơm nước của tàu HQ-931 dùng để dập lửa cứu tàu HQ-505 bị cháy ngày 14/3/1988
Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Việt Nam về vụ Trung Quốc gây hấn 14/3/1988 đăng trên Báo Nhân dân (15/3/1988)
CBCS tàu HQ-671 tình nguyện cứu hộ đồng đội trong trận 14/3/1988
Tàu HQ-931 chở Thương binh - Liệt sĩ trong trận 14/3/1988 về Quân cảng Cam Ranh
CBCS tàu HQ-505 tham gia trận 14/3/1988 (chụp tháng 5/1988)
Hoạt động tích cực của Vùng 4 Hải quân trong Chiến dịch CQ-88
Trong năm 1988, quân ta đóng giữ thêm 11 bãi đá ngầm khác, nâng tổng số đảo đóng giữ tại quần đảo Trường Sa lên 21 đảo với 33 điểm đóng quân.

Từ tháng 6-1989, để tăng cường bảo vệ chủ quyền tại thềm lục địa tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tiếp giáp quần đảo Trường Sa, Hải quân nhân dân Việt Nam bắt đầu đóng giữ các bãi đá ngầm: Tư Chính, Phúc Nguyên, Phúc Tần, Huyền Trân, Quế Đừơng, Ba Kè. Tại đây chúng ta đã xây dựng nhiều trạm Kinh tế - khoa học – dịch vụ (DK1).

Hình tư liệu: Cục Chính trị, Vùng 4 Hải quân; Lữ đoàn 146; Thiềm Thừ Blog, Trung tâm Dữ liệu Hoàng Sa... và một số trang mạng xã hội khác

(Còn tiếp)

24 tháng 7, 2011

TỔ HỢP PHÁO PHẢN LỰC BẮN LOẠT BM-21 NÂNG CẤP (9K51 GRAD), TRỊ GIÁ 1,2 TRIỆU USD

Kỹ thuật Quân sự - Tổ hợp Pháo phản lực 9K51 Grad nâng cấp, được thiết kế để tiêu diệt binh lực địch (cả trong lẫn ngoài công sự); các mục tiêu như: Xe tăng và các phương tiện bọc giáp nhẹ trú trong các bãi tập kết, các khẩu đội pháo, cối, máy bay và trực thăng trú đậu trên bãi đáp; trạm chỉ huy và các mục tiêu khác... cũng như, có thể dùng để rải mìn.

Cấu hình:

• Xe mang phóng BM-21-1 với hệ thống ngắm bắn cùng với thiết bị chuẩn bị bắn đồng bộ.
• Xe chở đạn 9T254 với các giá chứa đạn 9F37M chuẩn hoá
• Các loại đạn pháo phản lực đa dụng tăng cường tầm phóng và uy lực

Gói hiện đại hóa:
• Tăng tầm bắn lên tới 40 km
• Có khả năng diệt được các mục tiêu bọc giáp nhẹ và xe tăng
• Bắn từ các trận địa chưa được chuẩn bị trước
• Điều khiển nâng hạ, căn chỉnh dàn ống phóng bằng điện ngay từ trong cabin
• Tự định hướng, định vị tọa độ xe mang phóng cả khi di chuyển lẫn khi dừng đỗ
• Biểu tượng hóa vị trí chiến đấu của dàn phóng, hướng di chuyển và dừng đỗ của xe mang trên bản đồ điện tử
• Giảm thời gian chuẩn bị phóng từ khi được phân công mục tiêu tới khi khai hỏa
• Tăng khả năng chống phản pháo nhờ rút ngắn thời gian hiện diện của xe mang phóng tại trận địa.

Thông số kỹ thuật cơ bản:
Cỡ đạn phản lực (mm): 122
Tầm bắn (km):
- Tối đa: tới 40
- Tối thiểu: 5
Thời gian bắn hết loạt (giây): 20
Số ống phóng: 40
Trọng lượng (kg):
- Đạn cơ bản: 66.6
- Xe mang phóng đã nạp đạn: 13.700
- Xe chở đạn đủ cơ số: 13.600
Kíp pháo thủ (người): 3
Thời gian nạp đạn (phút): 7
Số đạn phản lực trên giá của xe chở đạn (quả): 60
Giá nâng cấp trọn gói ước tính: US$ 1.200.000

ĐỤC BỎ THƠ HỒ CHÍ MINH

ĐỤC BỎ THƠ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Huệ là kẻ phi thường
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu
Ông đà chí cả mưu cao
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng
Cho nên Tàu dẫu làm hung
Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà
          Cả đoạn thơ viết về Nguyễn Huệ trên đây của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã được khắc vào tấm bia đá đặt ở đền thờ “người anh hùng áo vải” trên núi Dũng Quyết ở thành phố Vinh (Nghệ An). Đền này được khánh thành năm 2008. Đi vào cổng đền, qua bình phong tứ trụ, là hai nhà bia nhìn vào nhau. Nhà bia bên trái khắc “Công trạng vua Quang Trung”. Nhà bia bên phải khắc “Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về Quang Trung”, chính là đoạn thơ này. Đứng trên đỉnh núi lộng gió, đưa mắt nhìn toàn cảnh một vùng sơn thủy hữu tình địa linh nhân kiệt xứ Nghệ, đọc tấm bia khắc những lời người anh hùng dân tộc thế kỷ XX ca ngợi người anh hùng dân tộc thế kỷ XVIII tôi thấy lòng mình cảm khái vô cùng. Hồ Chí Minh không chỉ ca ngợi Nguyễn Huệ. Ông ca ngợi khối đoàn kết toàn dân, khi “vua hiền tôi sáng” biết ở giữa nhân dân, dựa vào sức dân, nhân mạnh lên sức của dân, để giữ nước và xây nước. Ông vua nào, nhà cầm quyền nào, thể chế nào có được, và giữ được, và phát huy được sức mạnh đó, thì sẽ bền vững và xứng đáng với dân tộc, giống nòi. “Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà” – đó là một chân lý truyền đời.
          Những người làm văn hóa ở Nghệ An đã có công khi chọn được đoạn thơ của Hồ Chí Minh viết về Nguyễn Huệ và thuyết phục được các cấp lãnh đạo, quản lý chấp nhận khắc ghi nó lên tấm bia ở đền thờ. Tôi nói “thuyết phục” vì trong một lần về thăm đền tôi nghe phong thanh chừng như là đang có ý kiến cho rằng mấy câu thơ ấy “nhạy cảm”, dẫu là của cụ Hồ nhưng trong hoàn cảnh “tế nhị” hiện nay của quan hệ Việt-Trung thì khắc nó lên bia, bày nó ra giữa thanh thiên bạch nhật là không lợi. Ôi, chỉ mới nghe phong thanh thế thôi tôi đã bực mình, tức giận. Sao lại có thể hèn nhát đến vậy! Tôi nghĩ, đó chỉ là một vài ý kiến của ai đó, sẽ không được chấp nhận. Tôi tin, tấm bia khắc những câu thơ viết về Nguyễn Huệ của Hồ Chí Minh sẽ đứng mãi ở đền thờ Quang Trung, trên núi Dũng Quyết, giữa đất trời Nghệ An, đất trời Việt Nam, để tỏa sáng một chân lý của người Việt Nam, nước Việt Nam.
          Hỡi ôi, lời phong thanh đã thành sự thực, niềm tin của tôi đã bị dập tắt phũ phàng. Khi viết bài này tôi đã gọi điện về Vinh nhờ một tiến sĩ văn học lên tận đỉnh núi Dũng Quyết, vào tận đền thờ Quang Trung, xem tận mắt tấm bia khắc lời Hồ Chí Minh viết về Quang Trung có còn nguyên đó không. Điện báo ra là đã thay, đã thay rồi chú ơi! Cháu gửi ảnh ra ngay cho chú đây.
IMG_7893
          Tấm bia bên trái khắc “Công trạng vua Quang Trung”  (chụp tháng 7-2010)
 3
          Nay đã bị đục bỏ, thay bằng bài “Tưởng niệm Hoàng đế Quang Trung” của Vũ Khiêu
1
          Còn tấm bia bên phải khắc ghi bài thơ yêu nước của Hồ Chí Minh ca ngợi Quang Trung  (chụp tháng 7-2010)
4
          Nay đã bị đục bỏ để thay bằng một đoạn trích chiếu của Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ gửi La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp chọn đất đóng đô
          Và nhìn những tấm ảnh chụp mới tức thì, tôi không tin vào mắt mình nữa. Tấm bia bên trái khắc “Công trạng vua Quang Trung” đã thay bằng bài “Tưởng niệm Hoàng đế Quang Trung” của Vũ Khiêu. Còn ở tấm bia bên phải, những lời của Hồ Chí Minh đã bị đục bỏ, thay bằng đoạn trích chiếu của Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ gửi La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp chọn đất đóng đô. Tôi đã điện hỏi kỹ người chụp đây có phải là thay bia mới vào bia cũ, hay là chỉ đục bỏ văn bia, thay bài mới. Anh cho biết đã hỏi người trông coi đền thờ thì họ nói là chỉ đục bỏ chữ, thay văn bia, chứ không thay bia.
          Vậy là đã rõ.
          Lý do việc đục bỏ văn bia lời Hồ Chí Minh là sợ Tàu! (Hãy gọi là Tàu như trong đoạn thơ của ông Nguyễn). Đau xót, nhục nhã biết bao! Chẳng lẽ trên khắp nước Nam cái gì nói đến lịch sử oai hùng của Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc từ xưa đến nay đều là phải né tránh, cấm đoán?
          Nhưng chính quyền tỉnh Nghệ An phải có trách nhiệm trả lời cho đồng bào cả nước biết rõ ràng, công khai, vì sao có sự đục bỏ văn bia ghi lời Hồ Chí Minh viết về Quang Trung tại đền thờ Quang Trung trên núi Dũng Quyết? Ai đưa ra chủ trương này? Một việc hệ trọng, thiêng liêng như vậy đã được quyết định ở cấp nào, theo nghị quyết nào của tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh, hay của Bộ VH-TT-DL, hay của một cấp cao hơn nữa?
          Bởi vì tôi được biết, để chọn được đoạn thơ của Hồ Chí Minh và quyết định khắc vào bia dựng ở đền thờ Quang Trung là phải có cả một quá trình từ người chuyên môn đến nhà chính trị lựa chọn, cân nhắc và quyết định. Khắc bia rồi đục bia, xưa hay nay, đều là chuyện nghiêm trọng.
          Nếu hôm nay người ta không dám ca ngợi anh hùng dân tộc của mình trên đất nước mình, thì ngày mai người ta sẽ thóa mạ ai?
          Nếu hôm nay người ta đục bỏ lời của Hồ Chí Minh, thì ngày mai người ta giữ lại cái gì?
          Đục bỏ những lời Hồ Chí Minh viết về Nguyễn Huệ tại đền thờ Quang Trung vì lý do sợ ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao nước láng giềng là xúc phạm cả Nguyễn Huệ, cả Hồ Chí Minh, cả toàn thể nhân dân Việt Nam. Hơn lúc nào hết, trong những ngày này, những lời ca ngợi sức mạnh đoàn kết toàn dân để giữ vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ dân tộc trong những lời thơ Hồ Chí Minh viết về Nguyễn Huệ đang rất cần được vang lên mạnh mẽ và thống thiết:
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng
Cho nên Tàu dẫu làm hung
Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà
Hà Nội 23.7.2011
PHẠM XUÂN NGUYÊN

"TRUNG CẤP CHÍNH TRỊ"

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chúc mừng tân CTQH Nguyễn Sinh Hùng
Nguyễn Thế Thịnh - Hôm qua, Quốc hội (QH) đã bầu bác Nguyễn Sinh Hùng làm Chủ tịch. Chuyện đó thì ai cũng đã biết trước (giới thiệu 1 người, bầu 1 người và bác nhận được với hơn 91% phiếu bầu), nhưng đọc tiểu sử do QH cung cấp thì ai cũng bất ngờ, vì "Trình độ Chính trị" của bác Hùng mới ghi... "Trung cấp" (ở đây). Bác làm Cục trưởng, Bộ trưởng rồi lên Phó Thủ tướng Thường trực đã lâu, nhưng chưa đi học "Cao cấp" hoặc "Cử nhân Chính trị", thấy cũng hơi lạ.

Trình độ "Trung cấp Chính trị" của bác, không biết do phiên sang tương đương, hay là bác đi học "Trung cấp Chính trị" vì trong tiểu sử không ghi.

Nhưng mà phiên sang, thì bác học kinh tế, làm Tiến sĩ ngành này thì phiên sang không thể tương đương. Theo quy định, thì chỉ những người học các môn Khoa học xã hội mới được phiên sang tương đương "Trung cấp Chính trị". Còn đi học, thì bác phải học ở các Trường Đảng của Tỉnh, Thành phố.

Cũng theo nguyên tắc, thì sau khi bổ nhiệm xong, bác í phải đi học "Cao cấp Chính trị", việc vàn bận rộn thế, khổ cho bác quá. Nhưng chuyện này là một tiền lệ hay: Sau này, những người được bổ nhiệm, bầu bán không phải quá câu nệ vào "Trình độ Chính trị". Cứ lên cái đã, chưa có chi thì đi học bổ sung cho đủ cái đó. Lo chi!..

2. Hôm qua, may mắn được nhìn thấy mô hình của một chiếc máy bay SU30 cực hiện đại mang 11 quả tên lửa dưới cánh, không tiện nói ra thông tin này, nhưng ta đã có “đồ chơi”. Đ. sợ thằng nào, ưa chơi thì chơi!
Nga giao máy bay SU30MK2 cho Không quân Việt Nam

3. Hôm qua, ông Nguyễn Cao Kỳ, nguyên Tư lệnh Không quân, nguyên Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa qua đời ở tuổi 81. Ông Kỳ quê ở Sơn Tây. Biết thêm một chuyện vui: Sơn Tây có đến…5 Tư lệnh Không quân. Ngoài ông Kỳ làm cho chế độ cũ, 4 Tư lệnh khác của Không quân Việt Nam đều là người Sơn Tây.

Con cái yêu cha thì không có gì để bàn, nhưng không thích cách đưa tin của các báo Việt Nam khi tô đậm dòng trích dẫn câu nói của Nguyễn Cao Kỳ Duyên rằng, cô rất tự hào về cha mình. Lạt dạ...

NỐI VÒNG TAY LỚN

23 tháng 7, 2011

"LỰC LƯỢNG AN NINH ĐÃ BẮT HÀNG NGÀN TÊN, KHÔNG ĐỂ CHÚNG PHÁ HOẠI ĐẤT NƯỚC, NHẤT LÀ DỊP HỌP QUỐC HỘI..."

Mai Thanh Hải Blog - Tít bài mình đặt, chỉ là 1 ý trích trong cả bài viết to uỵch: "Lực lượng An ninh nhân dân: 64 năm chiến đấu và trưởng thành" đăng trên Trang tin Điện tử tỉnh Đồng Nai (năm trước nhá). Đề nghị Lực lượng An ninh, Công an TP. Hà Nội và nhất là Đội An ninh nhân dân, Công an quận Hoàn Kiếm sao lưu lại bài báo để quán triệt - học tập, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ "Phòng ngừa, phát hiện, làm thất bại các âm mưu, hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia; Làm nòng cốt xây dựng thế trận an ninh nhân dân trên các lĩnh vực, tại các địa bàn...", không để 1 vài cá nhân "tha hóa, biến chất" (thậm chí biến thành "sâu") làm ảnh hưởng đến cả lực lượng Anh hùng, trưởng thành suốt 65 năm qua (tính đến thời điểm này).  
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------

LỰC LƯỢNG AN NINH NHÂN DÂN: 64 NĂM CHIẾN ĐẤU VÀ TRƯỞNG THÀNH

An ninh nhân dân (ANNDVN) là một lực lượng vũ trang trọng yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Làm nòng cốt, xung kích trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia. ANNDVN thuộc hệ thống tổ chức của Công an nhân dân Việt Nam, có chức năng: tham mưu cho Đảng và Nhà nước đề ra các chủ trương, chính sách, biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia; quản lí nhà nước về an ninh quốc gia trên phạm vi cả nước; đấu tranh, làm thất bại mọi âm mư­u và hành động xâm phạm an ninh quốc gia, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Đảng, chính quyền, các lực lượng vũ trang và nhân dân.

Ra đời cùng với Lực lượng Cảnh sát nhân dân, ngay sau Cách mạng tháng Tám 1945, với tên gọi Lực lượng Bảo vệ Chính trị (1945 - 1954). ANND gồm nhiều lực lượng nghiệp vụ hợp thành: Tình báo; chống gián điệp; chống phản động; trinh sát ngoại tuyến; kĩ thuật nghiệp vụ; quản lí xuất, nhập cảnh; an ninh kinh tế; an ninh văn hoá - tư tưởng.

Theo Nghị định số 250/CP (ngày 12/6/1981) của Hội đồng Chính phủ "Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Nội vụ" (nay là Bộ Công an), lực lượng ANNDVN chính thức có hệ thống tổ chức thống nhất từ trung ương đến địa phương: Ở Bộ Công an có Tổng cục An ninh Nhân dân và Bộ Tư lệnh Cảnh vệ; ở Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có các Phòng nghiệp vụ An ninh; ở Công an các quận, huyện có Đội An ninh nhân dân.

Năm 1989, lực lượng Tình báo tách khỏi lực lượng An ninh, thành Tổng cục Tình báo thuộc Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an).

Nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức cụ thể của lực lư­ợng ANNDVN được quy định tại Pháp lệnh về Lực lượng ANND năm 1987, Nghị định số 37/1998/NĐ - CP (9/6/1998) và Nghị định số 136/2003/NĐ-CP (14/11/2003) của Chính phủ và Luật Công an nhân dân (29/11/2005).

ANNDVN đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc Kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mĩ và trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Lực lượng ANNDVN đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh (1985), Huân chương Sao vàng (1995) và phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang (2001).

Ngày 12/7/1946, lực lượng ANND khám phá vụ án phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều, Hà Nội) và đã phối hợp với lực lượng vũ trang triệt phá hang ổ của bọn phản cách mạng, bóc gỡ toàn bộ hệ thống phản động “Đại Việt quốc dân đảng” và “Việt Nam quốc dân đảng”, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ. Cũng từ đó, ngày 12/7 trở thành ngày truyền thống của lực lượng ANND.

Trải qua 64 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ ANND đã làm rạng rỡ truyền thống "tận trung với Ðảng, đoàn kết, hiệp đồng, mưu trí sáng tạo và quyết thắng". Không một ngày ngưng nghỉ, cuộc chiến đấu thầm lặng của lực lượng ANND luôn gắn bó mật thiết với các lực lượng vũ trang cách mạng.

Trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, cán bộ, chiến sỹ ANND luôn thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Nhà nước và nhân dân, vượt qua mọi khó khăn, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, lập nhiều chiến công như huyền thoại làm nức lòng nhân dân và khiến kẻ thù khiếp sợ; góp phần cùng lực lượng CAND bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Trong thời kỳ đổi mới, lực lượng ANND đã làm tốt công tác tham mưu cho Đảng uỷ Công an Trung ương và Lãnh đạo Bộ Công an, đề xuất với Đảng, Nhà nước nhiều chủ trương, đường lối đúng đắn, kịp thời trên lĩnh vực đảm bảo an ninh quốc gia; phát hiện, đấu tranh làm thất bại nhiều âm mưu phá hoại, những “chiến dịch”, các cuộc “hành quân”, xâm nhập của các thế lực thù định ở trong và ngoài nước; chủ động phát hiện, triệt phá các âm mưu của bọn phản động người Việt lưu vong; đấu tranh ngăn chặn kịp thời hoạt động của các đối tượng cơ hội chính trị, bất mãn, chống đối; thực hiện cuộc vận động “Xây dựng lực lượng CAND vì nước quên thân, vì dân phục vụ” và cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Lực lượng ANND đã bắt hàng trăm vụ với hàng ngàn tên, thu giữ hàng trăm tấn chất nổ, tài liệu, không để chúng gây nổ, phá hoại... đất nước nhất là trong dịp các ngày lễ lớn của dân tộc, các dịp Đại hội Đảng, họp Quốc hội, các hội nghị quốc tế, các đoàn khách quốc tế đến thăm Việt Nam.

Trên lĩnh vực kinh tế, lực lượng ANND đã phối hợp, phát hiện và đấu tranh với nhiều vụ án tham nhũng, buôn lậu lớn, ngăn chặn các hoạt động phá hoại về kinh tế của các thế lực thù địch, góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Lực lượng ANND vừa tập trung bảo vệ các công trình trọng điểm lớn của nhà nước, vừa nghiên cứu phát hiện kịp thời những vấn đề phức tạp nảy sinh trên lĩnh vực kinh tế, có các phương án bảo vệ tại các lĩnh vực kinh tế quan trọng như: ngân hàng, tài chính, dầu khí, năng lượng, hàng không, bưu điện. Qua đó, nhiều vụ lợi dụng sơ hở trong quản lý kinh tế để tham nhũng như trong đấu thầu quốc tế, “chạy quota”, các loại tội phạm trên lĩnh vực bưu chính viễn thông đã bị phát hiện, xử lý kịp thời.

Với những chiến công đã đạt được, Đảng, Nhà nước đã trao tặng cho lực lượng ANND nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao Vàng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân… Nhiều tập thể, cá nhân được tuyên dương anh hùng.

Trong thời gian tới, tình hình chính trị thế giới, khu vực sẽ tiếp tục có những diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam ngày càng quyết liệt hơn. Trong nước, các vấn đề về kinh tế, xã hội có thể sẽ xuất hiện những phức tạp mới, tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định. Ðó là những thách thức đối với lực lượng CAND nói chung, lực lượng ANND nói riêng; Nhiệm vụ của lực lượng ANND cũng sẽ ngày càng nặng nề hơn; trận tuyến đấu tranh chống phản cách mạng không chỉ vô cùng cam go, phức tạp, mà còn xuất hiện nhiều yếu tố tiềm ẩn, nhạy cảm và khó lường.

Tuy nhiên, với truyền thống vẻ vang được bồi đắp bằng những chiến công đặc biệt xuất sắc, tin tưởng rằng lực lượng ANND hôm nay sẽ tiếp tục làm tốt vai trò, trọng trách của mình, xứng đáng với những gì thế hệ đi trước đã xây dựng, xứng đáng với lòng tin yêu của toàn Đảng, toàn dân.

(Bài viết được đăng tải nhân dịp kỷ niệm 64 năm ngày Truyền thống của Lực lượng ANND 12/7/1946-12/7/2010. Muốn tìm hiểu về thành tích của Lực lượng ANND trong suốt 65 chiến đấu - xây dựng và trưởng thành, xin cập nhật ở đây)

NHỮNG HUYẾT CẦU TỔ QUỐC

Đinh Vũ Hoàng Nguyên -

NHỮNG HUYẾT CẦU TỔ QUỐC

Xin lỗi con!

Khi hôm qua ôm con

Có một phút giây, ba chợt xiết con vào lòng hơi mạnh

Ba làm con đau!.


Bởi hôm qua

Ba đọc câu chuyện về đồng bào mình – những huyết cầu* tổ quốc.

Máu lại tuôn…, những mảnh ván tàu…

Con ơi

Ba sẽ kể con nghe

Câu chuyện những ngư dân

Đang hóa thân thành những hồng cầu*

để Trường Sa, Hoàng Sa

Vẫn là thịt trong huyết hình tổ quốc.


Con phải khắc trong tâm

Câu chuyện những bạch cầu*:

là 58 người lính Việt Nam chết giữa Hoàng Sa.

là 64 người lính Việt Nam chết giữa Trường Sa.

Những con số sẽ không là con số

Khi ngẩng đầu: Tổ quốc 4000 năm.


Những con đường – mạch máu đất nước mình

Vết thương đạn bom vừa yên trong đất

Vọng phu còn trên nét mặt mồ côi…

Nhưng những mũi tàu vẫn xẻ trùng khơi

Nơi sóng rẽ cũng là nơi máu chuyển

Và trong mỗi người Việt mình có mạch máu nối liền với biển

Mạch máu này con phải thấy bằng tim

Nếu một ngày sóng nộ, cường lên

Giữa lòng Việt, bốn nghìn năm cũng dậy.

Thứ lỗi cho ba

Khi bài thơ đầu đời cho con, không thể bình yên!

Kẻ thù lăm le cướp biển nước mình

Đất nước bốn nghìn năm trên sóng

Đừng quên sau lời thề, lông ngỗng…

Giai nhân, huyết ngọc đổ bên trời.


Một ngày

Khi con nếm trên môi,

Con sẽ thấy máu mình vị mặn.

Bởi trong máu luôn có phần nước mắt

Ta hiểu căm thù, ta biết yêu thương.


Con sinh ra rạng rỡ một huyết cầu

Của đất nước bốn nghìn năm không ngủ

Để điều này lớn lên con hiểu

Bây giờ, ba phải kể cùng con.

Đinh Vũ Hoàng Nguyên.

* Huyết cầu: tên gọi chung cho cả hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu.


* Hồng cầu: tế bào màu đỏ mang dinh dưỡng


* Bạch cầu: tế bào miễn dịch, chống vi khuẩn

22 tháng 7, 2011

"BỒI HỒI XỐN XANG, TÀU LƯỚT SÓNG ĐƯA TÔI RA TRƯỜNG SA"...

Mai Thanh Hải Blog - Lại 1 tuần nữa trôi qua với bao lo âu, vất vả và mỏi mệt. Tặng mọi người 1 video clip rất thân thương về Trường Sa nơi đầu sóng ngọn gió. Hình ảnh do mình và 2 đồng nghiệp (Hoàng Minh - VOV, Anh Hoa - Tạp chí Thế giới Ảnh) ghi lại được trong mấy chuyến đi Trường Sa vừa rồi. Dựng video clip lại là 1 người bạn khác - Ngọc Lân, tuy làm doanh nghiệp ở Hà Nội nhưng luôn đau đáu hướng về Trường Sa, mong 1 lần được ra với Trường Sa.
----------------------------------------